91 Dien Tich Hanh Lang Bao An Tu

Tô Võ : Họ Tô tên Võ, là một vị quan Đại Học Sĩ dưới triều vua Hán Nguyên Đế bên Tàu. Điển tích nầy thường gọi là “ Tô Võ mục dương”, nghĩa là : Ông Tô Võ chăn dê. (mục là chăn nuôi, dương là con dê).

Tô Võ, tự là Tử Khanh, người đất Đỗ Lăng, làm quan dưới triều vua Hán Nguyên Đế đến chức Vũ Điện Đại Học Sĩ.

Lúc bấy giờ giặc Hung Nô nổi lên rất mạnh, thường đem binh vào đánh phá Trung nguyên. Triều đình suy nhược, không có tướng tài đủ sức chống cự với quân Hung Nô.

Quan Tể Tướng Trương văn Học tâu :

- Muôn tâu Bệ hạ, hiện nay bờ cõi rối loạn, nước ta đã hao binh tổn tướng nhiều phen mà không lui được giặc Phiên. Hạ thần thiết tưởng nên sai một viên quan lão thành, đem lời hòa hiếu mà khuyên bảo vua Phiên. Hễ nước Phiên chịu lui quân thì ta bỏ cho nó lệ triều cống, cốt làm cho muôn dân bình an, nước nhà khỏi cơn nguy biến. Xin Bệ hạ định liệu.

Vua Hán hỏi :

- Nhà ngươi nói phải, nhưng các quan trong triều, ai là người có thể đi sứ Phiên được ?

- Muôn tâu Bệ hạ, việc hòa Phiên rất trọng hệ, cần phải giữ cho nước nhà không mất thể diện, thiển nghĩ chỉ có quan Vũ Điện Đại Học Sĩ Tô Võ là người lão thành, các nước ngoài đều biết tiếng, có thể đảm nhận nhiệm vụ được.

Vua Hán phán hỏi Tô Võ rằng :

- Nay Trẫm sai ngươi đi hòa Phiên, ngươi cố khuyên vua Phiên chớ nên nghe lời tên gian tặc Mao Diên Thọ mà để cho 2 nước bất hòa. Nếu như bên Phiên chịu lui quân thì Thiên triều bãi bỏ lệ triều cống. Ngươi khá vì Trẫm chịu nhọc một phen, Trẫm sẽ hậu thưởng.

Phán xong, Hán Đế trao cho Tô Võ một đạo Thánh chỉ làm sứ giả đi hòa Phiên.

Khi Tô Võ đi qua khỏi Nhạn Môn Quan để vào nước Phiên. Vua Phiên không cho người tiếp rước, nên Tô Võ biết là việc hòa Phiên rất khó khăn. Tô Võ vào đến triều đình vua Phiên, đứng thẳng người, không quì lạy. Các quan Phiên hét :

- Sứ thần bên Hán sao thấy vua ta mà không quì lạy ?

Tô Võ quay lại mắng rằng :

- Phiên tặc, bây chỉ biết trách người sao không biết trách mình. Ta phụng chỉ Thiên triều sang đây mà vua tôi nhà ngươi không ra nghinh tiếp, đó là một điều vô lễ, lại còn trách Đại thần nhà Hán sao không lạy một ông vua Tiểu Phiên ?

Vua Phiên phì cười nói rằng :

- Vua Hán sai ngươi sang đây tất cũng biết tay Trẫm đó. Thế thì vua Hán chịu dâng nạp nàng Chiêu Quân chưa ?

Tô Võ nghe vua Phiên nói như vậy thì tức giận quát :

- Phiên tặc chớ nói càn. Chiêu Quân là Tây Cung của Thiên triều. Sao ngươi lại nghe lời của tên gian tặc Mao Diên Thọ mà mơ tưởng sự vô lý đó. Ta phụng mệnh sang đây là để nói lời phải trái làm hòa 2 nước, yêu cầu ngươi bắt ngay tên Mao Diên Thọ nộp cho Thiên triều, để từ đây 2 nước giao hòa với nhau, khỏi binh đao khổ sở dân chúng. Thiên triều cũng rộng ơn cho Phiên khỏi lệ triều cống.

- Sao ngươi nói dễ quá vậy ? Muốn giảng hòa thì vua Hán phải dâng nạp nàng Chiêu Quân cho ta, nếu không Trẫm sẽ đánh tới kinh đô nhà Hán.

- Phiên tặc, nếu ngươi cứ mơ tưởng Chiêu Quân thì không bao giờ thỏa mộng được.

- Thằng giặc già nầy hỗn láo, mau lôi nó ra chém đầu.

Thừa Tướng Vệ Luật của nước Phiên bước ra tâu :

- Xin Bệ hạ nguôi giận mà tha chết cho hắn. Vả lại 2 nước đang đánh nhau, ta không nên chém sứ giả. Xin Bệ hạ giao hắn cho hạ thần khuyên dỗ hắn đầu hàng.

Vua Phiên chấp thuận. Nhưng sau đó Vệ Luật không dụ được Tô Võ, mà lại bị Tô Võ mắng cho một trận. Vua Phiên giận bắt Tô Võ bỏ vào hang đá 3 ngày cho chết đói. Tô Võ vuốt hột sương đọng nơi ngù cờ thấm giọng nên không chết. Vua Phiên cho rằng Tô Võ có Thần nhân hộ trợ nên không dám giết, đày Tô Võ ra Mục Dương thành, bắt chăn 100 con dê đực, chừng nào dê đực đẻ con mới tha cho về nước.

Tô Võ tuổi già sức yếu, lại thiếu quần áo chống lạnh, sắp nguy tánh mạng, may nhờ một con vượn cái giúp đỡ, đem vào động đá nuôi dưỡng, các vượn nhỏ giúp chăn dắt đàn dê.

Mỗi lần mùa Đông sắp đến, chim nhạn lánh tuyết bay về phương Nam, Tô Võ viết thư buộc vào nách chim nhạn để nó bay đem về đất Trung nguyên, báo tin cho Hán Đế biết ông còn sống và hiện bị đày đi chăn dê ở phía Bắc xứ Hung Nô.

Mười sáu năm sau, quân Hán bị quân Phiên đánh bại, Hán Đế buộc phải đem Chiêu Quân cống Hồ (Phiên).

Khi nàng Chiêu Quân tới kinh đô Phiên quốc, nàng xin với vua Phiên giết chết tên gian thần Mao Diên Thọ, và thả Tô Võ trở về nước. Vua Phiên bằng lòng.

Tô Võ về đến Hán kinh thì tóc đã bạc phơ, giọng nói phều phào, vào chầu Hán Đế. Vua Hán cảm động, phong Tô Võ thăng lên 3 cấp, thưởng cho 1000 lạng vàng, và bà Châu thị, vợ của Tô Võ được phong làm Nhứt phẩm Phu Nhân.

Top of Page

2. Thần đồng vấn Khổng Tử

Thần đồng là đứa trẻ nhỏ tuổi thông minh vượt bực, có năng khiếu đặc biệt hơn hẳn các trẻ cùng tuổi. Vấn là hỏi.

Thần đồng vấn Khổng Tử là câu chuyện Thần đồng Hạng Thác hỏi Đức Khổng Tử nhiều điều mà Ngài không trả lời được, nên chịu phục Hạng Thác làm thầy.

“Đức Khổng Tử khi còn nhập thế, chưa xuất thế, ở Nhơn đạo chưa học Thiên đạo. Ngài học văn chương mà giáo huấn Nhơn đạo, dạy cang thường luân lý, sửa đương Nhơn đạo, sau Ngài học lễ với Lão Đam, cũng giáo huấn môn đồ về Nhơn đạo. Trong lúc ấy, Ngài có vợ con, thịt ăn rượu uống.

Vậy nên có câu rằng : “ Khổng Tử, Thiên sanh chơn kỳ trí, Tánh mạng công phu thỉ bất minh.Nghĩa là : Đức Khổng Tử, Trời sanh người trí lạ, Tánh mạng phép công phu, Ngài còn chưa rõ đặng.

Sau Ngài qua nước Trần, gặp Hạng Thác, chừng đó mới học qua Thiên đạo, lúc ấy mới cấm răn rượu thịt, dâm dục, y theo qui giới mà tu Thiên đạo. Nên có câu : “ Trai minh thạnh phục, Yết dục dưỡng tinh.”

Mấy lời đó, sao người học Nho không nhắc lấy mà so sánh thí cập.

Còn khi chưa xuất thế tu hành thì Ngài để kinh sách dạy theo Nhơn đạo, sửa mình mà thôi. Như vậy lấy sách dạy Nhơn đạo thí cập so sánh với Thiên đạo, sao phù hiệp đặng.

Khi Đức Khổng Tử học đạo rồi, sau Thầy Tử Cống có nói rằng : Đức Phu Tử nói văn chương thì ta hiểu rõ, còn nói qua Thiên đạo, ta nghe không hiểu.

Đó chẳng phải Đức Khổng Tử Ngài ở Nhơn đạo, sau tu qua Thiên đạo hay sao ? Nên mới nói Nhơn tâm, Đạo tâm, là 2 nẻo khác nhau.” (Trích trong Hội Lý Xiển Chơn Luận trang 42 của Ông Nguyễn văn Kinh)

Đức Khổng Tử cùng một số học trò, trên đường đi qua nước Trần, gặp một đám trẻ nhỏ chơi đùa giữa đường. Ngài ngồi trên xe nhìn đám trẻ, thấy có một cậu bé cặm cụi lấy cát đắp một cái thành nhỏ mà không đùa nghịch. Đức Khổng Tử dừng lại hỏi cậu bé :

- Sao cậu không chơi đùa với mấy đứa trẻ kia ?

Cậu bé đáp :

- Đùa giỡn thì vô ích. Sự đùa giỡn có thể làm rách quần áo, nhọc công mẹ vá khâu và làm buồn lòng đến cha, nên tôi không đùa nghịch.

Nói xong, cậu tiếp tục đắp thành. Đ. Khổng Tử lại hỏi :

- Cậu không tránh cho xe của tôi đi sao ?

Cậu bé thản nhiên đáp :

- Từ xưa đến giờ, xe phải tránh thành, chớ có bao giờ thành tránh xe.

Đức Khổng Tử nghe cậu bé trả lời hay quá, thấy cậu bé nầy có vẻ khác lạ, liền xuống xe đến gần cậu bé bàn luận nhiều việc xa xôi. Cậu bé đều trả lời xuôi rót, nhưng có tánh cách biến trá. Đức Khổng Tử trách rằng :

- Cậu hãy còn bé mà sao đã biến trá lắm vậy ?

- Người ta sanh ra 3 ngày đã biết tìm vú mẹ, con thỏ sanh ra 3 ngày đã chạy tung tăng trên đồng nội, con cá sanh ra 3 ngày thì biết xuôi ngược khắp sông hồ. Đó là tánh tự nhiên, sao gọi là biến trá ?

- Cậu ở xóm nào, làng nào, cha mẹ ở đâu ?

- Tôi sanh tại đây, họ Hạng tên Thác, chưa có tên tự.

- Ta muốn cậu cùng đi chơi với ta, ý cậu thế nào ?

- Trong nhà tôi còn có cha, cần phải phụng, còn có mẹ cần phải dưỡng, có anh để phụ tùng, có em phải dạy dỗ, còn có thầy để học hỏi, đâu có rảnh để đi chơi với ông.

- Trong xe ta có sẵn 32 con cờ, ta muốn cùng cậu đánh cờ, cậu có bằng lòng không ?

- Thiên tử mê cờ thì bốn biển không người gìn giữ, chư Hầu mê cờ thì chính sự không an, nho sĩ mê cờ thì việc học đình trệ, nông phu mê cờ thì quên việc cày cấy, vì thế tôi không đánh cờ.

- Ta muốn cùng cậu đàm luận việc bình trị thiên hạ, cậu có bằng lòng không ?

- Chuyện thiên hạ khỏi phải bình, vì hoặc như núi cao, hoặc như sông hồ, hoặc như vương hầu, hoặc như nô tỳ. Nếu san bằng núi thì chim chóc không nơi trú ngụ, lấp bằng sông hồ thì cá nhờ đâu bơi lội, bỏ chức vương hầu thì dân không người trị, bỏ nô tỳ thì chủ nhân không có người để sai khiến, thế nên tôi không bình luận việc thiên hạ.

Đức Khổng Tử lại hỏi :

- Lửa nào không khói ? Nước nào không cá ?

Núi nào không đá ? Cây gì không cành ?

Người nào không vợ ? Ai kẻ không chồng ?

Trâu nào không nghé ? Ngựa nào không con ?

Trống nào không mái ? Mái nào không trống ?

Ai là quân tử ? Ai kẻ tiểu nhân ?

Vật gì không đủ ? Vật gì có thừa ?

Thành nào không chợ ? Người nào không con ?

Cậu bé Hạng Thác liền đáp :

- Lửa đôm đốm không khói. Nước giếng không cá.

Núi đất không đá. Cây khô không cành.

Tiên Ông không vợ. Ngọc Nữ không chồng.

Trâu đất không nghé. Ngựa gỗ không con.

Trống độc không mái. Mái độc không trống.

Hiền là quân tử. Kẻ dại tiểu nhân.

Ngày Đông không đủ. Ngày Hạ có thừa.

Hoàng thành không chợ. Đứa trẻ không con.

Sau khi Hạng Thác trả lời xong, Đức Khổng Tử hỏi tiếp :

- Cậu có biết gì về lẽ Đạo hằng của Trời Đất ?

Sự cuối cùng của Âm Dương ?

Đâu là phải ? Đâu là trái ?

Đâu là trong ? Đâu là ngoài ?

Ai là Cha ? Ai là Mẹ ?

Ai là chồng ? Ai là vợ ?

Gió từ đâu đến ? Mây từ đâu ra ?

Sương từ đâu có ? Trời Đất xa nhau mấy dặm ?

Cậu bé Hạng Thác liền trả lời :

- 9 lần 9 chu kỳ là 81. Ấy là đạo của Trời Đất.

8 lần 9 là 72. Ấy là Âm Dương cùng cuối.

Tây là phải. Đông là trái.

Trong là lý. Ngoài là biểu.

Trời là Cha. Đất là Mẹ.

Mặt Trời là chồng. Mặt Trăng là vợ.

Gió từ cây xao động. Mây trong núi bay ra.

Sương từ đất dậy. Trời Đất xa nhau ngàn ngàn

vạn vạn dặm.

Cậu bé Hạng Thác đã trả lời đầy đủ các câu hỏi của Đức Khổng Tử. Bây giờ cậu bé xin thỉnh giáo Đức Khổng Tử đôi điều :

- Thưa Ngài, vịt ngỗng sao nổi trên mặt nước ?

Chim hồng chim nhạn sao lại kêu to ?

Tùng bách sao ngày Đông vẫn xanh lá ?

Đức Khổng Tử đáp rằng :

- Vịt ngỗng vì chân nó banh mà nổi bơi trên mặt nước.

Chim hồng chim nhạn kêu to là vì cổ nó dài.

Tùng bách ngày Đông xanh lá là vì ruột nó đặc.

Cậu bé Hạng Thác cười nói rằng :

- Chắc không hẳn như vậy đâu.

Tôm cá vẫn nổi trên mặt nước mà chân nó có banh đâu.

Ễnh ương, ếch nhái kêu to mà cổ của nó có dài đâu.

Cây trúc rổng ruột mà ngày Đông vẫn xanh lá.

Sau khi bắt bẻ các câu trả lời của Đức Khổng Tử, Thần đồng Hạng Thác hỏi tiếp :

- Trên bầu Trời có sao lấp lánh, vậy thưa Ngài có tất cả bao nhiêu vì sao ?

- Chuyện dưới đất không thiếu gì sao lại hỏi chuyện trên Trời.

- Vậy dưới đất nhà cửa san sát có bao nhiêu ngôi nhà ?

Đức Khổng Tử lại nói rằng :

- Ta nên nói ngay chuyện trước mắt có phải là thực tế hơn không, cần gì nói chuyện Trời Đất.

- Vậy thưa Ngài nếu bàn chuyện trước mắt thì Ngài cho biết lông mày có bao nhiêu sợi ?

Đức Khổng Tử không trả lời, chỉ biết cười mà thôi.

Ngài quay lại nói cùng các học trò rằng : “ Hậu sanh khả úy.” (kẻ sanh sau đáng sợ thật). Đó là kẻ rất khó tìm thấy trong thiên hạ. Nói xong Ngài trở lên xe đi thẳng.

Bài thi : Thần đồng vấn Khổng Tử :

Hưu khi niên thiếu thông minh tử,

Quảng hữu anh tài trí quá nhân.

Đàm luận thế gian vô hãn sự,

Phân minh Cổ Thánh hiện kỳ thân.

Tạm dịch :

Đừng khinh tuổi trẻ bậc Thần đồng,

Có lắm anh tài trí quảng thông.

Luận việc thế gian không giới hạn,

Thánh xưa hiện rõ thể vừng đông.

Tối hôm ấy, Đức Khổng Tử ngồi thẩn thờ trước án, ngọn đèn bạch lạp lụn tàn. Tử Lộ mạo muội vào hỏi thầy :

- Thầy trầm tư về cuộc tranh luận với Hạng Thác ? - Phải.

- Thầy không vui vì mình yếu lý ? - Không.

Thấy Tử Lộ có ý hồ nghi, nên Đức Khổng Tử nói tiếp :

- Nầy Do, bình sanh ta đi chu du thiên hạ để truyền bá Nhơn đạo, mặt luôn luôn hướng thẳng, lòng sáng tợ gương, ý thành, ngôn chánh. Còn miệng lưỡi của Hạng Thác là miệng lưỡi của phường biện sĩ, nên có thể chứng minh ngựa trắng không phải là ngựa trắng. Khi xướng thuyết Liên Hoành cũng thuận, mà bày kế Hợp Tung cũng thông. Xét từ bản chất của ngôn ngữ, cuộc tranh luận vừa qua cũng như nước chảy dòng đôi, xa trăm ngàn đợt sóng nhấp nhô, nhưng kỳ thật không lượn lớn lượn nhỏ nào va chạm. Do làm sao hiểu được !

(Tử Lộ là học trò giỏi của Đ. Khổng Tử, tên Trọng Do, kêu tắt là Do)

Tử Lộ hỏi : - Vậy cớ nào thầy buồn ?

- Ta buồn vì có Khổng Khâu mà còn phường biện sĩ. Hạng Thác nhắc cho ta nhớ đến vai trò của kẻ biện sĩ. Biện sĩ chỉ thuyết cho sự lợi ích mà không thuyết cho Chơn Lý. Khắp thiên hạ, kẻ cầu lợi đông như kiến cỏ, người hướng về Chơn Lý đốt đuốc khó tìm.Thế sự trôi chảy không ngừng. Chánh đạo của ta liệu truyền lưu được bao lâu nữa ? Đó chẳng phải là điều đáng buồn hay sao ?

Tử Lộ toan lui ra, Đức Khổng Tử kêu lại hỏi :

- Trò Do, trò còn nhớ người hiền nước Sở ?

- Bẩm, có phải là Sở cuồng Tiếp Dư ca hát nghêu ngao.

- Trò còn nhớ 2 ẩn sĩ họ Kiệt, họ Tràng ?

- Bẩm, có phải 2 lực điền ở giáp ranh Sở, Thái ?

- Họ khuyên ta bỏ đi việc chính sự lụy phiền, để làm người tỵ thế. Khuyên ta : Trời không hề nói gì mà vạn vật điều hòa. Ta cũng muốn êm lời, nhưng gặp việc nghĩa mà không làm, biết Chơn Lý mà không nói thì phải sống với đồng loại hay sống với chim muông !

Tử Lộ ra ngoài nói với các bạn : Thầy nói : Hậu sinh khả úy. Không phải sợ kẻ sanh sau tài giỏi hơn mình, mà sợ họ làm sai lạc Chánh lý bằng ngoa ngôn xảo ngữ vị lợi đó thôi.

Top of Page

3. Tôn Tẫn tầm sư học đạo

Tôn Tẫn là người nước Yên, cha là Tôn Tháo, mẹ là Công chúa Yên Đơn, ông nội là Tôn Võ Tử.

Công chúa Yên Đơn thọ thai 48 tháng mới sanh ra Tôn Tẫn. Lúc sanh ra là lúc Công chúa Yên Đơn đương bị khổn trong trận do Hỗn Thiên Tán của Túy Vân, nên nằm bất tỉnh rồi lâm bồn đúng giờ Tý tại núi Kinh Kha nước Yên.

Lúc Tôn Tẫn lên 9 tuổi thì Tôn Tháo mất, Tôn Kiều là chú đang làm Quan Đại Phu nước Tề đem Tôn Tẫn về nuôi dưỡng. Sau đó Tôn Kiều gặp nạn, phải lánh sang nước Châu, gia đình sa sút, Tôn Tẫn phải đi làm thuê sinh sống.

Tôn Tẫn lớn lên, nghe đồn Quỉ Cốc Tiên Sinh có tài cao phép lạ, nên tìm đến xin thọ giáo. Nguyên ở Dương Thành thuộc địa phận nhà Châu, có một chỗ gọi là Quỉ Cốc, vì nơi ấy có núi cao rừng rậm, âm khí nặng nề. Trong núi ấy có một ẩn sĩ họ Vương tên Hủ, trước ở núi Vân Mộng cùng Mặc Địch hái thuốc, tu Tiên, sau đến ẩn nơi Quỉ Cốc, nên người ta thường gọi là Quỉ Cốc Tiên sinh.

Quỉ Cốc Tiên sinh có học vấn uyên bác, tu Tiên đắc đạo, tinh thông lý số, thông hiểu lẽ huyền vi của Trời Đất, lại cũng tinh thông binh thơ đồ trận.

Học trò của Quỉ Cốc Tiên sinh có nhiều người tài giỏi như : Tôn Tẫn, Bàng Quyên, Tô Tần, Trương Nghi, vv . . . Tôn Tẫn và Bàng Quyên thì học về binh pháp. Còn Tô Tần và Trương Nghi thì học về du thuyết.

Bàng Quyên học được 3 năm, tự cho mình đã giỏi rồi, nên xin thầy cho xuống núi đi lập công danh.

Quỉ Cốc bảo Bàng Quyên đi hái một cành hoa đem vào đây để thầy đoán vận mạng cho. Bàng Quyên đi ra khỏi động, nhằm lúc khí Trời nóng nực, cây cối không ra hoa, chỉ thấy một bông hoa cỏ, liền nhổ lên cả gốc, toan đem trình thầy, bỗng nghĩ rằng bông hoa nầy mềm yếu và không đẹp nên ném xuống đất, rồi đi tìm hoa khác, nhưng không tìm được cành hoa nào, đành trở lại chỗ cũ, nhặt cành hoa đã bỏ lúc nảy, bỏ vào túi áo, rồi vào trình thầy rằng :

- Trong núi mùa nầy không có hoa.

- Không có hoa thì vật gì trong túi áo của ngươi đó ?

Bàng Quyên không giấu được, buộc phải đưa ra trình.

- Nhà ngươi có biết cái hoa nầy tên gì không ? Nó là hoa Mã Đâu Linh, mỗi lần nở 12 bông, ứng với số năm vẻ vang của ngươi. Hoa nầy hái ở Quỉ Cốc, thấy mặt Trời thì héo, bên chữ QUỈ ( ) có chữ ỦY ( ) thành chữ NGỤY ( ) , nhà ngươi xuất thân ở nước Ngụy. Sau nầy nhà ngươi vì việc lừa dối người mà bị người lừa dối lại. Vậy nên lấy điều đó mà răn mình. Ta có 8 chữ nầy, nhà ngươi khá nhớ : “ Gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng.”

Bàng Quyên lạy thầy 2 lạy nói rằng :

- Lời giáo huấn của thầy, đệ tử hết lòng ghi nhớ.

Tôn Tẫn tiễn Bàng Quyên xuống chơn núi.

Bàng Quyên nói :

- Đệ cùng huynh kết nghĩa anh em, thề giàu sang cùng hưởng, khốn nàn cùng gánh. Chuyến đi nầy nếu đệ lập được công danh thì sẽ tiến cử huynh để cùng lập cơ nghiệp.

Hai người chia tay, Tôn Tẫn buồn rớm nước mắt, trở lên núi. Quỉ Cốc Tiên Sinh hỏi Tôn Tẫn :

- Ngươi bảo cái tài của Bàng Quyên làm được Đại Tướng không ?

- Nhờ ơn thầy dạy bảo đã lâu, lẽ nào Bàng Quyên không làm được Đại Tướng ?

- Không làm được, nhứt định không làm được.

Tôn Tẫn nghe thầy nói vậy thì lấy làm lạ nhưng không dám hỏi thầy lý do. Hôm sau, Quỉ Cốc bảo các học trò :

- Ban đêm, ta rất khó ngủ, ta rất ghét tiếng chuột kêu. Các trò phải luân phiên nhau thức mà đuổi chuột cho ta.

Các trò đều vâng lời, chia phiên thức gác. Tới phiên Tôn Tẫn, Tiên sinh lấy một quyển sách trao cho Tôn Tẫn nói :

- Đây là 13 thiên binh pháp của ông nội nhà ngươi tên là Tôn Võ Tử, xưa đem dâng cho vua Hạp Lư nước Ngô, nhờ đó mà Hạp Lư phá tan quân Sở. Hạp Lư giữ cuốn sách nầy làm gia bảo, bỏ vào hộp sắt, giấu vào cột Cô Tô Đài. Từ khi quân nước Việt đốt Cô Tô Đài, cuốn sách ấy mất tích luôn.Ta có chơi thân với ông nội ngươi, nên được xem sách ấy, ta nhớ và ghi lại, tự tay ta chú giải thêm nhiều điều bí mật trong cách hành binh. Ta chưa từng cẩu thả giao sách cho ai, nay thấy ngươi trung hậu, nên ta giao cho ngươi học, trong 3 ngày giao lại cho ta. Học cuốn sách nầy, khéo dùng thì làm lợi cho thiên hạ, không khéo dùng thì hại rất lớn. Bàng Quyên không là người tốt, nên ta không dạy.

Tôn Tẫn đem sách về phòng, ngày đêm nghiền ngẫm, trong 3 ngày thì nằm lòng. 3 ngày sau, Tôn Tẫn đem sách nộp cho thầy. Tiên sinh theo từng thiên hỏi lại Tôn Tẫn, Tôn Tẫn đối đáp rất trôi chảy. Tiên sinh mừng rỡ nói :

- Ngươi biết dụng tâm như thế, Tỗ phụ ngươi dầu đã qua đời chắc rất vui lòng.

Nói về Bàng Quyên, xuống núi thẳng đến nước Ngụy, vào cầu quan Tướng Quốc Vương Thác. Vương Thác tiến cử Bàng Quyên lên vua Ngụy Huệ Vương. Khi Bàng Quyên vào chầu vua, gặp lúc nhà bếp dâng lên món thịt dê. Bàng Quyên mừng thầm vì nhớ lời thầy dặn, gặp dê thì vinh.

Bàng Quyên được Huệ Vương trọng dụng, lần lần phong lên đến chức Nguyên Soái, kiêm Quân Sư. Con trai là Bàng Anh, cháu là Bàng Thông, Bàng Mai đều được vua phong làm Tướng, cả nhà vinh hiển.

Lúc bấy giờ có Mặc Địch ghé Quỉ Cốc thăm bạn cũ là Vương Hủ (Quỉ Cốc Tiên sinh), Mặc Địch gặp Tôn Tẫn, đàm luận rất hợp ý, bèn bảo Tôn Tẫn :

- Anh học nghệ đã thành, sao không đi lập công danh ?

- Tôi có người bạn học là Bàng Quyên, đã ra làm quan ở nước Ngụy, có hẹn khi nào đắc chí sẽ tiến cử tôi, nên tôi đợi.

- Bàng Quyên đã làm Nguyên soái nước Ngụy, để tôi vì anh mà đến đó dọ ý Bàng Quyên thế nào ?

Mặc Địch từ giã Quỉ Cốc rồi đi vào nước Ngụy, nghe Bàng Quyên cậy tài, nói quá không biết thẹn, không có ý tiến cử Tôn Tẫn. Mặc Địch vào nói cho Huệ Vương rõ các việc. Huệ Vương liền đòi Bàng Quyên đến hỏi :

- Ta nghe nói Tôn Tẫn cùng học một thầy với Nguyên soái, lại được học riêng binh pháp bí truyền của Tôn Võ Tử, tài giỏi không ai bằng, sao Nguyên soái chẳng vì Quả nhân mà tiến cử người ấy đến giúp Trẫm.

- Tâu Bệ hạ, hạ thần không phải không biết tài của Tôn Tẫn, nhưng Tôn Tẫn là người nước Tề, nay làm quan nước Ngụy thì thế nào cũng liên lạc với Tề. Nay Bệ hạ muốn triệu Tôn Tẫn thì hạ thần xin viết thơ gọi đến.

Bàng Quyên ở vào thế buộc phải viết thơ gọi Tôn Tẫn, nhưng thâm tâm rất sợ Ngụy Vương trọng dụng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên thầm tính kế hại Tôn Tẫn.

Bàng Quyên viết thơ xong, Huệ Vương dùng xe Tứ Mã và đồ lễ long trọng, sai người đến Quỉ Cốc rước Tôn Tẫn.

Tôn Tẫn tiếp được thơ của Bàng Quyên, vội đem trình thầy. Tiên sinh bảo Tôn Tẫn đi hái một cành hoa để bói coi tốt xấu. Tôn Tẫn thấy bình hoa trên án có một cành hoa cúc, bèn đến rút lấy đem trình thầy, rồi đem cắm trở lại vào bình.

Tiên sinh đoán rằng : Cành hoa nầy bị bẻ, không hoàn hảo, nhưng tánh chịu rét, dẫu có bị tàn hại cũng không hề gì. Vả cắm trong bình, mọi người đều quí trọng, mà cái bình ấy lại là vàng đúc cùng một loại với chung đỉnh, chắc rồi sẽ có tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng cành hoa nầy 2 lần cất nhắc lại cắm vào bình, vậy sự nghiệp của ngươi chưa thể đắc ý ngay được, mà kết cuộc sẽ làm nên ở quê mình. Vậy ta đổi tên cho, có thể mong tiến thủ được. Tên ngươi là TÂN ( ) , ta thêm một chữ NHỤC ( ) ở bên tả thành chữ TẪN ÂÁ , vậy tên của ngươi là Tôn Tẫn ( ) . (Tân là khách, Tẫn là bị chặt xương đầu gối) Tiên sinh đổi tên như thế là vì Tiên sinh biết trước học trò mình bị cái hoạ chặt chưn, nhưng không dám tiết lộ.

Khi Tôn Tẫn lạy thầy từ biệt, Thầy trao cho một bức cẩm nang, dặn kỹ khi nào gặp việc nguy cấp mới mở ra xem. Tôn Tẫn lạy tạ thầy lần nữa, rồi xuống núi, lên xe Tứ Mã thẳng đến nước Ngụy, tạm ở trong phủ của Bàng Quyên.

Bàng Quyên biết Tôn Tẫn tài giỏi hơn mình, sợ Ngụy Vương dùng Tôn Tẫn, bỏ rơi mình, nên Bàng Quyên, ngoài mặt giả đò anh em thân thiết, nhưng ngầm lập kế ám hại Tôn Tẫn. Bàng Quyên giả mạo chứng cớ, cáo buộc Tôn Tẫn tư thông nước Tề để hại nước Ngụy. Huệ Vương nghe lời sàm tấu của Bàng Quyên, bắt Tôn Tẫn chặt chưn và thích vào trán 4 chữ “ Tư Thông Ngoại Quốc ”.

Tôn Tẫn trở thành phế nhân, mỗi ngày chịu ơn Bàng Quyên cung cấp 3 bữa ăn. Bàng Quyên lại dùng thủ đoạn để gạt người bạn cũ chép 13 thiên binh pháp truyền lại cho mình.

Tôn Tẫn vì lầm gian kế của Bàng Quyên nên rất khổ sở, quá chán nãn cho tình người đen bạc, lại bị vết thươngchặt chưn hành hạ quá đau đớn, muốn tìm kế thoát thân, nhưng chưa biết phải làm sao, sực nhớ bức cẩm nang thầy ban cho, liền bí mật mở ra xem, thấy thầy đề 2 chữ : Giả điên.

Buổi chiều hôm ấy, khi mâm cơm đưa tới, Tôn Tẫn cầm đủa định ăn, bỗng làm ra dáng mê man, nôn oẹ, hồi lâu nổi giận giương mắt hét to lên rằng : Mày dùng thuốc độc hại ta, rồi hất đổ mâm cơm xuống đất, miệng lảm nhảm chửi hoài.

Bàng Quyên được lính hầu báo cho biết việc Tôn Tẫn nổi điên thì không tin, đến tận nơi xem xét và nhốt Tôn Tẫn vào chuồng heo, đem cơm đến cho ăn. Tôn Tẫn lại hét : “ Mày lại đem thuốc độc đến hại ta à ?” Nói rồi gạt mâm cơm đổ xuống đất. Tên lính hầu nhặt cơm cho chó ăn, lấy một cục bùn đưa Tôn Tẫn thì Tôn Tẫn liền lấy ăn ngay.

Bàng Quyên tin chắc Tôn Tẫn điên thật nên không lấy làm lo, dần dần thả lỏng Tôn Tẫn muốn đi đâu thì đi, nhưng ra lịnh cho người theo dõi, mỗi sáng phải trình báo cho biết Tôn Tẫn hiện đang ở đâu.

Bấy giờ Mặc Địch sang chơi nhà Điền Kỵ nước Tề. Có người học trò tên Cầm Hoạt ở nước Ngụy đến. Mặc Địch hỏi thăm Cầm Hoạt lúc nầy Tôn Tẫn có đắc ý không ? Cầm Hoạt thuật lại việc Tôn Tẫn bị chặt chưn và trở nên điên khùng.

Mặc Địch nói :

- Ta muốn tiến cử hắn nào ngờ lại thành ra hại hắn.

Mặc Địch liền nói rõ tài học của Tôn Tẫn cho Điền Kỵ nghe và việc Bàng Quyên ganh tài ám hại Tôn Tẫn, khuyên Điền Kỵ tìm cách rước Tôn Tẫn sang Tề. Điền Kỵ vào tâu với vua Tề là Tề Uy Vương. Uy Vương muốn đem binh đón Tôn Tẫn thì Điền Kỵ can, nói phải lập kế mới rước Tôn Tẫn được.

Uy Vương sai Thuần Vu Khôn sang Ngụy dâng trà, đem Cầm Hoạt đi theo giả làm kẻ hầu. Qua đến Ngụy, Cầm Hoạt bí mật đi tìm Tôn Tẫn, rồi mướn người khác giả làm Tôn Tẫn, đặng rước Tôn Tẫn thật về Tề.

Thuần Vu Khôn và Cầm Hoạt đưa được Tôn Tẫn ra khỏi nước Ngụy thì đi thẳng về Lâm Tri, có Điền Kỵ thân hành ra đón. Tề Uy Vương rất mừng, muốn phong Tôn Tẫn làm Quân Sư, nhưng Tôn Tẫn tâu rằng :

- Hạ thần chưa có chút công chi nên chưa dám nhận quan tước. Vả nếu Bàng Quyên biết thần làm quan cho Tề ắt lo đề phòng, chi bằng tạm giấu đi mới dễ bề hành động.

Uy Vương bằng lòng, cho Tôn Tẫn ở trong dinh Điền Kỵ, tôn là thượng khách.

Lúc đó, Ngụy Huệ Vương sai Bàng Quyên đi đánh nước Triệu để đòi đất Trung Sơn. Quân Triệu bị thua. Triệu Thành Hầu cầu Tề cứu viện. Tề Uy Vương định phong Tôn Tẫn làm Đại Tướng đem binh cứu Triệu. Tôn Tẫn tâu rằng :

- Hạ thần là kẻ tàn phế, nếu cho làm Đại Tướng e cho quân địch sẽ cười Tề không có tướng tài, chi bằng Đại Vương cử Điền Kỵ làm Tướng, và hạ thần bí mật theo giúp mưu kế.

Tề Uy Vương cử Điền Kỵ làm Đại Tướng, Tôn Tẫn làm Quân Sư bí mật ở trong xe, kéo đại binh cứu Triệu.

Điền Kỵ muốn đem quân thẳng đến Hàm Đan là kinh đô của Triệu. Tôn Tẫn nói : Tướng nước Triệu không đánh nổi Bàng Quyên, nên khi ta kéo quân đến đó thì Hàm Đan đã mất về tay quân Ngụy rồi, chi bằng ta cứ đóng quân giữa đường, rêu rao nói rằng ta đi đánh Tương Lăng của Ngụy. Huệ Vương lo sợ, ắt phải gọi Bàng Quyên trở về giữ Tương Lăng. Bấy giờ ta đón đánh Bàng Quyên thì thế nào cũng thắng.

Điền Kỵ y theo kế đó mà làm. Quả đúng như lời Quân Sư Tôn Tẫn, Bàng Quyên kéo binh về giữ Tương Lăng. Điền Kỵ bày binh theo cách của Tôn Tẫn, đánh Bàng Quyên một trận tơi bời, Bàng Quyên ban đêm chạy trốn về Ngụy.

Năm sau, Bàng Quyền cùng Thái Tử Thân đem binh đánh nước Hàn. Hàn sang cầu cứu Tề. Tề Uy Vương cử Điền Kỵ và Tôn Tẫn đi cứu Hàn.

Điền Kỵ muốn kéo quân đến nước Hàn. Tôn Tẫn nói :

- Không nên, trước kia ta cứu Triệu mà chưa hề đến Triệu, nay cứu Hàn cũng y theo kế hoạch đó. Cái thuật giải cứu Hàn là phải đánh vào nơi yếu trọng của Ngụy thì quân Ngụy tất phải kéo về. Cái kế ngày nay là phải đem binh thẳng đến kinh đô Ngụy thì mới cứu được Hàn.

Bàng Quyên đang thắng thế ở nước Hàn, nhưng Ngụy Huệ Vương ra lịnh cho Bàng Quyên phải tức tốc rút binh về đón đánh quân Tề đang thừa cơ kéo đến đánh kinh đô của Ngụy. Tôn Tẫn bày kế lừa Bàng Quyên. Quân Tề làm như sợ hãi khi biết Bàng Quyên kéo quân trở về Ngụy. Ban đầu làm 10 vạn bếp, sau đó rút quân như bỏ chạy, hôm sau làm 6 vạn bếp, hôm sau rút chạy nữa, chỉ còn làm 3 vạn bếp.

Bàng Quyên cho quân quan sát các bếp của quân Tề, cười lớn nói với Thái Tử Thân :

- Thật là hồng phúc của Ngụy Vương, quân Tề hèn nhát, vào đất Ngụy có 3 ngày mà binh sĩ bỏ trốn quá nửa. Kỳ nầy, Quyên sẽ bắt sống bọn Điền Kỵ để rửa cái hận Tương Lăng năm trước.

Nói xong, Bàng Quyên chọn 2 vạn tinh binh tiến gấp đánh quân Tề, còn đại binh từ từ đi sau.

Tôn Tẫn dọ biết tin đó, tính toán và dự kiến đoàn quân của Bàng Quyên sẽ đến Mã Lăng vào lúc tối. Đường Mã Lăng ở giữa hai trái núi có cây cối um tùm, rất dễ phục binh. Tôn Tẫn sai chặt cây ngã ngang để chẹn lối đi, chỉ chừa một cây to giữa đường, cho cạo sạch một một ô vuông vỏ cây ở phía Đông, rồi dùng than viết lên đó mấy chữ : “ Quân Sư Tôn bảo : Bàng Quyên chết tại cây nầy.

Tôn Tẫn sai bộ tướng Viên Đạt, Độc Cô Trần, kén 5000 quân cung nỏ, mai phục 2 bên tả hữu Mã Lăng, dặn kỹ hễ nơi gốc cây có ánh lửa phát ra thì nhất tề nhắm vào đó bắn.

Lại sai Điền Anh dẫn 1 vạn quân mai phục cách Mã Lăng 3 dặm chẹn đường quân Ngụy.

Tôn Tẫn phân phát binh xong thì cùng Điền Kỵ dẫn binh còn lại lên đóng phía Bắc để dự bị tiếp ứng.

Bàng Quyên kéo binh đến Mã Lăng thì Trời vừa tối, thấy cây cối bị đốn ngã nằm ngổn ngang, cho rằng quân Tề sợ quân Ngụy đuổi theo kịp nên đốn cây cản đường như thế.

Bàng Quyên cho thu dọn cây cối, bỗng thấy có một cây giữa đường, gần nơi gốc đẽo trắng, có viết chữ nhưng Trời tối không thấy rõ. Bàng Quyên sai một tên lính châm lửa lên xem, Bàng Quyên đọc xong mấy chữ thì la lên :

- Ôi ! Ta mắc mưu thằng què rồi !

Vừa la xong thì có cả muôn mũi tên từ nỏ bắn ra, quân Ngụy chết thôi vô số. Bàng Quyên bị loạn tên trọng thương, liệu không thoát được, bèn rút kiếm tự đâm cổ chết.

Cuộc đời của Bàng Quyên đúng y như lời của Quỉ Cốc Tiên Sinh đã nói trước : Ngươi sẽ vì lừa người mà bị người lừa lại, gặp dê thì vinh, gặp ngựa thì hỏng. Bàng Quyên chết tại Mã Lăng. (Mã là ngựa).

Giết xong Bàng Quyên rồi, Tôn Tẫn xin với vua Tề cho về ẩn dật tu luyện ở núi Thạch Lư. Một năm sau, không còn ai biết Tôn Tẫn ở đâu nữa. Sau nầy được biết Tôn Tẫn tu thành Tiên, hiệu là Liễu Nhứt Chơn Nhơn, ở động Thiên Thai.

Sau đây là bài thi của Liễu Nhứt Chơn Nhơn giáng cơ tại Phạm Nghiệp, ngày 4-12-Ất Hợi (dl 29-12-1935), Đức Hộ Pháp và Ngài Cao Tiếp Đạo phò loan :

Thiên Thai văng vẳng tiếng tri âm,

Đạp máy âm dương đến cõi phàm.

Lược sách binh thơ dâng bửu bối,

Bao trùm hậu khí giúp nhà Nam.

Hộ Pháp Thiên Tôn, xin nghe thi :

Địa hoàn chuyển biến đổi dư đồ,

Diệt tận văn minh của đạo Tô.

Phân đảnh Á Âu chia Bắc Hải,

Lập triều Anh Mỹ đóng Tây đô.

Hoàng quyền nghiêng ngửa chiều dân quốc,

Đế Pháp chơi vơi thấy bạch cờ.

Thắng bại một trường lưu huyết trận,

Thừa nguy Việt mới định xa thơ.

Top of Page

4. Phật Nhiên Đăng - Công Chúa Diệu Thiện

Theo các kinh sách truyền lại thì Đức Quan Thế Âm Bồ Tát có 33 kiếp giáng trần, khi thì làm nam nhi, khi thì làm thiếu nữ, khi thì giáng sanh vào nhà cao sang quyền quí, khi thì vào nơi bần cùng khốn khổ.

Có 2 kiếp giáng trần làm phụ nữ của Ngài được người đời truyền tụng. Đó là kiếp thứ 10, Ngài giáng trần là Thị Kính ở nước Cao Ly, tu hành đắc đạo gọi là : Quan Âm Thị Kính. Kiếp chót Ngài giáng trần ở Ấn Độ là Công Chúa Diệu Thiện, cũng tu hành đắc đạo gọi là : Quan Âm Diệu Thiện.

Công Chúa Diệu Thiện là con của vua Linh Ưu, nước Hưng Lâm, một tiểu quốc của Ấn Độ, ở về phía Đông.

Từ ngày nhà vua lên ngôi đến nay đã 40 năm mà Hoàng Hậu Bửu Đức không sanh đứa con nào. Nhà vua cùng Hoàng Hậu lên núi Huê Sơn cầu tự. Ít lâu sau, Hoàng Hậu thọ thai sanh được một nàng Công Chúa, đặt tên Diệu Thanh. Sau đó lại tiếp tục có thai sanh ra Công Chúa Diệu Âm và Công Chúa Diệu Thiện.

Ba nàng Công Chúa lớn lên, nhà vua định hôn cho 2 nàng Diệu Thanh và Diệu Âm với 2 vị quan tài giỏi của triều đình, còn nàng Diệu Thiện thì nhứt định không chịu lấy chồng, mà lại xin phép vua cha cho xuất gia tu hành.

Vua Linh Ưu không bằng lòng, đày nàng vào Huê Viên gánh nước tưới hoa cực khổ, đồng thời nhờ người khuyến dụ nàng bỏ ý định đi tu, nghe lời vua cha, chịu lấy chồng. Nhưng nàng nhứt định không đổi ý, khiến vua Linh Ưu tức giận.

Hoàng Hậu rất đau lòng, xin vua cho Diệu Thiện vào tu ở chùa Bạch Tước. Vua chấp thuận nhưng ngầm ra lịnh cho các tăng ni trong chùa, bắt Diệu Thiện làm những công việc nặng nhọc, để nàng ngã lòng, sớm trở về cung nội.

Diệu Thiện vẫn rán sức làm đầy đủ bổn phận, dầu rất cực khổ nhưng không cất tiếng than.

Nhà vua thấy cách nầy thất bại nên sai quân lính đốt chùa để Diệu Thiện không còn nơi tu hành. Các tăng ni hốt hoảng lo chạy thoát thân, Công Chúa Diệu Thiện vẫn bình tỉnh, nàng cầu nguyện rồi rút trâm chích lưỡi phun máu lên không trung. Tức thì mây đen hiện ra, giây lát mưa tuôn xối xả dập tắt đám lửa. Quân lính đều kinh ngạc.

Nhà vua không vì sự mầu nhiệm đó mà hối hận việc làm, lại bắt Diệu Thiện về triều, tổ chức các cuộc đàn hát vui chơi cho Diệu Thiện say mê, bỏ việc tu hành. Nhưng vua cha vẫn thất bại trước đạo tâm vững chắc của nàng Công Chúa út.

Quá tức giận, vua Linh Ưu ra lịnh tối hậu cho Công Chúa Diệu Thiện phải chọn 1 trong 2 điều : Một là nghe lời vua cha lập gia thất, bỏ việc tu hành; hai là chịu xử trảm.

Diệu Thiện nhứt quyết chịu chết chớ không bỏ tu hành.

Thần Hoàng bay về Trời tâu bày cho Thượng Đế rõ, và Đức Thượng Đế ra lịnh cho Thần phải lo bảo hộ Diệu Thiện.

Diệu Thiện bị đưa ra pháp trường hành quyết. Khi đao phủ đưa đao lên định chém thì đao gãy nát, lại lấy cung ra bắn tên cho chết thì tên vừa tới Diệu Thiện, tên bỗng gãy làm hai. Kẻ hành quyết không giết được Diệu Thiện bằng 2 cách trên, liền đến siết cổ Diệu Thiện.

Bỗng cuồng phong nổi lên, cát bay đá chạy, Thần Hoàng hóa thành mãnh hổ cõng Diệu Thiện chạy tuốt vào rừng. Các quan giám sát bị một phen kinh khủng, trở về triều tâu lại. Vua Linh Ưu không chút nao núng, nói Công chúa bất hiếu nên bị cọp tha mất xác.

Công Chúa Diệu Thiện tỉnh dậy thấy mình đang nằm trong rừng vắng vẻ, không biết phải làm sao và đi phương nào.

Đức Phật Nhiên Đăng hiện ra đứng trên mây, bảo nàng Diệu Thiện hãy đi ra Nam Hải, đến núi Phổ Đà tu hành thêm thì sau nầy sẽ đắc quả Như Lai. Muốn đến đó phải trải 3000 dặm đường. Đức Phật tặng nàng một trái Đào Tiên, ăn vào không biết đói khát trọn năm, mà còn được khỏe mạnh.

Diệu Thiện thọ lãnh và bái tạ Phật, tìm đường đi Nam Hải. Thái Bạch Kim Tinh hiện xuống, truyền Thần Hoàng biến ra Thần hổ, cõng Diệu Thiện đến Phổ Đà Sơn. Tại đây, Diệu Thiện tu thiền định 9 năm, đạo pháp đạt được cao siêu.

Ngày 19 tháng 2 năm ấy, là ngày thành đạo của Công Chúa Diệu Thiện, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đến chúc mừng và xưng tụng công đức của một vị Bồ Tát mới đắc đạo.

Công Chúa Diệu Thiện ngự trên tòa sen, hào quang sáng lòa, xưng là Quan Thế Âm Bồ Tát.

Ngày kia, con gái của Thái Tử của Long Vương Nam Hải (thường gọi là Long Nữ) hóa làm con cá dạo chơi nơi mé biển, bị một ông chài bắt được, đem ra chợ bán. Đức Quan Âm biết được, sai Thiện Tài đồng tử hóa ra một thường nhơn đến mua con cá ấy rồi đem ra biển Nam thả xuống nước. Nam Hải Long Vương nhớ ơn Bồ Tát cứu cháu nội mình nên sai Long Nữ đem dâng Bồ Tát một cục ngọc Dạ Minh Châu, để Bồ Tát đọc sách ban đêm mà không cần đốt đèn. Long Nữ dâng ngọc xong, cảm phục công đức của Bồ Tát nên xin qui y theo hầu Bồ Tát, được Bồ Tát thâu làm đệ tử .

Nhắc lại, từ khi vua Linh Ưu ra lịnh giết chết Diệu Thiện, nhà vua bị một chứng bịnh nan y vô cùng khổ sở, bị lở lói khắp mình mẩy, đau nhức và hôi thối rất khó chịu. Nhiều danh y đến điều trị, nhưng đều không khỏi bịnh.

Đức Quan Âm ở Phổ Đà Sơn Nam Hải biết việc đó, nên giả làm một vị sư già, đến kinh thành, xin trị bịnh cho nhà vua. Sau khi xem mạch, vị sư già tâu :

- Bịnh của Bệ hạ do oan nghiệt nhập với chất độc của đồ cao lương mỹ vị và tửu nhục hằng ngày mà phát sanh ra ngoài thành bịnh nan y. Nếu muốn chữa lành thì phải có đôi mắt và đôi cánh tay của một đứa con thì mới chế thuốc được.

Nghe vậy, nhà vua vội đòi 2 vị Công chúa Diệu Thanh và Diệu Âm vào, lập lại lời nói của sư già, hỏi xem có đứa con nào chịu hy sinh cho vua cha không. Hai Công chúa đồng tâu :

- Xin phụ vương đừng nghe lời ông sãi mầm nầy. Một người bị chặt 2 tay, bị móc 2 mắt thì dù có sống cũng chẳng ra gì. Chẳng lẽ cứu một người mà hại một người hay sao ?

Vua Linh Ưu chợt nhớ tới Công chúa Diệu Thiện, liền than : “Nếu có Diệu Thiện thì chắc nó sẽ hy sinh cho Trẫm.”

Vị sư già liền tâu :

- Bần tăng biết rõ Công chúa Diệu Thiện còn sống ở Phổ Đà Sơn biển Nam Hải. Xin nhà vua cho người ra đó, tìm Công chúa, may ra chế được thuốc cho Bệ hạ. Bần tăng để thuốc lại đây, chừng nào có đôi mắt và đôi tay thì nhập với thuốc nấu chung lại, trong uống ngoài thoa sẽ hết bịnh ngay.

Vị sư già nói xong thì từ giã vua Linh Ưu trở về núi.

Nhà vua sai sứ giả đi Nam Hải. Khi đến Phổ Đà Sơn, một đồng tử bưng một mâm phủ vải trắng thấm ướt máu tươi, trong đó có 2 mắt và 2 tay của DiệuThiện, trao cho sứ giả.

Hoàng Hậu thấy sứ giả đem 2 mắt và 2 tay của Diệu Thiện về còn dính máu tươi thì khóc mướt. Thị vệ liền đem nấu với thuốc do vị sư già để lại, cho nhà vua uống phân nửa, còn phân nữa thoa ngoài da. Nhà vua liền hết bịnh.

Vua Linh Ưu và Hoàng Hậu cảm ơn nghĩa của Diệu Thiện, nên quyết định đi Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá nhà vua đi gặp biết bao nguy hiểm, nhưng đều được Bồ Tát dùng thần thông cứu thoát. Đến nơi, vua và Hoàng Hậu thấy một vị Bồ Tát ngự trên tòa sen, mất 2 mắt và 2 tay, thì biết đó là Diệu Thiện, con của mình, nên vô cùng xúc động, nhớ lại mà ăn năn sám hối tội tình, quì xuống cầu nguyện với Trời Phật cho Công chúa được lành lặn như xưa.

Sự thành tâm cầu nguyện của vua và Hoàng Hậu được hiển linh. Bồ Tát Diệu Thiện liền hiện hào quang với đầy đủ 2 mắt và 2 tay. Lúc ấy vua và Hoàng Hậu đều giác ngộ, quyết rời bỏ điện ngọc ngai vàng, đem mình vào chốn thiền môn, tu hành cầu giải thoát.

Top of Page

5. Khổng Tử tác Xuân Thu

Khổng Tử tác Xuân Thu là Đức Khổng Tử làm ra sách Xuân Thu để bày tỏ cái đạo của Ngài. “ Kinh Xuân Thu là bộ sách của Khổng Tử làm ra. Ngài theo lối văn làm sử mà chép truyện nước Lỗ, kể từ Lỗ Ẩn Công đến Lỗ Ai Công. Trong sách ấy chép cả việc nhà Chu (Châu) và việc các nước chư Hầu.

Xem hình thể bề ngoài thì là một bộ sử biên niên, lời lẽ vắt tắt, lắm chỗ hình như không có ý nghĩa gì cả, nhưng xét rõ đến tinh thần thì thật là bộ sách triết lý về việc chánh trị.

Mạnh Tử là người đã hiểu rõ nghĩa Kinh Xuân Thu, nói : “ Kinh Thi hết, nhiên hậu Kinh Xuân Thu mới làm ra. Việc ở trong sách Xuân Thu là việc Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, văn trong sách là văn sử. Nghĩa thì Khổng Tử nói rằng : Khâu nầy trộm lấy đó vậy. Nghĩa là Ngài lấy truyện ở trong các sách nước Tấn, nước Sở, nước Lỗ mà biểu thị cái ý nghĩa của Ngài muốn bày tỏ ra. Thời Xuân Thu bấy giờ xã hội Tàu loạn lạc, vua các nước chư Hầu làm nhiều điều bạo ngược và ai cũng muốn lấn quyền Thiên tử nhà Châu. Ngài không muốn để sự phê bình phán đoán của Ngài đụng chạm đến quyền thế của những người đương thời, vả lại cái học sâu xa của Ngài là cái học Tâm truyền, cho nên Ngài mượn lối văn làm sử, nói việc đã qua để ngụ cái vi ý của Ngài.”

“ Sách Trang Tử (Nam Hoa Kinh) ở thiên Thiên hạ viết rằng : Xuân Thu dĩ đạo danh phận (Sách Xuân Thu là để nói cái đạo danh và phận).

Vậy cứ theo ý kiến của những nhà đại hiền triết đời Chiến quốc thì sách Xuân Thu thật là cuốn sách để tâm truyền cái đại nghĩa danh và phận về đường luân lý và chánh trị, chớ không phải là sách chép sử như người ta thường vẫn hiểu lầm.

Sách Xuân Thu có 3 chủ nghĩa là : * Chính danh tự. * Định danh phận. * Ngụ bao biếm. (Bao biếm là khen chê)

Chủ ý của Khổng Tử là tôn vua nhà Châu. Dẫu đời bấy giờ các nước chư Hầu có nhiều người không biết đến vua nhà Châu đi nữa, nhưng Ngài chép ngay đầu sách là: XUÂN VƯƠNG CHÁNH NGUYỆT, nghĩa là : Mùa Xuân, tháng Giêng, vua nhà Châu, để tỏ cái ý vẫn nhận nhà Châu làm chủ thiên hạ. . .

Xem Kinh Xuân Thu thì phải biết ý nghĩa và vị trí từng chữ. Mỗi chữ là để định rõ người tà người chánh, như Thiên tử chết thì chép là băng, vua chư Hầu chết thì chép chữ hoăng, ông vua đã cướp ngôi làm sự tiếm đoạt mà chết thì chép chữ tồ, người làm quan ngay chánh chết thì chép chữ tốt, người làm quan gian nịnh chết thì chép chữ û.

Người nào có danh phận chánh đáng thì chép rõ chức phẩm và tên tự, người nào mà danh phận không chánh đáng thì dẫu có chức phẩm gì, cũng chỉ chép có một tên tục mà thôi.

Sự khen chê của Ngài cốt ở những chữ Ngài dùng. Có khi chỉ vì một chữ chê mà thành ra tiếng xấu muôn đời, một chữ khen mà được tiếng thơm thiên cổ.

Bởi thế, người đời sau bàn Kinh Xuân Thu nói rằng : Nhứt tự chi bao, vinh ư hoa cổn; nhứt tự chi biếm, nhục ư phủ việt. (Một chữ khen thì vinh hơn cái áo hoa cổn của vua ban cho, một chữ chê thì nhục hơn phải tội rìu búa.)

Vì Khổng Tử thấy đời suy, đạo mờ, các tà thuyết dấy lên, những sự hung bạo rất nhiều, con giết cha, tôi giết vua, cho nên Ngài lấy làm lo sợ mà làm ra bộ Xuân Thu, để định cái Chánh thể, chủ ở sự Chánh danh, định phận cho hợp đạo lý

và cho rõ sự thưởng phạt.

Sách Xuân Thu là sách định chế độ của quân chủ. Khổng Tử biết rằng trong một nước không thể không có quyền quân chủ, song Ngài lại sợ rằng những người giữ quyền quân chủ thường hay lạm dụng thế lực của mình mà làm những điều tàn bạo. Vậy nên Ngài mới đem cái nghĩa, lấy cái nguyên của dương khí mà thống trị việc Trời, lấy Trời mà thống trị các vua chúa, và bày tỏ ra một cách đặc biệt ở sách Xuân Thu để hạn chế cái quyền của vị nhân quân. Nhưng vì những người làm vua làm chúa đã dễ mấy người hiểu được rõ cái lẽ thâm viễn siêu việt ấy, cho nên Ngài mới lấy những điều tai dị như : Nhựt thực, Nguyệt thực, Sao chổi và việc Động đất, vv. . . là những điều hiển nhiên ai cũng có thể trông thấy được, để cảnh giới những bậc nhơn quân. Ngài muốn những bậc ấy phải lấy những điềm lạ ấy mà kinh sợ, tự mình tu tỉnh và làm những điều nhân nghĩa. Đó là cái vi ý trong sách Xuân Thu.

Khổng Tử còn sợ người ta không hiểu rõ cái ý ấy, cho nên Ngài nói : Tri ngã giả kỳ duy Xuân Thu hồ, tội ngã giả kỳ duy Xuân Thu hồ ! (Người biết ta là cũng chỉ ở Kinh Xuân Thu, người trách tội ta là cũng chỉ ở Kinh Xuân Thu).

Biết Ngài là biết cái bụng của Ngài sợ những tà thuyết, những bạo hành càng ngày càng nhiều ra, cho nên Ngài bày tỏ cái phương pháp chánh trị để đổi loạn ra trị, và để trừng trị những kẻ tàn bạo gian ác.

Trách tội Ngài là vì không hiểu cái ý của Ngài mà cho Ngài là tiếm làm cái việc của Thiên tử, hoặc là ngờ Ngài dùng những điều tai dị để làm mê hoặc người đời.

Học giả nên chú ý và hiểu cái thâm ý và cái khổ tâm của Ngài trong sách Xuân Thu. Về sau Hán Nho thường không hiểu rõ cái phần uyên thâm ấy, chú trọng ở cái thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, gây thành mối mê tín, thật là sai cái ý nghĩa trong sách Xuân Thu vậy.

Người thường không biết, lấy con mắt xem sử mà xem thì không hiểu bộ sách ấy ích lợi về điều gì. Song người nào biết, lấy cái tinh thần mà lãnh hội cái thâm ý trong sách ấy, thì thấy có nhiều ý nghĩa rất sâu xa.” (Nho Giáo Trần trọng Kim)

Top of Page

6. Sĩ-Đạt-Ta vượt thành đi tu

Đức Phật Thích Ca, thế danh là Sĩ-Đạt-Ta (Siddattha, có nghĩa là người được toại nguyện), họ là Cồ Đàm (Gotama) sau đổi họ lại là Thích Ca (Sakya). Ngài giáng sanh vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch năm 623 trước Chúa giáng sinh, tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) trong thủ đô Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) của một nước nhỏ thuộc miền Bắc Ấn Độ, nằm giáp ranh với xứ Népal ngày nay.(Về sau, Đại Hội Phật Giáo Thế Giới đổi ngày giáng sanh của Đức Phật là ngày trăng tròn 15 tháng 4 âm lịch, và làm Lễ Phật Đản vào ngày nầy).

Ngài là Hoàng tử, con vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và Hoàng Hậu Ma-Da (Maha Maya). Sau khi hạ sanh Hoàng tử được 7 ngày, Hoàng Hậu từ trần, trở về Cung Tiên. Em ruột của Bà là Maha Pajapati cũng kết duyên với vua Tịnh Phạn, thay Bà nuôi dưởng Hoàng tử đến ngày khôn lớn.

Hoàng tử Sĩ Đạt Ta lớn lên hưởng được sự giáo dục hoàn hảo của bực vua chúa để sau nầy nối ngôi vua cha cai trị đất nước. Ngài trở thành vị Thái tử thông minh xuất chúng, văn võ toàn tài.

Khi được 16 tuổi, Thái tử kết duyên với Công chúa Da-Du-Đà-La (Yasodhara), một người em bà con cô cậu, cùng tuổi với Ngài. Trong 13 năm chung sống sau ngày hôn lễ, Thái tử sống cuộc đời vương giả, không hay biết chi các nỗi thống khổ của dân chúng ở bên ngoài cung điện.

Một ngày đẹp Trời, Thái tử cùng các quan hầu cận đi du ngoạn bên ngoài Hoàng cung để ngắm xem thế giới bên ngoài và tiếp xúc dân chúng. Ngài chứng kiến những nỗi vất vả của kiếp sống con người phải lo làm lụng, tìm phương sanh sống. Dân chúng vì sự sống mà tranh giành giết hại lẫn nhau.

Một ngày khác, Thái tử còn chứng kiến được các cảnh khổ của kiếp sống con người như : Ốm đau, già yếu, chết chóc biệt ly. Vậy thì đời sống của con người có chi sung sướng ? Ngài tự nghĩ rằng, chỉ riêng phần Ngài là một Thái tử, sắp sửa lên làm vua thì nghèo và đói Ngài không cần lo, nhưng còn già yếu, bịnh tật, rồi chết thì không ai tránh khỏi.

Ngài âm thầm lập chí tìm phương giải khổ cho nhơn sanh. Tình cờ, Ngài gặp một tu sĩ ngoài cửa Hoàng thành, với dáng điệu rất ung dung, mặt mày thơ thới vô tư. Ngài đến hỏi chuyện thì được biết vị tu sĩ ấy xuất gia đi tu học đạo, quyết trừ hết ác căn, lấy lòng từ bi kềm chế dục vọng, hộ niệm chúng sanh không nhiễm theo thế tục, để trước là giải thoát cho chính mình, sau là giải thoát cho chúng sanh. Nghe vậy, Thái tử rất hoan hỷ và nhất quyết sẽ làm như vị tu sĩ ấy.

Vua Tịnh Phạn biết được ý của Thái tử muốn đi tu, nhà vua không bằng lòng và tìm mọi cách để ngăn cản.

Giữa lúc ấy, Công chúa Da-Du-Đà-La, vợ của Thái tử vừa sanh được một Hoàng nam. Thái tử không cảm thấy vui mừng mà lại than rằng : “Lại thêm một sợi dây trói buộc.”

Do đó, vua Tịnh Phạn đặt tên cho cháu nội là Ra-Hầu-La (Rahula), tiếng Phạn có nghĩa là trở ngại.

Vào năm Thái tử 29 tuổi, đêm mùng 7 tháng 2, trong lúc vợ, con, và quan binh trong Hoàng thành ngủ say sau một buổi tiệc vui tưng bừng múa hát, Thái tử gọi quan hầu cận Xa-Nặc (Chana) thắng ngựa Kiền trắc (Kanthaka) cho Thái tử trốn khỏi Hoàng cung, đi vào rừng núi thanh vắng để tầm Đạo.

Nhờ ngựa Kiền trắc chạy rất mau, nên đêm đó nó đưa Thái tử đi rất xa. Thái tử vỗ đầu khen nó chạy thật hay, mạnh mẽ và mau lẹ như một vị Thiên thần.

Thái tử tự mình cắt tóc, gỡ gươm trao cho Xa Nặc, bảo Xa Nặc dẫn ngựa Kiền trắc trở về tâu trình với phụ vương.

Thái tử cổi áo Thái tử đổi lấy áo thâm của một người thợ săn, rồi đi thẳng vào núi.

Vua Tịnh Phạn sai các Đại thần đi tìm Thái tử, khuyên Thái tử trở về triều, nhưng Thái tử nhứt định không đổi ý.

Thái tử tìm đến một Đạo sĩ rất lỗi lạc tên là Alarama Kalama để xin thọ giáo. Ngài học hết giáo pháp của Alarama nhưng cảm thấy chưa đạt được cứu cánh. Ngài xin từ giã để đi tìm một Đạo sĩ nổi tiếng khác có tên là Uddaka Ramaputta. Ngài cũng học hết giáo pháp của Uddaka, nhưng vẫn chưa thấy được mục tiêu cứu cánh. Thái tử nhận thấy rằng, không ai có đủ khả năng để dẫn dắt Thái tử thành tựu vì những vị mà Ngài vừa học vẫn chưa thoát khỏi vòng Vô minh.

Từ đó, Thái tử không tìm thầy học đạo nữa, mà tự mình đến chỗ thanh vắng suy tư tìm tòi Chơn lý.

Thái tử gặp một nhóm 5 tu sĩ mà ông Kiều trần Như đứng đầu, theo ủng hộ Ngài thực hành lối tu khổ hạnh.

Thái tử tự khép mình vào một nếp sống cực kỳ kham khổ suốt 6 năm dài, đến một ngày kia, thân hình của Ngài chỉ còn da bọc xương, hơi thở yếu ớt gần như một xác chết, mà Ngài vẫn chưa thâu đoạt một kết quả đáng kể nào.

Buổi ấy cái thảm trạng sắp chết của Ngài hầu đến. Bỗng có một ông tiều mang một cây đàn đến gần chỗ Ngài ngồi, lên dây đàn rồi khảy một khúc rất hay, đến lúc hay nhất thì dây đàn bỗng đứt, tiếng đàn im bặt. Ông tiều lại nối dây, lên dây đàn trở lại rồi đờn. Tiếng đờn réo rắt thanh tao, đến khúc hay nhất thì bỗng dây đàn đứt nữa, cái hay không đạt. Ông tiều lại nối dây, lên dây rồi đờn lại, rồi đứt, rồi nối lại.

Thái tử đang trì định phải bực bội tỉnh hồn nói rằng :

- Ông đờn thì hay, mà lên dây chi cho cao quá, đến khúc hay thì dây đứt, thì cái hay đó phải hết mùi, rất đáng tiếc.

Ông tiều liền đáp :

- Cái đờn của tôi cũng giống như cái tu của Ông. Dây đờn của tôi lên caoquá nên đến chỗ hay thì đứt dây làmcái hay

của tiếng đàn hết mùi, giống như cái tu của Ông, nếu có đạt được cái cao siêu là cơ bất diệt đi nữa, thì nó cũng phải chết theo cái xác thân khô đét của Ông, còn ích chi cho đời, nên tôi cũng tiếc cho Ông lắm vậy !

Lão tiều nói xong, liền xách đàn đi mất. (Trong kinh cho Lão tiều khảy đàn là một vị Phật hóa thân đến cảnh tỉnh Thái tử). Thái tử suy nghĩ mãi lời nói của ông tiều, chợt tỉnh giác, biết mình lầm theo lối tu khổ hạnh, chỉ làm suy giảm trí thức và mệt mỏi tinh thần. Thái tử thầm cám ơn ông tiều đến cảnh tỉnh mình, liền dứt khoát từ bỏ lối tu khổ hạnh ép xác, cũng như 6 năm trước đây, Ngài dứt khoát từ bỏ đời sống lợi dưỡng. Ngài lại nhớ đến ngày lễ Hạ điền của vua cha trước kia, trong lúc mọi người đang lo làm lễ thì Thái tử đến dưới bóng mát của cây trâm, ngồi thiền định và đắc được Sơ Thiền. Ngài nhớ lại và thấy rõ ra rằng đó mới chính là con đường dẫn đến giác ngộ. Đó là con đường tu, không sống theo lợi dưỡng, mà cũng không sống quá khắc khổ, gọi là Trung Đạo.

Thái tử bắt đầu dùng trở lại các vật thực nuôi dưỡng xác thân. Ngài mệt nhọc lần đến bờ sông Ni-Liên-Thiền (một nhánh của sông Hằng) xuống tắm rửa sạch sẽ, rồi đi lên, và kiệt sức ngã vào một gốc cây bồ đề nằm bất tỉnh.

May mắn lúc đó có một thiện nữ bưng một bát sữa bột tìm đến cúng dường, gặp một ông đạo đang nằm thoi thóp dựa cội cây. Nàng đỡ ông đạo dậy rồi dâng bát sữa. Thái tử thọ lãnh, uống hết, rồi Ngài định tỉnh trở lại, thấy sức khỏe dần dần hồi phục, tinh thần sảng khoái.

Ngài tìm đến một gốc bồ đề to lớn, trải cỏ làm nệm để ngồi thiền định, phát lời đại thệ : Nếu không thành đạo thì không rời khỏi chỗ nầy.

Trải qua 49 ngày đêm Thiền định, Ngài ngộ đạo, biết được nguyên nhân sanh tử của con người, tìm ra con đường giải thoát chúng sanh khỏi luân hồi khổ não. Ngài đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, lấy hiệu Thích Ca Mâu Ni.

Top of Page

7. Tô Huệ chức cẩm hồi văn

Đời nhà Tấn (265-419) ở đất Thần Châu có nàng Tô Huệ có tài văn chương và có nghề thêu rất khéo. Năm nàng 20 tuổi, cha mẹ gả nàng cho chàng hàn sĩ tên Đậu Thao.

Cưới nhau chưa được bao lâu thì đất nước bị giặc Phiên từ phương Bắc kéo binh vào đánh phá Trung nguyên. Vua ra lịnh trưng binh, các thanh niên phải sung quân, lên đường chinh chiến, giữ gìn bờ cõi đất nước.

Đậu Thao, chồng của nàng Tô Huệ, cũng tuân lịnh vua, nhập ngũ tòng chinh.

Thời gian kéo dài ngót 3 năm, nàng Tô Huệ quá nhớ chồng, khiến dung nhan thêm tiều tụy. Đêm đêm bên ngọn đèn khuya leo lét, lòng mong nhớ chồng không nguôi, hồn thơ xúc động, nàng viết ra 10 bài thi tứ tuyệt, lời thơ đầy tình cảm nhớ nhung chan chứa, nàng cầu xin đấng quân vương xét cho hoàn cảnh của nàng, tha cho chồng trở về sum họp cùng nàng.

Nàng lại lấy một bức gấm vuông độ chừng một thước, dùng chỉ ngũ sắc dệt 10 bài thơ tứ tuyệt ấy lên bức gấm, đọc theo lối hình trôn ốc từ ngoài xoay tròn vào trung tâm bức gấm. Nàng thêu khéo, chữ hay, nên bức gấm trông rất đẹp.

Xong nàng đem dâng lên vua. Thấy lạ, vua truyền cho quần thần đọc, nhưng không ai đọc được, vua phải truyền gọi nàng Tô Huệ.

Đứng giữa triều đình, nàng Tô Huệ cất giọng ngâm 10 bài thơ, với một giọng não nùng bi thảm.

Nhà vua thương tài nàng nên đặc cách cho Đậu Thao trở về sum họp cùng nàng.

Bài thơ dệt trên gấm của nàng Tô Huệ được gọi là : CHỨC CẨM HỒI VĂN.

Sau đây là 10 bài tứ tuyệt của Tô Huệ dệt trên gấm :

I. Quân thừa hoàng chiếu an biên thú,

Tống quân tống biệt hà kiều lộ.

Hàm bi yểm lệ tặng quân ngôn,

Mạc vong ân tình tiện trường khứ.

II. Hà kỳ nhứt khứ âm tín đoạn,

Ý thiếp bình vi xuân bất noãn.

Quỳnh diêu giai hạ bích đài không,

San hô trướng lý hồng trần mãn.

III. Thử thời đạo biệt mỗi kinh hồn,

Tương tâm hà thác cánh phùng quân.

Nhứt tâm nguyện tác thương hải nguyệt,

Nhứt tâm nguyện tác lãnh đầu vân.

IV. Lãnh vân tuế tuế phùng phu diện,

Hải nguyệt niên niên chiếu đắc biên.

Phi lai phi khứ đáo quân bàng,

Thiên lý vạn lý diêu tương kiến.

V. Thiều thiều lộ viễn quan sơn cách,

Hận quân tái ngoại trường vi khách.

Khứ thời tống biệt lư diệp huỳnh,

Thùy tín kỷ kinh mai hoa bạch.

VI. Bách hoa tán loạn phùng xuân tảo,

Xuân ý thôi nhơn hướng thùy đạo.

Thùy dương mãn địa vị quân phan,

Lạc hoa mãn địa vô nhân tảo.

VII. Đình tiền xuân tảo chánh phân phương,

Bão đắc Tần tranh hướng họa đường.

Vị quân đàn đắc Giang Nam khúc,

Phụ ký tình thâm đáo sóc phương.

VIII. Sóc phương thiều đệ sơn hà việt,

Vạn lý âm thơ trường đoạn tuyệt.

Ngân trang chẩm thượng lệ triêm y,

Kim lũ la thường hoa giai liệt.

IX. Tam xuân hồng nhạn độ giang thinh,

Thử thị ly nhơn đoạn trường tình.

Tranh huyền vị đoạn trường tiên đoạn,

Oán kết tiên thành khúc vị thành.

X. Quân kim ức thiếp trọng như san,

Thiếp diệc tư quân bất tạm nhàn.

Chức tương nhứt bổn hiến Thiên Tử,

Nguyện phóng nhi phu cập tảo hoàn ./.

GIẢI NGHĨA TỪNG CÂU :

C.1 : Chàng tuân chiếu chỉ của vua đi lính thú giữ yên biên giới.

C.2 : Đưa chàng tiễn biệt lối cầu sông.

C.3 : Ngậm sầu nén lệ nói với chàng,

C.4 : Chớ quên ân tình thuận tiện đi xa.

C.5 : Sao lần đi bặt vô âm tín,

C.6 : Lòng của thiếp ở trong phòng the không ấm hơi xuân.

C.7 : Dưới thềm Quỳnh dao bỏ không, mọc rêu xanh.

C.8 : Nơi màn San hô đầy bụi đỏ.

C.9 : Thử thời đường ly biệt, mỗi khi nghĩ tới lòng lo sợ.

C.10 : Đem lòng làm sao gởi đến gặp chàng ?

C.11 : Một lòng nguyện làm trăng ngoài biển xanh,

C.12 : Một lòng nguyện làm mây trên đầu núi.

C.13 : Mây trên núi năm nào cũng gặp chàng,

C.14 : Trăng ngoài biển năm nào cũng chiếu khắp biên thùy.

C.15 : Bay đi bay lại đến bên cạnh chàng,

C.16 : Ngàn muôn dặm xa nhìn thấy nhau,

C.17 : Xa xôi, đường xa, quan san cách trở,

C.18 : Hận chàng ở ngoài biên giới làm khách lâu dài,

C.19 : Khi đi tiễn chàng thì lá cây lau vàng,

C.20 : Ai tin mấy độ hoa mai trắng,

C.21 : Trăm hoa tan tác sớm gặp xuân,

C.22 : Ý xuân thúc giục người hướng về đường nào ?

C.23 : Nhành dương rủ xuống đầy đất vì chàng níu xuống,

C.24 : Hoa rơi đầy đất không ai quét.

C.25 : Trước sân xuân sớm hoa thơm phức,

C.26 : Ôm được cây đàn Tần tranh hướng đến nhà vẽ,

C.27 : Vì chàng mà khảy khúc nhạc Giang Nam,

C.28 : Nhờ gởi mối tình thâm đến phương Bắc,

C.29 : Phương Bắc xa xôi núi sông vượt qua,

C.30 : Ngàn dặm tin thơ cắt đứt đã lâu.

C.31 : Áo bạc trên gối nước mắt thấm vào áo,

C.32 : Tơ vàng, xiệm lụa hoa đều bị chia xé.

C.33 : Ba mùa xuân, chim hồng nhạn qua sông cất tiếng kêu,

C.34 : Ấy là ly biệt người, tình yêu đứt ruột.

C.35 : Dây đàn tranh chưa đứt, ruột đứt trước,

C.36 : Nỗi oán hờn kết thành trước khúc nhạc chưa thành.

C.37 : Nay chàng nhớ thiếp nặng như núi,

C.38 : Thiếp cũng nhớ chàng chẳng tạm yên.

C.39 : Dệt lụa một bức dâng lên Đức Vua,

C.40 : Cầu xin tha cho chồng thiếp kịp sớm trở về ./.

Diễn Nôm bằng thơ :

(của Hoàng Quang)

I. Chàng vâng chiếu ra yên cõi ngoại,

Thiếp đưa chàng tới lối cầu sông.

Ngậm sầu gạt lệ nhắn lòng,

Chớ tham chốn khác mà vong tình nầy.

II. Trông tin tức tới nay thăm thẳm,

Để buồng hương chẳng ấm hơi xuân.

Từ ngày đôi ngã cách phân,

Màn dần bụi bám, thềm dần rêu phong.

III. Tưởng ly biệt nỗi lòng kinh sợ,

Thiếp với chàng bao thuở gặp nhau.

Nguyện làm trăng giữa biển sâu,

Nguyện làm mây phủ trên đầu non cao.

IV. Trăng giữa biển năm nào cũng thấy,

Mây đầu non dầu mấy cũng thông.

Bay qua bay lại bên chồng,

Dầu ngàn muôn dặm, xa trông như gần.

V. Quan sơn ấy mấy lần trở cách,

Hềm nỗi chàng làm khách rất lâu.

Chàng đi mới ố bóng lau,

Mà nay mấy độ trắng màu hoa mai.

VI. Hoa trăm thức xuân tươi hớn hở,

Xuân giục người than thở với ai ?

Liễu kia rủ những tơ dài,

Hoa kia rã cánh không người quét cho.

VII. Sân xuân sớm thơm tho trăm thức,

Chốn họa đường lựa bậc đàn tranh.

Giang Nam khúc nhạc đành rành,

Mượn đầu năm móng gởi tình sóc phương.

VIII. Sóc phương ấy đôi đường diệu vợi,

Âm thư nầy nhắn gởi không thông.

Gối riêng nước mắt tuôn dòng,

Xiêm thêu áo vẽ lâu cùng mục tan.

IX. Ba xuân tới, tiếng nhàn nhắn gởi,

Xuân giục người bối rối như tơ.

Năm dây còn đó sờ sờ,

Buồn đà đứt ruột, khảy chưa rồi đàn.

X. Chàng thương thiếp tình hơn núi nặng,

Thiếp nhớ chàng tình chẳng kém thua.

Dệt đem bức gấm dâng vua,

Xót lòng dạ thiếp tha cho chàng về.

Top of Page

8. Châu Văn Vương ngồi ngục

Vua Văn Vương (tên là Cơ Xương, trước làm chức Tây Bá Hầu) là vị vua khai sáng nhà Châu (Chu) vào thời Thượng cổ nước Tàu. Nhà Châu kéo dài được 867 năm kể từ năm 1122 đến năm 255 trước Tây lịch kỷ nguyên.

Thời vua Trụ nhà Ân, nước Tàu có tất cả 800 chư Hầu, được chia làm 4 Trấn theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi Trấn có một vị Tổng Trấn đứng đầu để cai quản các chư Hầu trong phương đó, kể ra :

·Tổng Trấn Tây Kỳ là Tây Bá Hầu Cơ Xương.

·Tổng Trấn Đông Lỗ là Đông Bá Hầu Khương Hoàn Sở, là quốc trượng, cha của Khương Hoàng Hậu.

·Tổng Trấn Nam phương là Nam Bá Hầu Ngạt Sùng Võ.

·Tổng Trấn Bắc phương là Bắc Bá Hầu Sùng Hầu Hổ.

Triều đình của vua Trụ lúc bấy giờ có 2 tay gian thần là Vưu Hồn và Bí Trọng, về phe Đắc Kỷ, ám hại Chánh Cung Khương Hoàng Hậu, để đưa Đắc Kỷ lên làm Hoàng Hậu, lại sợ 4 Trấn chư Hầu làm phản, nên tâu Vua Trụ xuống chiếu đòi 4 Tổng Trấn về triều đặng tìm cách giết chết.

Nói về Tây Bá Hầu Cơ Xương, sau khi tiếp được chiếu đòi của vua Trụ thì lo sắp đặt công việc triều đình, gọi con trưởng là Bá Ấp Khảo đến căn dặn :

- Hôm qua, Thiên sứ đem chiếu đòi cha về triều Thiên tử, cha có bói một quẻ thấy chuyến đi nầy dữ nhiều lành ít, dẫu không chết nhưng bị tai nạn 7 năm. Con ở lại Tây Kỳ phải noi theo lề luật trước mà làm, không nên đổi phép nước. Anh em phải hòa thuận, tôi chúa phải thương yêu, muốn làm việc gì phải tính kỹ lưỡng, khi dân nghèo phải xuất kho cứu giúp, dân no phải dạy dỗ, chớ nên khắc khe, đợi 7 năm mãn hạn cha về, chớ nên thăm viếng.

Thế rồi Tây Bá Hầu Cơ Xương theo sứ giả đi đến triều ca. Ba vị Tổng Trấn kia cũng vừa đến, đồng vào chầu vua Trụ.

Trước tiên, vua Trụ bắt tội Đông Bá Hầu Khương Hoàn Sở, truyền võ sĩ đem chém. Nam Bá Hầu Ngạt Sùng Võ đứng ra can vua Trụ không được, tức giận mắng vua, bị vua Trụ bắt chém luôn. Tây Bá Hầu cũng can vua, can không được thì đành gạt lệ chớ không mắng vua, nên vua Trụ không có cớ để giết. Còn Bắc Bá Hầu là Sùng Hầu Hổ, có công cất Lộc đài cho vua Trụ, lại a tòng theo đám nịnh thần, nên được yên thân.

Bọn Vưu Hồn và Bí Trọng thấy chưa có cớ để giết Tây Bá Hầu, nên không yên tâm, liền làm bộ tiễn đưa Tây Bá trở về Tây Kỳ để tìm cách ám hại. Vưu Hồn nói với Tây Bá :

- Tôi nghe Hiền Hầu có tài bói quẻ Tiên Thiên hay lắm, xin xem giùm khí số của Bệ hạ ra sao ?

Lúc đó Tây Bá đã uống rượu tiễn đưa cũng khá nhiều, nên nổi hứng, quên việc đề phòng 2 tên gian nịnh, liền lấy quẻ ra gieo, nói :

- Khí số của Bệ hạ lu lám, sợ truyền chỉ một đời nầy thôi và bị chết một cách dữ dằn. Nay Thiên tử làm quá, ấy là thúc tới cho mau. Mình phận bề tôi không đành cạn tiếng.

Bí Trọng hỏi :

- Chẳng hay ứng tại năm nào ?

- Không ngoài 28 năm, ngày Giáp Tý năm Mậu Ngọ.

Vưu Hồn và Bí Trọng làm bộ than thở, nói tiếp :

- Xin Hiền Hầu coi giùm 2 đứa tôi sau nầy ra sao ?

Tây Bá liền gieo quẻ, ngẫm nghĩ hồi lâu, nói :

- Lạ lắm ! Tuy có nhiều cách chết nhưng 2 ông vì cớ nào bị tuyết sa, dưới bị giá lạnh mà chết.

- Tại chúng tôi có ngày sanh tháng đẻ thuộc thủy nên chết lạnh cũng mát. Còn Hiền Hầu thì sau chết cách nào ?

- Tôi sau nầy già yếu mang bịnh rồi chết.

Hai tên gian thần Vưu Hồn và Bí Trọng như 2 con rắn độc, trở về triều thêu dệt thêm, tâu cùng vua Trụ :

- Hai tôi giả đến đưa tiễn Tây Bá để dò xét, Cơ Xương coi quẻ Tiên Thiên cho Bệ hạ, rồi oán trách mắng Bệ hạ, nói Bệ hạ chỉ có một đời nầy rồi mất nước trong 28 năm nữa, Bệ hạ bị chết một cách dữ dằn. Còn y thì già bịnh rồi chết. Rõ là lời nói mị, dối thế gạt dân, Bệ hạ để làm chi loại đó.

Vua Trụ tức giận, liền sai Triều Điền theo bắt Tây Bá Hầu trở lại, không cho về nước.

Tây Bá Hầu, sau khi tỉnh rượu, nhớ lại cuộc đối đáp với Vưu Hồn và Bí Trọng thì giựt mình, biết mình lỡ lời, tai họa sắp đến nơi, liền thấy Triều Điền kéo binh tới, biết là cái hạn của mình không thể tránh khỏi, liền nói với các gia tướng :

- Chúng bây mau trở về Tây Kỳ, nói với Bá Ấp Khảo làm đúng lời ta dặn, ta bị nạn 7 năm, sau ta mãn hạn trở về, đừng thăm viếng.

Triều Điền đưa Tây Bá trở lại triều. Vua Trụ phán :

- Ngươi bày ra bói quẻ Tiên Thiên chi đó mà nhạo báng Trẫm, tội ấy không dung đặng. Ngươi chê Trẫm chết không đặng tử tế, còn ngươi chết già, không phải nói nhục Trẫm sao ? Nay Trẫm làm cho quẻ Tiên Thiên của ngươi không thiệt, ngươi chẳng đặng chết già cho mà coi.

Nói rồi truyền võ sĩ bắt Tây Bá đem chém.

Hoàng Phi Hổ, Tỷ Can và các đại thần thất kinh, tâu :

- Xin Bệ hạ tha cho Cơ Xương về nước, còn sách bói Tiên Thiên là của vua Phục Hy làm ra, không phải Cơ Xương bày đặt, cứ theo quẻ mà bàn, nói ngay nói thẳng chớ không phải như đứa tiểu nhân bịa chuyện. Xin Bệ hạ bỏ qua việc nhỏ kẻo hại việc lớn. Bởi Cơ Xương đức hạnh, chư Hầu kính trọng. Nếu Bệ hạ bảo Cơ Xương bày quẻ Tiên Thiên mà dối đời thì truyền bói thử, như bói sai thì bắt tội, bói trúng thì tha về.

Vua Trụ thấy nhiều đại thần can gián, chưa thể giết Tây Bá, liền truyền Tây Bá bói thử một quẻ xem trong triều có việc chi gần thấy. Tây Bá vâng lịnh, lấy tiền vàng xủ quẻ, thất kinh tâu rằng :

- Xin Bệ hạ thỉnh mấy vị thần chủ ra ngoài, kẻo giờ Ngọ trưa mai lửa cháy nhà Thái miếu.

Vua Trụ phán :

- Vậy thì giam đỡ Tây Bá một đêm, chờ giờ Ngọ ngày mai sẽ nghị.

Vua Trụ nói rồi thì bãi triều, các quan đồng lạy tạ ra về. Vua Trụ hỏi Vưu Hồn và Bí Trọng :

- Nếu ngày mai lửa cháy nhà Thái miếu thì tính sao ?

- Xin Bệ hạ truyền quan giữ Thái miếu, ngày mai cấm thắp hương, cấm đốt lửa, canh giữ nghiêm nhặt thì đâu cháy được.

Vua Trụ khen phải rồi y lời.

Đến giờ Ngọ ngày mai, các quan đều tụ tập rất đông chờ xem. Đúng giờ Ngọ rồi mà chưa thấy lửa cháy, ai cũng lo sợ cho Tây Bá phen nầy phải chết. Bỗng tiếng sấm nổ thinh không vang Trời, ngọn lửa phát ra, liền có quan vào báo :

- Nhà Thái miếu bắt lửa cháy hết rồi.

Các quan đều hoảng sợ. Tỷ Can than : “ Lửa đốt hết nhà Thái miếu, ắt cơ nghiệp Thành Thang không còn.”

Vua Trụ nghe tin, hoảng sợ bất tỉnh, giây lâu nói :

- Cơ Xương quả thật là Thánh nhân, biết liệu làm sao ?

Bí Trọng tâu :

- Cơ Xương quá tài giỏi, không nên cho về nước để phòng hậu hoạn. Bệ hạ chỉ tha chết nhưng buộc Cơ Xương phải ở thành Dũ Lý, đợi yên việc nước sẽ cho về Tây Kỳ.

Vua Trụ lâm trào truyền lịnh y như vậy.

Dân chúng trong thành Dũ Lý hay tin, đem lễ vật đón rước Tây Bá vào thành, nói rằng :

- Nay có Thánh nhân đến đây, mừng biết chừng nào !

Tây Bá bị buộc ở nơi Dũ Lý chớ không tù tội chi, nên Ông lấy điều lễ nghĩa dạy dân, cả thành đều mến đức.

Ông dùng thời giờ nhàn rỗi để tâm nghiên cứu Bát Quái Tiên Thiên của vua Phục Hy, Hà Đồ, Lạc Thơ, rồi Ông chế ra Bát Quái Hậu Thiên bằng cách thay đổi vị trí các quẻ, phối hợp với Ngũ Hành để giải thích về vạn vật hữu hình.

Vua Phục Hy đặt ra 64 quẻ Tiên Thiên nhưng không có văn tự giải thích. Tây Bá (sau nầy là vua Văn Vương) nghiên cứu, viết ra Thoán Từ giải thích ý nghĩa cát hung của mỗi quẻ.

Nhờ đó, ông biết rõ mệnh Trời, tâm hồn thanh thản, an phận vui theo mệnh Trời, không oán trách vua.

Tù túng bảy năm thành Dũ Lý,

Điểm trang một tập quẻ Tiên Thiên.

Dạy đời muôn việc điềm hung kiết,

Để tiếng ngàn thu bậc Thánh Hiền.

Ngày qua tháng lại, Tây Bá ở Dũ Lý gần đúng 7 năm.

Ở Tây Kỳ, Bá Ấp Khảo nhớ thương cha than rằng :

- Vua cha bị nạn gần 7 năm. Đạo làm con không đi thăm sao phải. Nay ta tính đem 3 vật báu của ông bà để lại dâng cho Trụ Vương, chuộc tội cho cha về nước.

Táng Nghi Sanh và các quan can gián hoài mà không được. Bá Ấp Khảo quyết ý, vào cung thưa với mẹ. Mẹ hỏi :

- Nếu con đi thăm cha, việc nước con giao cho ai ?

- Em con là Cơ Phát coi việc triều đình, việc văn có Táng Nghi Sanh, việc võ có Nam Cung Hoát.

Bá Ấp Khảo từ giã mẹ cùng các em và các quan, đem 3 vật báu đến thẳng triều ca, ra mắt Thừa Tướng Tỷ Can nói :

- Tôi có mang theo 3 vật báu là : Thất Hương xa, Tỉnh tửu chiên, con Bạch viên, 3 vật báu ấy lưu truyền từ Thỉ Tổ Đản Phụ tới nay, tôi lại chọn 5 cặp mỹ nhơn cùng đem đến dâng lên Thiên tử chuộc tội cho cha, xin Thừa Tướng giúp đỡ.

Thừa Tướng Tỷ Can hỏi : - Ba vật báu ấy ra làm sao ?

- Thất Hương xa, nguyên là xe của Xi Vưu, do vua Huỳnh Đế thuở xưa qua Bắc Hải đánh thắng Xi Vưu lấy đặng đem về làm báu vật. Người ngồi trên xe nầy chẳng cần ai đẩy, muốn đi đâu thì nó chạy tới đó. Cái Tỉnh tửu chiên là nệm tỉnh rượu, đương say rượu quá độ, nằm trên nệm nầy thì tỉnh lại liền. Còn con Bạch viên, tuy là loài khỉ nhưng nó sống hơn ngàn năm rồi, thuộc 800 bản đàn, biết 3000 bài hát, ca giữa tiệc rượu, múa trên bàn tay, tiếng ca lảnh lót như chim, điệu múa nhẹ nhàng như nhành liễu.

Tỷ Can nghe nói thế thì than rằng :

- Ba vật ấy rất quí báu, song ta chẳng vui vì ngày nay vua đam mê tửu sắc, bỏ việc triều đình, mà còn có thêm vật chơi cống sứ, ấy là xúi thêm việc tửu sắc. Nhưng vì công tử có lòng hiếu hạnh nên ta dâng sớ tâu cho.

Bá Ấp Khảo theo Tỷ Can vào chầu vua Trụ.

Vua Trụ động lòng thương, muốn mở đức ban ơn, nhưng Đắc Kỷ nảy giờ lắng nghe, nhìn kỹ Bá Ấp Khảo thấy chàng nầy quá đẹp trai, muốn giữ lại nên tìm kế nói rằng :

- Khi tôi còn ở Ký Châu, nghe danh Bá Ấp Khảo có tiếng đàn tuyệt diệu, xin Bệ hạ dạy công tử đàn một bài.

Bá Ấp Khảo liền tâu :

- Xin Nương tha tội, vì lâu nay cha tôi bị cầm nơi Dũ Lý, nghĩ làm con đau lòng từng đoạn, lòng bối rối tơ vò, làm sao đàn cho hay được.

Vua Trụ phán :

- Bá Ấp Khảo đương cảnh rối trí mà đàn được một bản cho hay thì Trẫm ra ơn cho cha con về nước.

Bá Ấp Khảo mừng rỡ, ôm đàn so dây, đàn một bản Phong nhập tòng, tiếng đàn lảnh lót như tiếng nhạc cõi Tiên. Vua Trụ đẹp dạ, truyền dọn tiệc trên lầu.

Đắc Kỷ nhìn Bá Ấp Khảo thì say đắm lòng tà, quyết giữ Bá Ấp Khảo lại, mượn cớ học đàn để thỏa lòng hoa bướm.

Nhưng Bá Ấp Khảo tánh tình đoan chánh, lòng sáng tợ gương, Đắc Kỷ không sao lung lạc được, nên giận lắm, tìm cách hãm hại cho bỏ ghét. Sáng ngày, Đắc Kỷ tâu :

- Bá Ấp Khảo có dâng một con vượn bạch, sao Bệ hạ không truyền cho nó ca hát nghe thử ?

Vua Trụ dạy Bá Ấp Khảo đem vượn bạch đến. Bá Ấp Khảo giao cho nó một cặp sanh, nó liền cầm sanh vừa nhịp vừa hát. Tiếng ca hay như phụng gáy loan kêu, làm vua Trụ mê mẩn tâm thần, Đắc Kỷ nghe gần gục, lát sau như mê man, giữ mình không vẹn, khí yêu thoát ra, sắp hiện hình lớp cáo. Vượn bạch sống cả ngàn năm, đôi mắt tinh anh, coi thấu loài yêu tinh, biết Đắc Kỷ là chồn cáo ngồi dựa vua thì ghét lắm, liền bỏ cặp sanh xuống, nhảy lên chụp đại, khiến Đắc Kỷ xể mặt. Vua Trụ chợt tỉnh, rút kiếm chém vượn một nhát chết tươi. Đắc Kỷ giận quá tâu rằng :

- Bá Ấp Khảo đem vượn nầy tới làm thích khách, may mà Bệ hạ chém được nó, không thì mạng thiếp chẳng còn.

Vua Trụ truyền bắt Bá Ấp Khảo đem quăng xuống Sái Bồn cho rắn ăn thịt, nhưng Đắc Kỷ nói :

- Thiếp nghe người ta đồn Tây Bá là Thánh nhân, rõ đường họa phước, mà Thánh nhân thì không ăn thịt con. Thiếp tính sai kẻ đầu bếp lóc thịt Bá Ấp Khảo làm nhưn bánh bao đem cho Tây Bá, nếu Tây Bá ăn thì nó là kẻ phàm tục, không phải Thánh nhân, Bệ hạ tha cho nó về, còn nó không ăn, quả thật là Thánh, Bệ hạ nên giết đi cho khỏi mắc họa về sau.

Vua Trụ khen : - Ý Hậu rất hay, cho thi hành.

Nói về Tây Bá Hầu đang ở thành Dũ Lý, thường ngày đóng cửa viết sách lưu truyền, nhơn khi rảnh đem đàn ra dạo, nghe tiếng đàn réo lắm, sanh nghi có việc chẳng lành, liền lấy quẻ Tiên Thiên gieo thử, đoán ra mọi việc về Bá Ấp Khảo, liền té ngửa kêu Trời, khóc rống than rằng : Bởi con không nghe lời cha, nên chết thảm. Nay nếu ta không ăn thịt con thì mong chi thoát nạn, mà ăn thịt con thì nuốt sao đành !

Xảy nghe có Thiên sứ đến. Tây Bá gượng làm vui, sửa soạn ra chào hỏi. Thiên sứ nói rằng :

- Bệ hạ thấy Hiền Hầu tù túng đã lâu, đem lòng thương xót, nay săn đặng thịt nai làm bánh, ban tặng Hiền Hầu.

Tây Bá Hầu lạy tạ nhận bánh, nói :

- Nhờ ơn Thiên tử cho bánh thịt nai. Cầu cho Bệ hạ sống lâu muôn tuổi, trị vì bốn biển.

Nói rồi lấy bánh ra ăn, ăn hết 3 cái. Sứ thần trở về tâu lại cho vua Trụ rõ.

Nói về Bá Ấp Khảo, sau khi bị vua Trụ bắt giết, mấy tên gia thần trốn về Tây Kỳ báo cáo tự sự cho Cơ Phát. Táng Nghi Sanh nói :

- Khi xưa, Chúa Công đã dặn kỹ nhiều lần, chờ mãn hạn Chúa Công trở về, không được thăm viếng. Bởi Đại Công tử quá thương nhớ Chúa Công, chẳng nghe lời can gián nên mới xảy ra cớ sự. Bây giờ xin viết thơ, dâng lễ vật trọng hậu cho 2 gian thần Vưu Hồn và Bí Trọng để chúng tâu Thiên tử cho Chúa Công về nước. Khi Chúa Công đã về nước rồi thì cứ lấy đức hóa dân, chờ vua Trụ hết thời thì cử binh chinh phạt. Nếu nóng vội thì không thể thành công.

Cơ Phát nghe tâu, tỉnh ra biết rõ, kíp cho thi hành.

Khi nhận của đút lót xong, Vưu Hồn và Bí Trọng tâu :

- Như Bệ hạ muốn dung cho Tây Bá về xứ thì nên mua chút nhơn tình. Nay Khương văn Hoán (con của Khương Hoàn Sở) làm phản, đánh ải Du Hồn, Đậu Dung cầm cự 7 năm nay đà mệt mỏi. Sùng ngạt Thuận (con của Sùng hầu Hổ) làm phản, đánh phá ải Tam Sơn, Cửu Công gìn giữ một cõi cheo leo. Theo ý hạ thần, Cơ Xương trung nghĩa, nên phong Vương, cấp búa Việt cờ Mao, đặng phép đánh Nam dẹp Bắc. Bởi Cơ Xương nhơn đức, thiên hạ phục tùng, nếu đặng quyền chinh phạt thì 2 mũi Đông và Nam sợ oai mà thôi đánh.

Trụ Vương nghe tâu đẹp ý, truyền chỉ tha Tây Bá, phán :

- Khanh bị cầm nơi Dũ Lý 7 năm mà không một lời oán trách, lại cầu cho Trẫm được sống lâu, nước nhà thạnh trị, ấy là trung nghĩa hết lòng. Nay Trẫm phong khanh chức VĂN VƯƠNG, ban Búa Việt Cờ Mao cho khanh đặng quyền chinh phạt chư Hầu làm phản, lương mỗi tháng 1000 giạ, cho dạo chơi kinh thành 3 ngày, rồi được 2 quan văn võ đưa về nước.

Tây Bá Hầu Cơ Xương lạy tạ lãnh chức, mặc áo đội mão Văn Vương, đến đền Long Đức dự tiệc. Bá quan chúc mừng. Xong tiệc, Văn Vương vâng lịnh đi khoe quan 3 ngày ở kinh thành. Dân chúng đi coi chật đường. Xảy gặp Hoàng Phi Hổ diễn binh về. Văn Vương vội vàng xuống ngựa vái chào. Hoàng Phi Hổ nắm tay mừng rỡ, lựa lúc nói nhỏ rằng :” Hoàng Thượng hôn ám, không phân trung nịnh, đổi ý liền liền, nay Đại Vương như cọp sổ lồng, sao không mau về xứ, còn ở khoe quan ?” Văn Vương nghe ra, phập phòng lo sợ nói : “ Lời Ngài như vàng ngọc, cứu Cơ Xương nầy một lần nữa. Dẫu thân nầy có thác thì nghĩa nọ cũng khó đền, song 5 ải đón ngăn, làm sao qua được ? “

Hoàng Phi Hổ trao cờ lịnh dặn rằng : “ Phải giả dạng đi đêm có việc gấp, có cờ lịnh nầy, qua 5 ải không ai cản trở.”

Văn Vương, đêm ấy, nghe theo lời Hoàng Phi Hổ, thay đổi quần áo, giả dạng đi gấp ra khỏi triều ca.

Vua Trụ hay tin mật báo, có ý nghi ngờ, bèn sai Ân Phá Bại và Lôi Khai dẫn quân theo bắt Văn Vương trở lại.

Lúc đó Văn Vương chạy tới ải Lâm Đồng, 2 tướng Ân và Lôi cũng kéo binh sắp đến, ngó thấy bụi bay mù mịt. Văn Vương sợ hãi, chưa biết cách nào thoát thân về Tây Kỳ.

(Tới đây, xem tiếp Điển tích số 58 : Lôi Chấn Tử cứu cha thoát nạn.)

Top of Page

9. Lão Tử giáng sanh

Lão Tử là chơn linh của Đức Thái Thượng Đạo Tổ (hay Thái Thượng Đạo Quân) giáng trần. Việc giáng sanh của Ngài rất huyền diệu phi thường.

Theo truyền thuyết kể lại, vào đời vua Bàn Canh nhà Thương (1461 trước Tây lịch), có một nàng con gái gọi là Ngọc Nữ mới vừa 8 tuổi, con của một gia đình đạo đức, ra chơi sau vườn, thấy trên cây Lý có một trái chín đỏ ngon, liền hái ăn. Ăn xong, cô cảm thấy mỏi mệt và có thai. Người cha thấy sự lạ, liền toán quẻ Âm Dương thì biết có một Đại Tiên giáng sanh vào lòng Ngọc Nữ, nên không buồn phiền chi cả, lo nuôi con gái rất kỹ. Ngọc Nữ chịu mang thai như vậy đến già mà không đẻ. Đến năm Ngọc Nữ 80 tuổi, nghĩa là mang thai 72 năm, lúc đó là đến đời vua Võ Đinh (1324 trước Tây lịch) nhà Thương mới lên ngôi, Ngọc Nữ thấy đêm trăng tỏ rạng, bèn đi dạo nơi vườn, khi đi ngang qua cội cây Lý ngày xưa thì đứa con từ trong bụng theo nách nhảy ra ngoài. Ngọc Nữ kinh hãi coi lại thấy nách mình liền lại như thường.

Đứa con nhảy ra, đã ở trong bụng mẹ ngót 72 năm, nên đầu bạc trắng, do đó gọi là Lão Tử nghĩa là con già. Lúc đó là giờ Sửu, ngày 15 tháng 2 âm lịch, năm Canh Thìn. Lão Tử chỉ cây Lý bảo rằng đó là họ của mình. Ngài xưng hiệu là Lão Đam, tự Bá Đương, lại mỗi tai có 3 lỗ nên cũng gọi là Lý Nhĩ.

Ngài có miệng rộng, răng thưa, thiên đình cao, râu tốt, mắt vắn, tai dài, sóng mũi cao lớn như chẻ hai, trán có đường chỉ như 3 chữ Thiên (Tam Thiên).

Cội cây Lý, nơi giáng sanh của Lão Tử ở tại xóm Khúc Nhơn, làng Lại, huyện Khổ, nước Sở, nay thuộc tỉnh Hồ Nam.

Do đó trong Kinh Tiên giáo có câu :

“Nhị ngoạt thập ngũ, Phân tánh giáng sanh.”

(Ngày rằm tháng 2, phân tánh giáng sanh xuống cõi trần)

Đức Lão Tử có giáng cơ cho biết năm sanh của Ngài trong 4 câu thơ sau đây :

LÝ đào mầm tược tượng long lân,

LÃO luyện đơn thành nhị xác thân.

TỬ phủ ngồi lo tu nấu thuốc,

GIÁNG sanh Thương đợi Võ Đinh quân.

Khoán thủ 4 chữ : Lý Lão Tử Giáng. Câu chót có nghĩa là : Giáng sanh vào thời nhà Thương, đợi vua Võ Đinh.

Qua hết thời nhà Thương (Ân), tiếp theo đến thời nhà Châu, đời vua Thành Vương (1115 trước Tây lịch), Lão Tử có ra làm quan Trụ Hạ Sử tại Tàng Thư Viện nhà Châu để có cơ hội nghiên cứu Thái Cực Đồ. Sau đó Ngài từ chức đi dạo nước Thiên Trúc ở Tây phương.

(Đoạn nầy, xin xem chi tiết nơi Điển tích 11 : Từ Giáp)

Đến đời vua Châu Khương Vương nối tiếp vua Thành Vương, Lão Tử trở về, đặng 3 năm thì Ngài ngồi xe trắng trâu xanh có Từ Giáp đánh xe đi giáo đạo ở Tây Vực. Khi đến ải Hàm Cốc, quan Doãn giữ ải tên là Hỷ (nên thường gọi là Doãn Hỷ) biết Lão Tử là bực Thánh nhơn, nên ra nghinh tiếp trọng thể, tôn Lão Tử làm Thầy xin học đạo.

Nguyên ông quan Doãn Hỷ là Chơn linh của Nguơn Thủy Thiên Tôn giáng sanh. Khi bà mẹ có nghén ông thì nằm chiêm bao thấy một đoạn lụa đỏ từ Trời sa xuống quấn quanh mình, sau sanh ra ông Doãn Hỷ thì sen mọc quanh nhà trổ bông. Ông Doãn Hỷ lớn lên, con mắt sáng ngời như sao, râu dài như Lão Tử, biết nghề coi Thiên văn hay lắm. Khi làm quan giữ ải Hàm Cốc, nhìn lên bầu Trời thấy một vầng mây tím đỏ bay ngang từ Đông qua Tây, Ông biết có một vị Đại Thánh sắp đi qua ải. Ông chuẩn bị chu đáo chờ nghinh tiếp.

Xảy thấy Đức Lão Tử đến, cốt cách phi phàm, ngồi trên xe trắng trâu xanh, đệ tử là Từ Giáp đánh xe tới ải. Doãn

Hỷ đón lại, rước Lão Tử vào nhà, làm lễ xin Lão Tử truyền đạo. Do vậy, trong Kinh Tiên giáo có câu :

“ Tử khí đông lai, Quảng truyền Đạo Đức.”

(Vầng khí mây đỏ tím từ hướng Đông bay tới, rộng truyền Kinh Đạo Đức)

Doãn Hỷ có lòng thành khẩn, nên Đức Lão Tử nhận làm môn đệ, ở lại ải Hàm Cốc ngót 3 tháng để dạy Doãn Hỷ học đạo Tiên. Khi Lão Tử chuẩn bị ra đi thì Doãn Hỷ mới bạch thầy cho biết danh tánh, và xin tình nguyện từ quan theo thầy. Đức Lão Tử đáp :

- Ta sanh ra đã nhiều đời, tên họ biết bao nhiêu mà kể. Hiện thời người đời gọi ta là Lão Tử. Ngươi có lòng muốn theo ta, song mới tu luyện còn non, chưa từng biến hóa thần thông thì theo ta chưa đặng. Ngươi cứ tu hành theo phép cho lâu, thì sau cũng được như ta, đi đâu cũng đặng.

Nói rồi, Lão Tử đưa cho Doãn Hỷ một cuốn Kinh gọi là ĐẠO ĐỨC KINH, gồm 5363 chữ, dặn rằng :

- Ngươi cứ theo sách nầy mà học, tu đúng phép đặng 1000 ngày, rồi đi qua nước Thục, tìm ta ở chợ Thanh Dương.

Nói rồi, Đức Lão Tử lên xe trắng trâu xanh, hiện hào quang đi về hướng Tây mất dạng.

Doãn Hỷ ngó theo thầy lạy tạ. Rồi cứ theo kinh mà tu, lâu ngày trở nên thông huệ, tự viết ra một cuốn kinh gồm 36 bài, gọi là Kinh Tây Thăng.

Gần đến kỳ hạn, Doãn Hỷ sửa soạn đi qua nước Thục tìm thầy. Khi đến nước Thục, Doãn Hỷ hỏi thăm chợ Thanh Dương ở đâu thì không ai biết cả.

Đức Lão Tử đã trở về Thiên cung, rồi lại xuống đầu thai vào nhà họ Lý ở nước Thục, là một nhà đạo đức hiền lương. Khi vợ họ Lý sanh đứa bé trai được ít tháng thì có một con dê xanh (Thanh Dương) đến chơi giỡn với bé. (Đó là Lão Tử dặn con Thanh Dương ở Thiên cung hiện xuống).

Ngày kia con dê xanh chạy mất, cậu bé khóc hoài. Họ Lý phải sai đày tớ đi khắp nơi tìm kiếm, bắt gặp được Thanh Dương, liền dẫn về, đi ngang qua chợ. Doãn Hỷ đang đi tìm chợ Thanh Dương, chợt thấy một người dẫn con dê xanh đi qua chợ, nghĩ rằng chắc thầy mình đang ở gần đây.

Nghĩ vậy, Doãn Hỷ chạy theo người dẫn dê xanh hỏi :

- Chú dắt con dê nầy đi đâu vậy ?

Người đày tớ đáp :

- Chủ tôi có sanh một cậu trai, cách ít tháng có con dê nầy đến chơi giỡn với cậu nhỏ. Bữa kia nó đi mất, cậu nhỏ cứ khóc hoài. Chủ sai tôi đi tìm kiếm cho được dắt về.

Doãn Hỷ đi theo người đày tớ về đến nhà thì bảo :

- Chú vào thưa với cậu nhỏ là có Doãn Hỷ tới tìm.

Anh đày tớ cười nghĩ thầm : Cậu nhỏ chưa giáp thôi nôi, biết chi mà thưa với gởi. Nhưng anh ta cũng vào nói với cậu nhỏ : - Có Doãn Hỷ tìm cậu.

Cậu bé nghe nói thế, liền ngồi dậy đáp :

- Doãn Hỷ y lời không đến trễ.

Kế Doãn Hỷ bước vào.Cậu bé bỗng vùng lớn lên như người thường, ngồi trên tòa sen, hào quang sáng lòa. Cả nhà đều kinh hãi. Người ấy nói :

- Ta là Lão Tử đầu thai một lần nữa.

Doãn Hỷ mừng rỡ đến lạy thầy. Lão Tử nói :

- Khi trước ta không dắt ngươi theo là vì sợ ngươi tu không bền chí. Nay ngươi tu luyện kỹ, hào quang ẩn ẩn muốn lòa.

Nói rồi Lão Tử niệm chú, truyền Thần Tiên đến hầu, phong Doãn Hỷ phục chức Nguơn Thủy Chưởng Giáo, cai trị 8 vạn Thần Tiên, lại truyền phép tu luyện cho nhà họ Lý, cả nhà đều tu thành Tiên hết thảy.

Về sau, đến đời vua Châu Kỉnh Vương, Đức Khổng Tử qua kinh đô nhà Châu học Lễ, nhân nghe có Đức Lão Tử ở đó nên đến xin gặp mặt để hỏi Đức Lão Tử về Lễ.

Đức Lão Tử nói :

- Những người Ông nói đó đều tan xương nát thịt cả rồi, chỉ còn lời nói của họ mà thôi. Vả lại, người quân tử gặp thời thì đi xe ngựa nghênh ngang, không gặp thời thì tay vịn nón lá mà đi chơn không. Tôi nghe nói : Người buôn giỏi thì biết giấu của báu, khiến người ta thấy dường như không có hàng hóa; còn người quân tử có đức tốt thì diện mạo dường như ngu dại. Ông nên bỏ cái khí kiêu ngạo cùng cái lòng ham muốn nhiều, cái vẻ hâm hở cùng cái chí tham lam đi. Những cái ấy đều không ích gì cho Ông. Tôi chỉ bảo Ông có thế thôi.

Đến khi Đức Khổng Tử kiếu từ ra về, Đức Lão Tử nói :

- Tôi nghe nói : Người giàu sang lấy tiền bạc mà tiễn nhau, người nhân đức dùng lời nói để tiễn nhau. Tôi không thể làm người giàu sang, nhưng trộm lấy tiếng là người nhân đức, xin có lời nầy tiễn Ông : Kẻ thông minh và sâu sắc là gần cái chết vì họ khen chê người ta một cách đúng đắn. Kẻ giỏi biện luận, đầu óc sâu rộng làm nguy hiểm thân mình vì họ nêu cái xấu của người khác. Kẻ làm con không có cách gì để giữ mình, kẻ làm tôi không có cách gì để giữ mình.

Đến khi Đức Khổng Tử trở về, Ngài bảo các học trò :

“ Con chim ta biết nó biết bay, con cá ta biết nó biết lội, con thú ta biết nó biết chạy. Đối với loài chạy thì ta có thể dùng lưới để săn, đối với loài lội thì ta có thể dùng câu để bắt, đối với loài bay thì ta có thể dùng tên để bắn, đến như con rồng cỡi mây cỡi gió lên Trời, ta không sao biết đặng. Hôm nay gặp Lão Tử, ông ta có lẽ là con rồng chăng ?”

Đến đời nhà Tần, Đức Lão Tử có hiện xuống xưng là Hà Thượng Công, dạy An Kỳ học đạo.

Đến thời nhà Hán vua Hán Văn Đế, Đức Lão Tử hiện xuống trần xưng hiệu là Quảng Thành Tử. Vua Hán Văn Đế rất mộ đạo, sai sứ rước về triều. Quảng Thành Tử nói :

- Lẽ nào không đích thân tới rước mà sai sứ giả ?

Sứ giả về triều tâu lại, Hán Văn Đế đến gặp Quảng Thành Tử phán :

- Thầy tuy có đạo mặc dầu song cũng là dân của Trẫm, sao không chịu sụt lại một chút mà lại làm kiêu như thế ? Hay là Trẫm không làm họa phước cho thầy đặng chăng ?

Quảng Thành Tử nghe vua nói như thế, liền dùng thần thông, cất mình bay lên cao độ 100 thước, ngồi trên thinh không, ngó xuống nói với vua Văn Đế rằng :

- Nay trên chẳng tới Trời, dưới chẳng tới đất, Bệ hạ làm họa phước cho ta sao đặng.

Vua Văn Đế biết lỗi, liền xuống xe làm lễ, xin làm học trò theo học đạo. Quảng Thành Tử đưa vua một cuốn kinh, bảo học theo đó mà tu luyện.

Qua đời vua Hán Thành Đế, Đức Lão Tử lại giáng trần tại suối Khúc Dương, truyền đạo cho Vu Kiết.

Đời vua Hớn An Đế, Đức Lão Tử truyền cuốn kinh Tội Phước Tân Khoa cho Lưu Tiên.

Đời vua Hán Trinh Đế, Đức Lão Tử xuống truyền kinh Bắc Đẩu cho Trương Thiên Sư.

Đời vua Hán Hoàn Đế, Đức Lão Tử xuống núi Thiên Thai, truyền kinh Bác Động cho Vạn Niên Tiên sinh.

Đời vua Hán Linh Đế, Đức Lão Tử xuống truyền kinh cho Trương Thiên Sư một lần nữa.

Qua thời nhà Đường, Đức Lão Tử truyền đạo cho Đường Công tại núi Dương Giác.

Đời Đường Cao Tổ, có người ở Phổ Châu tên hiệu là Thiện Hành, đi ngang núi Dương Giác, gặp một ông già mặc áo trắng, nói rằng : Ngươi về tâu với Đường Thiên Tử, Thái Thượng Lão Quân là ông nội.

Đường Cao Tổ hay tin, lập miếu thờ tại núi Dương Giác. Về sau, Đường Cao Tông tôn Đức Lão Tử là Huyền Nguơn Hoàng Đế.

Hồi thời nhà Châu, Đức Lão Tử có truyền đạo cho Ông Lý Ngưng Dương tu hành đắc đạo thành Tiên, hiệu là Lý Thiết Quả, đứng đầu Bát Tiên.

Tóm lại, từ thời tạo dựng Trời Đất có nhơn loại đến giờ, không có thời nào mà Đức Thái Thượng Đạo Tổ không giáng trần để độ những người có căn lành tu hành đắc đạo.

Ngài do khí Tiên Thiên hóa sanh nên Ngài có pháp thuật vô biên, biến hóa vô cùng, khi hiện xuống cõi trần, khi trở lại Thiên cung, khi đầu thai xuống trần để dễ bề truyền đạo.

Ngài có nhiều danh hiệu như : Thái Thượng Đạo Tổ, Thái Thượng Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân. Lão Tử là một kiếp giáng sanh của Ngài.

Trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Thái Thượng Đạo Tổ không giáng sanh xuống cõi trần nữa, Ngài chỉ dùng huyền diệu Tiên gia là cơ bút, giáng cơ dạy đạo mà thôi. Ngài giao cho Đức Đại Tiên Trưởng Lý Thái Bạch thay mặt Ngài cầm quyền Tiên giáo, làm Nhứt Trấn Oai Nghiêm điều đình Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Top of Page

10. Kỉnh Tâm thọ hàm oan

Trước kia, Đức Quan Âm Bồ Tát tu được 8 kiếp rồi, qua kiếp thứ 9 thì Ngài giáng trần mang thân Nam nhi, tu đến bực Tỳ Kheo. Khi kiếp nầy gần mãn, Đức Phật Thích Ca hóa làm một cô gái hiện đến để thử lòng, nài ép kết duyên với Tỳ Kheo. Vị Tỳ Kheo nói rằng : “Họa may là kiếp sau, chớ kiếp nầy đã thệ nguyện tu hành thì không thế kết duyên đặng.”

Vì lời hứa ấy mà vị Tỳ Kheo sau khi mãn kiếp, đầu thai trở lại làm thân con gái phải chịu trăm cay ngàn đắng về tình duyên để thử thách coi ra sao. Ấy là phép Phật định vậy.

Vị Tỳ Kheo nói trên đầu kiếp vào nhà họ Mãn ở nước Cao Ly. Hai ông bà họ Mãn đã lớn tuổi mà chưa có con, nên đi cầu tự, sanh đặng một gái đặt tên là Mãn thị Kính, dung nghi đẹp đẽ, tướng mạo đoan trang.

Khi nàng Thị Kính đến tuần cặp kê, thì gần đó có chàng Thiện Sĩ, họ Sùng, con nhà giàu có, cậy mai đến hỏi Thị Kính làm vợ. Mãn Ông thấy phải đôi vừa lứa nên bằng lòng gả con gái mình. Nàng Thị Kính rất buồn vì phải theo chồng, xa cha mẹ, không ai săn sóc cha mẹ. Cha mẹ nàng an ủi : “ Cha mẹ sanh con gái đến tuổi khôn lớn lấy chồng, ăn ở sao cho phải đạo là cha mẹ vui rồi. Vả lại nhà bên chồng cũng gần đây, nên cũng dễ bề qua lại thăm viếng.”

Từ khi nàng Thị Kính về nhà chồng, nàng giữ một mực tôn kính cha mẹ chồng, trong nhà êm ấm, ai nấy đều khen.

Ngày kia, nàng đang ngồi may, chàng Thiện Sĩ đọc sách mỏi mệt, đến gần bên nàng nằm nghỉ và ngủ quên. Nàng thấy nơi càm của chồng có mọc mấy sợi râu bất lợi nên sẵn cầm dao nhíp nơi tay, nàng đưa dao cắt đứt. Bỗng chàng Thiện

Sĩ thức dậy, thấy vợ cầm dao đưa vào cổ mình, vụt la hoảng : “Vợ tôi muốn giết tôi.”

Trong nhà vỡ lỡ, cha mẹ chàng chạy ra gạn hỏi, nàng cứ tình thật tỏ bày. Không ngờ cha mẹ chồng quá ư nghiêm khác, bắt tội nàng mưu giết chồng, buộc Thiện Sĩ làm tờ để vợ, mời Mãn Ông đến lãnh con gái về.

Nàng Thị Kính phải mang mối hàm oan, đành lạy từ cha mẹ chồng, trở về nhà. Nàng buồn bã muôn phần, một là buồn cho số phận xui xẻo, hai là buồn vì cha mẹ phải mang tiếng xấu. Nàng than rằng : Nếu nàng đông anh em thì nàng đành quyên sinh để khỏi mang tiếng nhơ như thế. Nhưng vì nàng là con một nên không dám hủy mình mang tội bất hiếu, mà sống như thế nầy thì quá khổ tâm. Cho nên nàng quyết định xuất gia, lo tu hành cho đắc đạo rồi sẽ trở lại độ cha mẹ.

Nàng lén cải trang thành một nam tử, rồi trốn đi, đi rất xa, đến một ngôi chùa thì gặp lúc Sư cụ đang thuyết pháp. Nàng thấy Sư cụ là bậc chơn tu, nên xin Sư cụ cho qui y.

Sư cụ gạn hỏi nhiều lần, vì thấy trang thiếu niên nầy còn trẻ mà sao sớm chán việc đời, đến nương nhờ cửa Phật. Sư cụ thấy chí quả quyết của người thanh niên nầy, nên cho thọ pháp qui y, đặt pháp danh là Kỉnh Tâm, nhận làm đệ tử .

Sãi Kỉnh Tâm có dung mạo đẹp đẽ làm cho hàng Tín nữ trầm trồ, nhứt là nàng Thị Mầu, con của một vị trưởng giả giàu có trong vùng. Thị Mầu thầm yêu Sãi Kỉnh Tâm nên thường chọc ghẹo và đưa lời ong bướm, nhưng Kỉnh Tâm vẫn trơ trơ như không hay biết. Thị Mầu quá si mê Kỉnh Tâm, phút bồng bột không giữ mình được, nàng tư thông với đứa tớ trai của nàng, khiến nàng Thị Mầu mang thai.

Làng xã thấy Thị Mầu không chồng mà có chửa, nên gọi nàng và cha mẹ nàng tra hỏi. Thị Mầu khai rằng, nàng có tư tình với Sãi Kỉnh Tâm, và xin làng rộng dung cho Sãi Kỉnh Tâm hoàn tục để kết duyên với nàng.

Trống mõ của làng inh ỏi, cửa Thiền xưa nay êm lặng, phút chốc trở nên huyên náo, làng đến đòi Sư cụ và Sãi Kỉnh Tâm ra làng dạy việc. Thầy trò dắt díu nhau đi, đến nơi mới hay tự sự. Tá hỏa tâm thần, thầy hỏi trò có sao nói thiệt. Kỉnh Tâm một mực kêu oan chớ không dám nói điều chi khác.

Kỉnh Tâm bị đem tra tấn, đòn bộng, máu đổ thịt rơi, mấy lần bất tỉnh, nhưng vẫn một mực kêu oan. Sư cụ động mối từ tâm, đứng ra xin làng bảo lãnh cho trò để đem về chùa khuyên nhủ dạy răn. Hương chức làng niệm tình chấp thuận.

Sư cụ dạy Kỉnh Tâm phải ra nơi cổng chùa mà ở để tránh tiếng không tốt cho chùa.

Thời gian trôi qua, Thị Mầu sanh được một đứa con trai giống hệt Kỉnh Tâm, nàng liền bồng đứa bé đến giao cho Kỉnh Tâm, nói rằng : Con của người thì đem trả cho người. Nói xong nàng bỏ con tại cổng chùa. Đứa bé giãy giụa khóc la.

Sãi Kỉnh Tâm đang tụng kinh, nghe tiếng hài nhi khóc, động mối từ tâm, chẳng cần dư luận, bèn ra ẵm đứa bé vào nhà nuôi dưỡng.

Sư cụ trách Kỉnh Tâm : “ Trước kia con nói con bị hàm oan, mà nay con lại nuôi thằng bé nầy thì chính thầy đây cũng phải nghi ngờ nữa, huống chi là ai.”

Kỉnh Tâm bạch thầy : “ Bạch Sư phụ, khi xưa Sư phụ dạy con rằng, cứu đặng một người thì phước đức hà sa. Con vâng theo lời dạy ấy mới cứu mạng đứa bé nầy, chớ kỳ trung con không có ý chi hết.”

Đứa trẻ càng lớn càng giống Sãi Kỉnh Tâm, lại có vẻ rất thông minh. Khi đứa trẻ được 3 tuổi, Kỉnh Tâm biết sắp đến ngày lìa trần theo Phật. Kỉnh Tâm viết 2 bức thơ : một bức gởi Sư cụ, một bức gởi cho cha mẹ ruột. Xong dặn kỹ đứa con nuôi gởi thơ đúng theo lời dặn.

Sãi Kỉnh Tâm đau bịnh tắt hơi, đứa trẻ khóc lóc một hồi rồi nhớ lời cha dặn, đem thơ giao cho Sư cụ trong chùa.

Xem thơ xong, Sư cụ rất bùi ngùi thương tiếc, rồi Sư cụ sai 2 vị ni cô ra khám xét thi thể của sãi Kỉnh Tâm, thì rõ ràng Kỉnh Tâm là gái giả trai.

Tin nầy truyền ra làm cho mọi người hết sức ngạc nhiên, giựt mình vì nỗi hàm oan của Kỉnh Tâm.

Hương chức trong làng đòi Thị Mầu tới buộc Thị Mầu tội cáo gian, phạt phải chịu các tổn phí trong việc ma chay và tống táng Kỉnh Tâm. Thị Mầu quá xấu hổ, liều mình tự tử.

Đến ngày an táng Kỉnh Tâm, tức là nàng Thị Kính, mọi người đều thấy Đức Phật ngồi trên tòa sen hiện ra trên mây, rước hồn Thị Kính về cõi Phật ở Tây phương.

Chàng Thiện Sĩ ăn năn hối lỗi, phát nguyện tu hành.

Tục truyền, Thiện Sĩ tu đắc quả, hóa thành con chim đậu một bên Đức Quan Âm Bồ Tát, mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề. Bồ Tát cũng độ đứa hài nhi con của Thị Mầu, đắc quả hầu bên cạnh Ngài.

Do đó, người ta họa hình Đức Quan Âm Bồ Tát đội mũ ni xanh, mặc áo tràng trắng, ngự trên tòa sen, bên tay mặt có con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, dưới có đứa trẻ mặc khôi giáp chấp tay đứng hầu. Đó là vẽ lấy theo sự tích Quan Âm Thị Kính.

Top of Page

11. Từ Giáp

Từ Giáp là người đánh xe cho Đức Lão Tử đi nơi nầy nơi nọ, và có nhiệm vụ chăn Thanh ngưu (Con trâu xanh dùng để kéo xe) của Đức Lão Tử.

Thanh ngưu, tuy còn mang lốt trâu, nhưng có tài phép thần thông biến hóa. Có một lần Lý Thiết Quả mở xiềng định cỡi thử Thanh ngưu thì nó vùng vẫy sút ra nhảy tót xuống cõi trần, thấy Vua Tần đang mở tiệc ăn uống vui say, ca hát tưng bừng. Thanh ngưu liền tấp vào, hóa phép bắt vua Tần bỏ trên gành Cù Tòng, cách xa nơi đó 20 dặm, xong Thanh ngưu biến hóa thành Tần Vương để làm vua hưởng khoái lạc. Hoàng Hậu của Tần Vương biết đây là Tần Vương giả, sai quan quân kéo binh đến đánh, Tần Vương giả dùng phép hóa ra lửa đuổi quan quân chạy dài. Về sau, nhờ Bà Cửu Thiên Huyền Nữ báo cho Đức Lão Tử hay, Đức Lão Tử đưa bùa cho Từ Giáp xuống trần bắt Tần Vương giả hiện lại nguyên hình là Thanh ngưu rồi dẫn trở về cung Tiên, xiềng lại như cũ.

Bài Thuyết đạo của Đức Phạm Hộ Pháp tại Đền Thánh nhân ngày Vía của Đức Thái Thượng Lão Quân, ngày 15-2-Mậu Tý (dl 25-3-1948), trích ra sau đây :

Đức Thái Thượng, khi giáng sanh xuống trần là Lão Tử, Ngài biết trong Tàng Thư Viện nhà Châu có Bát Quái Đồ của vua Phục Hy truyền lại, nên xin vào đó làm quan Trụ Hạ Sử, cai quản Tàng Kinh Viện, để nhờ đó tìm kiếm Bát Quái Đồ đem ra nghiên cứu, vào đời vua Châu Võ Vương.

Lúc đó Từ Giáp là người bảo vệ Tàng Kinh Viện.

Từ Giáp thấy quan Trụ Hạ Sử mới được bổ tới, không coi sóc Tàng Kinh Viện gì cả, mà chỉ vào lục lọi lấy ra một cái Bát Quái Đồ, rồi nhìn ngắm nó hoài, hình như muốn tìm tòi cái bí mật gì ở trong đó. Nhờ nghiên cứu Bát Quái Đồ nầy mà Đức Lão Tử biết được sự bí mật của Càn khôn Vũ trụ và vạn vật hữu hình nơi mặt thế nầy.

Nhờ đó, Đức Lão Tử biết được con người mang xác thịt không thể vi chủ xác thân mình. Con người cần phải tìm cho được cái thân thiệt vi chủ, rồi mới nắm cả linh giác của con người trong kiếp sanh, phóng lên cao vô biên vô tận, để đoạt vị Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Khi ấy Ngài đã hiểu rõ đạo, mỗi ngày vô Tàng Kinh Viện chỉ để luyện đạo mà thôi..

Từ Giáp thấy Ông quan nầy lấy cái Bát Quái Đồ ra nhìn rồi trầm tư mặc tưởng hoài, ban đầu lấy làm chướng, cho là người điên, sau nghĩ lại không biết Ông nầy làm cái gì mà trong ba bốn năm trường, Ông chỉ làm có một việc như thế, mới tọc mạch đến hỏi :

Đức Lão Tử mới trả lời rằng :

- Nhà ngươi muốn biết, ta dạy cho.

Thế là Ngài dạy Từ Giáp thấu đáo được đạo.

Từ ngày đó, Từ Giáp mê mẩn, hết muốn chi về đời, quyết theo Đức Lão Tử đến cùng để học đạo.

Thầy trò không làm gì hết, ngày chí tối không ngó ngàng gì đến Tàng Kinh Viện, làm cho Tàng Kinh Viện bụi bám nhện giăng tứ phía, nên bị cấp trên quở phạt.

Hai thầy trò xin nghỉ, dắt nhau đi về hướng Côn Lôn Sơn.

Từ Giáp nhờ uống lá bùa Thái Huyền của Lão Tử ban cho nên không già, không chết, theo Lão Tử được hơn 200 năm. Đức Lão Tử muốn truyền đạo cho Từ Giáp tu thành Tiên, nhưng chưa biết Từ Giáp có quyết chí không ? Có còn mê luyến hồng trần không ? Do đó, Đức Lão Tử bày ra một cuộc thử thách.

Nhân lúc Từ Giáp đánh xe cho Ngài đi về hướng Tây, đến ải Hàm Cốc, Đức Lão Tử bảo Từ Giáp :

- Ngươi theo ta đã lâu, đánh xe cho ta đi mà ta chưa thưởng tiền. Nay khi đến ải Hàm Cốc, ta sẽ thưởng cho ngươi 30 muôn tiền điếu.

Từ Giáp nghe vậy thì lấy làm thích chí, vì lòng trần chưa dứt, còn ham việc giàu sang. Khi đánh xe tới ải Hàm Cốc, thấy có quan Doãn Hỷ nghinh tiếp, rước Đức Lão Tử vào ải và cầu xin Đức Lão Tử truyền đạo tu hành.

Từ Giáp đã thấy tới ải rồi nên hỏi Đức Lão Tử lấy tiền như đã hứa. Đức Lão Tử đáp rằng :

- Ta đi đến nước nầy nước kia mới có, sẽ trả cho ngươi. Nay mới tới Hàm Cốc ta chưa có tiền, ngươi hãy chờ ta và ta sẽ thưởng tiền thêm cho ngươi nữa.

Từ Giáp nghe lời, đemThanh ngưu ra đồng cho ăn cỏ.

Đức Lão Tử liền bẻ một nhánh hoa, biến thành một cô gái xinh đẹp để thử Từ Giáp.

Từ Giáp đang ở ngoài đồng, bỗng thấy một cô gái đẹp đi tới, đến gần Từ Giáp, có ý la cà trêu ghẹo Từ Giáp. Từ Giáp cảm thấy vui thích lắm, mới cùng nàng nọ hứa hẹn kết duyên, rồi nàng từ giã ra về, đi vào xóm mất hút.

Từ Giáp định bụng ở lại đây, không theo Lão Tử nữa, và đòi tiền Lão Tử để cưới nàng ấy làm vợ, lập nghiệp ở đây.

Đến chiều, Từ Giáp dắt Thanh ngưu trở về, liền đến gặp Lão Tử nằng nặc đòi tiền cho bằng được. Lão Tử nói :

- Hổm nay ta còn lưu lại nơi đây, đâu có đi đâu mà có tiền trả cho ngươi. Ít hôm nữa, rời đi nơi khác thì mới có tiền để trả cho ngươi đủ số.

Từ Giáp không chịu, vì muốn ở lại đây nhưng phải có tiền để cưới nàng ấy làm vợ. Nếu đi theo Lão Tử nữa thì bỏ nàng ấy sao đành. Từ Giáp liền đến quan sở tại kiện Lão Tử để đòi tiền. Lão Tử hay tin mới nói rằng :

- Ngươi theo ta hơn 200 năm nay, đáng lẽ phải đầu thai 3 kiếp, may nhờ ta cho uống lá bùa Thái Huyền mà ngươi sống đến ngày nay, sao không biết mang ơn mà lại kiện ta ?

Lão Tử nói dứt thì lá bùa Thái Huyền từ trong miệng Từ Giáp bay ra. Từ Giáp ngã xuống, rủ thành một đống xương.

Doãn Hỷ thấy vậy thất kinh, liền lạy Đức Lão Tử xin tha tội cho Từ Giáp và cầu xin cho Từ Giáp được hoàn sanh.

Đức Lão Tử liền quăng lá bùa trở lại đống xương thì Từ Giáp huờn hình sống lại. Doãn Hỷ lấy số tiền trả cho Từ Giáp như lời Đức Lão Tử đã hứa.

Từ Giáp được tiền rồi, liền đi ra chỗ cũ trên cánh đồng để kiếm cô gái nọ, tìm kiếm mãi chẳng thấy ai, lại không biết chỗ nàng ở. Từ Giáp đi vào xóm hỏi thăm cùng khắp, nhưng không ai biết nàng nọ ở đâu. Từ Giáp bôn ba cả ngày tìm kiếm mà chẳng thấy tung tích cô gái, quá mệt mỏi ngồi thừ nghỉ mệt. Chợt động tâm thức tỉnh, biết Lão Tử hóa phép thử mình, liền ăn năn thì quá muộn.

Từ Giáp trở về tạ tội với Đức Lão Tử, cầu xin Đức Lão Tử tha tội, nguyện quyết chí theo hầu Lão Tử, dứt khoát không còn mến cảnh giàu sang và chuyện tình ái nữa.

Lão Tử biết chắc vậy, nên bắt đầu truyền đạo cho Từ Giáp tu thành Tiên. Từ Giáp vẫn ở với Đức Lão Tử, giữ nhiệm vụ chăn Thanh Ngưu và đánh xe cho Lão Tử như thuở trước.

Theo lời của Chức sắc tiền bối kể lại, trong thời ĐĐTKPĐ, Từ Giáp giáng trần là Truyền Trạng Phạm văn Ngọ, Thanh Ngưu giáng trần là Đốc Phủ Nguyễn văn Ca, được Thiên phong Phối Sư Thái Ca Thanh, tách ra lập Chi phái Minh Chơn Đạo ở Cầu Vỹ Mỹ Tho.

Cái nhánh hoa mà Đức Lão Tử bẻ để biến thành cô gái thử Từ Giáp cũng phải đầu kiếp để trả cái mối duyên ràng buộc với Từ Giáp, đó là Cô Sáu Giáo Hữu Hương Vàng. Cô Vàng 38 tuổi mới kết duyên với Ông Phạm văn Ngọ 40 tuổi.

Top of Page

12. Thành Bình Định Võ Tánh thiêu mình

Theo Việt Nam Sử Lược, sau khi Nguyễn Vương (Nguyễn Ánh) đã bình định được Nam Việt, thì đem quân ra đánh Tây Sơn, lấy được thành Bình Định. Nguyễn Vương cử Võ Tánh và Ngô tùng Châu ở lại giữ thành, còn đại quân kéo trở về Gia Định, lúc đó là năm 1799.

Quân Tây Sơn trở lại vây chặt thành Bình Định, quân của Nguyễn Vương giải vây không nổi, chống cự được 2 năm thì trong thành hết lương thực, thành Bình Định thất thủ. Võ Tánh phải tự thiêu mình, còn Ngô tùng Châu thì uống thuốc độc chết để bảo vệ khí tiết của mình.

Võ Tánh, nguyên quán tại làng Phước Tỉnh, tỉnh Bà Rịa, cha mẹ mất sớm, ở với anh là Võ Nhàn.

Bấy giờ Tây Sơn dấy lên, đánh tan Chúa Nguyễn ở phương Nam, Nguyễn Ánh phải bôn tẩu qua Xiêm (Thái Lan). Anh em Tây Sơn để Nguyễn Lữ trấn thủ Gia Định và Nguyễn Lữ xưng là Đông Định Vương.

Các sĩ phu ở miền Nam không phục, trong đó có Đỗ thành Nhân, lập ra đạo binh Đông Sơn, chống lại Tây Sơn. Võ Nhàn ứng nghĩa vào đạo binh nầy. Sau Đỗ thành Nhân bị hại, Võ Nhàn cũng chết theo. Bà dưỡng mẫu đang nuôi Võ Tánh cũng tìm đường lánh nạn, đem Võ Tánh qua ngụ tại Gò Tre làng Thuận Ngãi tỉnh Gò Công. Bà buôn bán tảo tần nuôi Võ Tánh, lúc đó được 10 tuổi. Bà cho Võ Tánh đi học chữ, nhưng Võ Tánh không thích học chữ mà thích học tập võ nghệ, Bà thấy cũng hợp thời nên không ngăn cản.

Đời hỗn loạn, giặc cướp nổi lên khắp nơi. Vùng Gò Tre thường bị bọn cướp đánh phá. Võ Tánh sẵn lòng nghĩa hiệp, lại biết võ nghệ, nên đứng ra chiêu dụ thanh niên tập hợp chống bọn cướp, bảo vệ thôn làng, đánh bọn cướp nhiều lần thua chạy, nên chúng không dám kéo đến Gò Tre nữa. Võ Tánh bắt đầu nổi tiếng là tay nghĩa hiệp.

Nguyễn Lữ nghe tiếng Võ Tánh nên cho người xuống Gò Công vào Gò Tre chiêu dụ Võ Tánh, nhưng Võ Tánh cự tuyệt. Nguyễn Lữ tức giận đem binh tới bắt Võ Tánh. Bà dưỡng mẫu, trong lúc gấp rút, bảo Võ Tánh chui trốn vào đống rơm, để bà đối phó với quân Tây Sơn. Bọn lính tìm không được Võ Tánh nên khảo tra bà dưỡng mẫu, nhưng bà một mực nói không biết Võ Tánh đi đâu. Bọn lính đành kéo binh về. Bà dưỡng mẫu bị tra tấn nên mang bịnh và chết.

Võ Tánh thù hận không cùng, liền qui tụ các bạn đồng chí, chiêu mộ anh hùng, khởi nghĩa tại Gò Tre. Các nhà hào phú trong vùng ủng hộ tiền bạc mua khí giới chống Tây Sơn.

Võ Tánh được người bạn là Ngô tùng Châu, một bậc văn tài nhiều mưu lược, ra giúp. Ngô Tùng Châu xuất thân là thủ khoa ở huyện Ninh Hoà tỉnh Bình Thuận, vào Gò Công lánh nạn Tây Sơn, kết bạn cùng Võ Tánh.

Bấy giờ, Võ Tánh xưng là Tướng quân, Ngô tùng Châu làm Tham mưu, chỉ huy một đội binh rất có kỷ luật, thường đi cứu khổn phò nguy, khiến mọi người đều mến phục.

Mấy lần quân Tây Sơn của Nguyễn Lữ kéo đến đánh, bị Võ Tánh đánh cho thảm bại trở về, và sau đó không dám kéo tới nữa. Nhờ vậy dân Gò Gông được yên ổn làm ăn.

Khi Nguyễn Ánh ở Xiêm trở về trú tại Vĩnh Long, nghe tiếng Võ Tánh, liền sai sứ giả là Trương phước Giao đem hậu lễ tới triệu. Võ Tánh cùng Ngô tùng Châu và các bạn đồng chí đồng lòng hưởng ứng, xem Nguyễn Ánh là chính thống của Chúa Nguyễn phương Nam. Võ Tánh liền kéo quân qua Vĩnh Long. Võ Tánh dâng Chúa Nguyễn Ánh một quả gạo và một quả trứng gà để làm lễ ra mắt. Kẻ thị thần thấy vậy thì cười khi dể.

Chúa Nguyễn Ánh biết là Võ Tánh có dụng ý nên tiếp đón niềm nở và hỏi :

- Thiên lý cống nga mao, lễ khinh nhơn ý trọng, ta muốn biết ý hậu của tướng quân.

Chúa Nguyễn Ánh đem lời trong Kinh Thi khuyến dụ, Võ Tánh thưa rằng :

- Xin Chúa ngự xem, hột gạo trắng trong, trứng gà to tròng đỏ lớn. Hai món thổ sản nầy tượng trưng tấm lòng trung dũng của dân Gò Công, đem kính hiến Chúa.

Nguyễn Ánh cả mừng, xuống ôm Võ Tánh nói :

- Thật quả là Địa linh Nhơn kiệt.

Chúa truyền luộc trứng gà và nấu một chén cháo cho Chúa dùng, còn bao nhiêu đổ vào nồi lớn nấu chia cho tướng sĩ để cùng nếm cái hương vị Trung Dũng của dân Gò Công.

Nguyễn Ánh cảm mến Võ Tánh nên đem em gái là Công chúa Ngọc Du gả cho Võ Tánh. Từ đây, Phò mã Võ Tánh giúp Chúa Nguyễn lập được nhiều chiến công hiển hách, uy danh lừng lẫy, đứng đầu Tam Hùng ở Gia Định.

Nguyễn Ánh lần lần đánh thắng quân Tây Sơn, thâu phục miền Nam, rồi kéo binh ra miền Trung, hạ thành Bình Định. Đây là nơi phát tích của 3 anh em Tây Sơn. Nguyễn Ánh giao cho Võ Tánh và Ngô tùng Châu trấn thủ thành Bình Định, còn Nguyễn Ánh rút đại binh về Gia Định, chỉnh đốn việc cai trị, tích thảo đồn lương, luyện tâp binh sĩ, chờ ngày Bắc tiến. Nguyễn Ánh lúc bấy giờ xưng Vương, gọi là Nguyễn Vương.

Tháng Giêng năm Canh Thân (1800), Tây Sơn sai 2 danh tướng là Trần quang Diệu và Vũ văn Dũng vào quyết đoạt lại thành Bình Định. Quân Tây Sơn vây phủ 4 mặt. Nguyễn Vương đem quân ra giải vây, nhưng không kết quả. Vương cho lệnh bảo Võ Tánh bỏ thành. Võ Tánh không chịu, lại dâng kế cho Nguyễn Vương, thừa lúc quân Tây Sơn dồn vào đây hãm thành, bỏ trống kinh thành Phú Xuân (Huế), Nguyễn Vương nên đem thủy quân đánh chiếm Huế thì tự nhiên giải vây được thành Bình Định.

Nguyễn Vương y kế thi hành, đem thủy quân chiếm Phú Xuân dễ dàng. Hai tướng Tây Sơn nghe tin Phú Xuân đã lọt vào tay Nguyễn Vương thì cả kinh, chia quân về cứu, nhưng bị tướng Lê văn Duyệt của Nguyễn Vương chận đánh nên không ra được.

Quân Tây Sơn quyết đánh gấp thành Bình Định để rảnh tay cứu viện các nơi khác. Võ Tánh và Ngô tùng Châu trong thành hiểu dụ tướng sĩ và dân chúng trong thành hết lòng chống giặc, ông cố thủ được 2 năm thì trong thành hết lương thực, ăn tới thịt ngựa thịt voi. Tướng sĩ xin Võ Tánh cho liều mình xông ra phá trùng vây, nhưng Võ Tánh không chịu, nói :

- Nếu phá đặng thì giặc vào thành giết hết binh sĩ và dân chúng, lòng ta không nỡ. Ta nhứt quyết ở lại để cứu dân.

Võ Tánh nói với quan Hiệp Trấn Ngô tùng Châu :

- Tôi là võ tướng nên không thể đầu giặc. Trước khi chết, tôi muốn cho giặc thấy nên đã cho chất củi sẵn nơi lầu Bát giác. Bạn là văn thần, chắc giặc không nói đến, bạn nên tự lo liệu để bảo toàn.

Ngô tùng Châu đáp :

- Cùng là bạn tri kỷ với nhau, võ tướng đã tận trung, há văn thần không biết báo ơn Chúa hay sao ?

Nói rồi, Ngô tùng Châu về tư dinh, uống thuốc độc tự tử.

Nghe quân vào báo, Võ Tánh khen Ngô tùng Châu :” Vẻ vang thay cho bậc trung thần Ngô tùng Châu.”

Võ Tánh liền viết một bức thơ cho 2 tướng Tây Sơn Trần quang Diệu và Võ văn Dũng, lời lẽ bi ai thống thiết, phân tích ai vì chúa nấy, phận làm tướng phải chết trước khi thành mất, xin 2 vị tướng quân thương hại đừng giết chết binh lính và lương dân.

Võ Tánh vào mặc triều phục, hướng về Nam lạy Nguyễn Vương rồi giã từ các tướng sĩ, đi lên lầu Bát giác, phóng hỏa tự thiêu.

Mọi người đều rơi lụy. Hồn người trung nghĩa hiển Thánh. Đó là ngày 27-5-Tân Dậu (1801).

Trần quang Diệu kéo quân Tây Sơn vào thành, rất khâm phục khí tiết của Võ Tánh và Ngô tùng Châu, rồi y theo lời cầu xin của Võ Tánh, tha chết cho các binh lính và dân chúng trong thành.

Sau đó, dần dần Nguyễn Vương diệt được Tây Sơn, thu phục giang sơn, lên ngôi Hoàng Đế, xưng hiệu là Gia Long.

Vua Gia Long truy tặng Võ Tánh là Khâm Sai Chưởng Hậu Quân Bình Tây ThamThặng Đại Tướng Quân, Hoài Quốc Công, tùng tự nơi nhà Thái miếu.

Vua Gia Long cũng truy tặng Ngô tùng Châu : Lễ Bộ Thượng Thư Vinh Hòa Quận Công.

Hoài Quốc Công Võ Tánh có giáng cơ nơi Tòa Thánh Tây Ninh cho bài thi sau đây :

LINH HỒN LÀ BẤT TỬ

Ngọn lửa tinh trung định Nguyễn trào,

Nam bang gầy dựng lắm công lao.

Thủ thành Bình Định, Tây Sơn đoạt,

Phạt ải Đông Kinh, Chúa Nguyễn thâu.

Đế nghiệp xây thành ba thước củi,

Quốc gia vững chặt ít tô dầu.

Anh hùng thân tử, thần vô tử,

Nêu tấm gương trung lại kẻ sau.

VÕ TÁNH

Top of Page

13. Trưng Nữ Vương khởi nghĩa

Năm Giáp Ngọ (34 sau Tây lịch), vua Quang Vũ nhà Hậu Hán sai Tô Định sang làm Thái Thú quận Giao Chỉ (Nước VN thời đó là thuộc địa của Tàu gọi là quận Giao Chỉ).

Tô Định là người bạo ngược, chánh trị tàn ác, người Giao Chỉ đã có lòng oán giận lắm.

Bấy giờ ở huyện Mê Linh, có 2 chị em ruột, con gái quan Lạc Tướng tên là Trưng Trắc là Trưng Nhị. Hai chị em sớm mồ côi cha, nhưng có lòng yêu nước ghét giặc, nhờ mẹ là Bà Man Thiên, cháu chắt bên ngoại của vua Hùng, hết lòng dạy dỗ. Cả hai lại được ông Đỗ Năng Tế huấn luyện võ nghệ.

Hai chị em họ Trưng nung nấu ý chí chống quân xâm lăng, nên ra sức rèn luyện, liên kết với các thủ lãnh địa phương, chiêu mộ nghĩa quân.

Biết tiếng Trưng Trắc là người tài đức, nhiều người đến hỏi làm vợ nhưng Trưng Trắc đều từ chối.

Lúc đó, ở huyện Chu Diên, có người tên là Thi Sách, con trai của một quan Lạc Tướng, là một thanh niên tài trí, nghe tiếng Trưng Trắc thì đến ra mắt để cùng mưu việc lớn. Sau hai người mến đức trọng tài, nên kết thành vợ chồng.

Tô Định được mật tin cho biết về cuộc vận động khởi nghĩa của Trưng Trắc và Thi Sách, thì đùng đùng nổi giận, nhưng vốn xảo quyệt, nên Tô Định giả vờ như không biết gì. Theo lệ thường, y cho mời Thi Sách tới, rồi trở mặt, bắt Thi Sách giết đi để đập tan phong trào khởi nghĩa của dân Việt.

Nhận thấy thời cơ đã đến, mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng lập đàn thề tại cửa sông Hát, truyền lệnh khởi nghĩa. Trong bộ võ phục trang nghiêm, Trưng Trắc dõng dạc cất lên 4 lời thề nổi tiếng mà sử ca dân gian còn ghi lại :

Một xin rửa sạch nước thù,

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng.

Ba kẻo oan ức lòng chồng,

Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh nầy.

(Thiên Nam ngữ lục)

Cả rừng người rung chuyển, gươm giáo giơ lên theo lời thề vang dội một vùng Trời.

Lời kêu gọi diệt giặc cứu nước của Hai Bà như tiếng sấm vang truyền. Người yêu nước khắp nơi kéo đến Mê Linh tụ nghĩa, tập hợp dưới cờ của Hai Bà có : Đỗ Năng Tế, Ông Đống, Ông Nà, Nguyễn Tam Chinh, Hoàng Đạo, Chu Thước, Đô Dương, . . . đặc biệt có nhiều Nữ Tướng như : Bà Lê Chân, Thánh Thiên, Hoàng thiều Hoa, Bát Nàn, Bảo Diệu Tiên, Liễu Giáp, Liễu Huy, Ả Di, Ả Tắc, . . . , từ Thanh Hóa, cả 5 mẹ con bà Lê thị Hoa đều kéo đến Mê Linh hợp binh.

Lúc bấy giờ, những quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cũng nổi lên theo về 2 Bà Trưng. Hai Bà Trưng kéo quân đánh Tô Định. Tô Định liên tiếp bị thua mấy trận, sợ quá bỏ cả của cải, ấn tín, cắt tóc, cạo râu, mặc quần áo giả dạng dân thường, lẫn vào đám quân hỗn loạn chạy về quận Nam Hải.

Hai Bà Trưng liên tiếp thắng trận, không bao lâu thu phục được 65 thành trì, tức là toàn bộ nước ta thời đó.

Nhân dân ta được tự chủ sau hơn 220 năm mất nước. Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh, là chỗ quê nhà. Năm đó là năm 41 sau Tây lịch.

Vua Hán Quang Vũ tức giận, sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng quân, Lưu Long làm Phó Tướng, cùng với quan Lâu Thuyền Tướng quân là Đoàn Chí, sang đánh Trưng Vương.

Mã Viện là một danh tướng của nhà Hậu Hán, lúc bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, nhưng vẫn còn mạnh, đem quân đi men theo bờ biển, phá rừng đào núi làm đường sang đến Lạng Bạc, gặp quân Trưng Vương, hai bên đánh nhau mấy trận. Quân của Trưng Nữ Vương chưa được luyện tập kỹ, chưa thiện chiến, nên không đương cự nổi đoàn quân thiện chiến của Mã Viện, đã từng đánh giặc nhiều phen.

Hai Bà rút quân về đóng ở Cẩm Khê (phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên). Mã Viện tiến quân lên đánh, quân của Hai Bà vỡ tan cả. Hai Bà chạy về đến xã Hát Môn thuộc huyện Phúc

Lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn Tây), thế bức quá, bèn gieo mình xuống sông Hát Giang (chỗ sông Đáy tiếp giáp với sông Hồng Hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm Quí Mão (43).

Những tướng của Hai Bà như Đô Dương, Chu Thước, Nàng Tía rút quân về nam, giữ huyện Cư Phong thuộc Cửu Chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, phải vất vả lắm mới đàn áp được.

Tuy Hai Bà Trưng chỉ làm vua được 3 năm (từ năm 40 đến năm 43), nhưng lấy cái tài trí của người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng đủ lưu lại tiếng thơm muôn đời.

Sử gia Lê văn Hưu nói rằng : “ Trưng Trắc Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng Vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô, hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ cho người Tàu mà không biết xấu hổ với 2 người đàn bà họ Trưng.”

Sử gia Ngô thời Sĩ (1726-1780) sau nầy đã phê luận về Hai Bà Trưng như sau :

“ Vương là người nữ, mà ho lên một tiếng, lại đuổi được Thái Thú xứ Ngô như đuổi một kẻ nô bộc, và lấy lại được đất Ngũ Lĩnh, kiến quốc, tự xưng làm vua, thật cũng là một trang hào kiệt trong làng Nữ lưu.

Nhưng tài đàn bà yếu ớt, đương khi vận nước còn bĩ, nên không làm xong được công nghiệp.”

“ Bà Trưng là một người đàn bà thường mà nổi lên được thì thực là khó lắm ! Tuy vậy chớ chưa lấy làm kỳ cho mấy. Đến như vợ trả thù chồng, em giúp việc chị, thì một vị là tiết phụ, một vị là nghĩa nữ, đều ở vào cả một nhà, ấy mới là kỳ cho !

Bà chị đã mất vì nước, bà em cũng tuẩn tiết theo chị, đã không chịu đầu hàng, mà cũng không để cho mình bị bắt, thì ông chồng ở dưới đất kia lại nhắm mắt yên, mà kẻ gian tà trông thấy vậy, tất phải cúi đầu.

Chết rồi mà tiếng thơm vẫn còn ! Thế mới càng là kỳ nữa !

Ôi thôi ! Hồng nhan trẻ đẹp, xưa nay chôn vùi đã biết bao ! Song từ khi Bà Nữ Oa làm việc động Trời đến nay, thì mới chỉ có Hai chị em Bà Trưng nữa đấy thôi.

Thực là những lời thậm xưng đúng mức và cũng đúng sự thật trong lịch sử loài người.

Khắp trên thế giới, từ xưa đến nay, có rất nhiều Bà nhờ thế cha hay chồng mà lên ngôi vua, lung lạc cả nước, chứ chưa hề có một Bà nào như Bà Trưng mà đạp đổ được chế độ thực dân, vào sinh ra tử, đã dựng lên một nền độc lập.”

Top of Page

14. Đào Viên kết nghĩa

Đào viên kết nghĩa là 3 vị anh hùng : Lưu Bị, QuanVõ, Trương Phi, tế cáo Trời Đất thề nguyền kết nghĩa anh em với nhau tại Vườn Đào, hoạn nạn cùng lo, giàu sang chung hưởng.

Thời ấy là đời vua Linh Đế (167- 189) nhà Hậu Hán nước Tàu, vua lên ngôi lúc 12 tuổi, Đậu Thái Hậu phải ra lâm triều cầm quyền nhiếp chánh. Khi lớn lên, vua Linh Đế nhu nhược, không lo chỉnh đốn triều chánh, tin dùng bọn gian thần, ăn chơi xa xỉ, nặng thu thuế khóa, khiến dân chúng cùng khổ, loạn lạc nổi lên khắp nơi.

Lúc bấy giờ có giặc Huỳnh Cân (Khăn Vàng) do 3 anh em Trương Giốc, Trương Bảo, Trương Lương cầm đầu nổi lên rất mạnh, định tiêu diệt nhà Hậu Hán. Trương Giốc đem đại binh tiến đánh U Châu.

Quan Thái Thú U Châu là Lưu Yên, vốn dòng tôn thất nhà Hán, thấy tình thế khẩn trương, vội triệu tập quan Hiệu Úy Châu Tỉnh vào nghị kế. Châu Tỉnh nói :

- Quân giặc đông như nước lũ, quân ta ít không thể nào ngăn nổi. Minh Công nên gấp rút chiêu mộ nghĩa binh mới có thể giữ được Châu nầy.

Lưu Yên nghe theo, liền cho treo bảng khắp nơi chiêu mộ nghĩa binh. Ngày kia bản văn đến Trác Huyện, dân chúng ra xem đông nghịt.

Trong số dân chúng ấy có một vị anh hùng tính tình khoan hòa ít nói, mừng giận không lộ ra sắc mặt, nhưng có chí lớn, thường kết giao với những anh hùng hào kiệt trong thiên hạ. Người nầy mình cao 8 thước, tai lớn như chảy xuống hai vai, 2 tay dài quá gối, mắt sáng như bạch ngọc, môi đỏ như son, họ Lưu tên Bị, tự là Huyền Đức, vốn dòng dõi Trung Sơn Tỉnh Vương Lưu Thắng nhà Hậu Hán. Thân phụ của Lưu Bị là Lưu Hoằng, thi đậu Hiếu Liêm, ra làm quan nhưng chẳng may mất sớm. Huyền Đức mồ côi cha, thờ mẹ rất có hiếu, tánh ham học, nhưng nhà nghèo, phải tạm làm nghề đóng dép và dệt chiếu để sinh sống.

Chú của Lưu Bị là Lưu nguyên Khởi tìm cách giúp đỡ Lưu Bị đi học. Năm lên 15 tuổi, Lưu Bị học với Trịnh Huyền và Lư Thực, kết bạn với Công Tôn Toản.

Đến nay Lưu Bị được 28 tuổi. Hôm ấy đọc bảng chiêu quân, Lưu Bị cảm khái thở dài một tiếng. Bỗng nghe phía sau có tiếng người nói :

- Đại trượng phu phải vì quốc gia mà ra sức, chớ than thở có ích lợi gì ?

Lưu Bị quay đầu nhìn lại thấy một người mình cao 8 thước, mặt dữ như cọp, mắt ốc tròn xoe, hàm én râu hùm, tiếng nói rền như sấm, biết người nầy không phải tay tầm thường, Lưu Bị bèn hỏi thăm tên họ. Người ấy nói :

- Tôi họ Trương, tên Phi, tự là Dực Đức, ông cha mấy đời ở nơi Trác Quận nầy, làm nghề bán rượu mổ thịt, nên tôi cũng có chút ít ruọâng vườn, thích kết giao với anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, nay thấy ông xem bảng chiêu quân mà than thở, nên tôi nói thử.

Lưu Bị nói :

- Tôi vốn dòng dõi người trong thân tộc nhà Hán, họ Lưu tên Bị, tự là Huyền Đức, đáng lẽ trong lúc giặc Huỳnh Cân dấy loạn, tôi phải góp phần cứu nước an dân, nhưng vì sức chưa làm được nên đau lòng thở dài như thế.

Trương Phi nói :

- Nhà tôi cũng có chút ít của cải, tôi muốn bỏ ra để tuyển mộ một đoàn hương dũng, rồi cùng ông cử hành đại sự, ông thấy có nên không ?

Lưu Bị rất mừng, vội nắm tay Trương Phi dắt vào quán rượu đàm đạo tiếp.

Trong lúc 2 người đang hăng say bàn chuyện thì bỗng thấy một hảo hán đẩy một chiếc xe để ngoài cửa, bước vào quán, lớn tiếng gọi tửu bảo :

- Đem rượu thịt ra đây, hôm nay ta uống cho say một bữa để ngày mai đầu quân giết giặc Huỳnh Cân.

Lưu Bị liếc nhìn thấy người ấy mình cao 9 thước, mặt đỏ như thoa son, mắt phượng mày ngài, tướng mạo đường đường oai dũng.

Biết người nầy cũng là một tay hảo hán nên Lưu Bị đứng dậy đến mời hảo hán ấy đến ngồi chung bàn, rồi hỏi thăm danh tánh. Người ấy đáp :

- Tôi họ Quan, tên Võ, tự là Vân Trường, người đất Giải Lương tỉnh Hà Đông. Nhân vì vùng tôi ở có một tên thổ hào ỷ thế hiếp bức dân lành, tôi nổi giận giết chết nó rồi bỏ đi lánh nạn, phiêu bạt giang hồ đã hơn 5 năm, giờ đây muốn đầu quân trừ giặc cứu nước.

Lưu Bị cũng đem chí nguyện của mình ra bày tỏ. Quan Võ mừng rỡ uống 3 chung rượu, rồi cùng nhau dắt về nhà của Trương Phi bàn bạc tiếp. Trương Phi nói :

- Muốn làm nên việc lớn, cốt phải hiệp sức đồng tâm mới được. Sau nhà tôi là một Vườn Đào đang tiết trổ bông, ngày mai chúng ta đến đó tế cáo Trời Đất kết làm anh em, khởi lo việc lớn.

Lưu Bị và Quan Võ đồng thanh khen phải.

Ngày hôm sau, Trương Phi sai gia nhân mổ trâu đen, ngựa trắng, bày đủ lễ trong Vườn Đào. Ba người đứng trước Hương án, vái 2 vái, rồi cùng thề rằng :

“ Ba chúng tôi là : Lưu Bị, Quan Võ, Trương Phi, tuy khác họ nhưng kết làm anh em, quyết đồng tâm hiệp lực cứu khổn phò nguy, trên báo đáp quốc gia, dưới giúp yên bá tánh. Chúng tôi không mong sanh cùng năm cùng tháng cùng ngày, chỉ nguyện được chết cùng ngày cùng tháng cùng năm. Xin

Hoàng Thiên Hậu Thổ chứng giám lời thề nguyền nầy, ai bội nghĩa có Trời Đất tru diệt. “

Thề xong, ba anh em đồng lạy. So tuổi tác thì Lưu Bị được tôn là anh cả, kế đó là Quan Võ và Trương Phi là em út.

Trương Phi sai bắt trâu dê trong chuồng đem mổ làm một bữa tiệc lớn tại Vườn Đào, mời tất cả dũng sĩ trong vùng đến ăn uống. Các dũng sĩ tề tựu có đến 300 người, vui say một bữa. Hôm sau, mọi người chia nhau đi thu thập khí giới, mọi việc tạm ổn, chỉ còn một nỗi là thiếu ngựa trận để cỡi.

Trong lúc đang lo tính, bỗng có người vào báo : “ Có 2 thương khách cùng đoàn tùy tùng dẫn một bầy ngựa khá đông đang đi về hướng trang trại nầy.”

Lưu Bị mừng rỡ nói : - Đây là Trời giúp ta đó.

Ba anh em vội đón tiếp hai vị khách thương, mời vào trang trại. Hai người nầy là 2 thương gia lớn ở đất Trung Sơn, tên là Trương thế Bình và Tô Song, hằng năm thường lên miền Bắc mua giống ngựa khỏe đem về Tràng An bán. Nay miền đất nầy có giặc, nên không đem ngựa qua được.

Trương Phi hối gia nhân dọn tiệc đãi đằng 2 vị khách thương và đoàn tùy tùng, rồi tỏ bày chí hướng của 3 anh em, muốn khởi nghĩa giết giặc cứu an bá tánh. Hai người khách ủng hộ, hiến 50 con ngựa khỏe, lại tặng 500 lượng vàng và 1000 cân thép tốt để rèn võ khí và làm giáp trụ. Ba anh em vô cùng cảm động trước nghĩa cử của 2 vị khách thương. Khách kiếu từ, Lưu Bị tiễn chân đến vài dặm đường mới trở lại.

Lưu Bị cậy thợ rèn giỏi chế tạo một đôi Song Cổ kiếm, Quan Võ chế tạo một cây Thanh Long đao, Trương Phi chế một cây Bát Điểm Cương mâu. Ai nấy đều trang bị cương giáp, rồi kéo 300 dũng sĩ đến ra mắt Thái Thú Lưu Yên. Lưu Yên hỏi danh tánh, 3 anh em đều xưng rõ tên họ, riêng Lưu Bị còn nói cho Lưu Yên biết mình là tông phái Hoàng gia, được Lưu Yên nhận làm cháu.

Vào thành được vài hôm thì quân thám thính vào báo :

- Tướng giặc Huỳnh Cân là Trình viễn Chí thống lãnh 5 vạn quân kéo đánh Trác Quận.

Lưu Yên liền sai Châu Tỉnh dẫn 3 anh em Lưu Bị cùng hơn 300 quân nghĩa dũng với một đạo binh đi phá giặc.

Ba anh em Lưu Bị lãnh đi tiền đạo, trực chỉ đến chân núi Đại Hưng, thấy quân giặc cũng vừa kéo tới. Lưu Bị liền thúc ngựa ra trận, bên tả có Quan Võ, bên hữu có Trương Phi, thét mắng quân giặc :

- Phản loạn, đừng hòng múa rối, mau xuống ngựa qui hàng.

Trình viễn Chí nổi giận, sai Phó Tướng Đặng Mậu ra đánh. Đặng Mậu vừa xông ra, bị Trương Phi quất ngựa nhảy đến đâm một xà mâu trúng ngay giữa ngực, ngã xuống chết liền. Trình viễn Chí nổi giận múa đao xông tới đánh Trương Phi, Quan Võ vung Thanh Long đao cản lại, vớt Viễn Chí một đao đứt làm 2 đoạn. Quân giặc Khăn Vàng thấy chủ tướng đã bị hại nên hoảng hốt bỏ chạy. Lưu Bị xua quân đuổi đánh, chúng đầu hàng nhiều vô số.

Lưu Bị dẫn đoàn quân đắc thắng trở về, được Thái Thú Lưu Yên ra tận ngoài thành tiếp đón và khen tặng.

Bài thơ khen Trương Phi, Quan Võ thắng trận đầu tiên :

Anh hùng xuất trận buổi ban đầu,

Một thử long đao, một thử mâu.

Khí tiết rạng ngời oai lực khét,

Chia ba thiên hạ rạng anh hào.

Từ đó về sau, 3 anh em Lưu Quan Trương luôn luôn giữ chặt tình nghĩa với nhau, thương yêu nhau như anh em ruột thịt, kết thành một khối đoàn kết mạnh mẽ, rồi sau, nhờ có Khổng Minh Gia Cát Lượng ra giúp làm Quân Sư, khiến thanh thế của 3 anh em lừng lẫy, làm chúa một vùng rộng lớn phía Tây nước Tàu, phía Bắc chống cự với Tào Tháo, phía Đông hoà hoãn với Ngô Tôn Quyền, tạo thành thế chia 3 Thiên hạ, gọi là thời TAM QUỐC.

Top of Page

15. Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện

Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện là vua Minh Hoàng nhà Đường đi lên chơi Cung Trăng.

Nguyên vua Đường Minh Hoàng là Thái Tử Long Cơ, nối ngôi vua cha là Đường Duệ Tông vào năm 713, xưng hiệu là Đường Huyền Tông, thường gọi là Đường Minh Hoàng, trị vì được 43 năm. Minh Hoàng có một ái phi là nàng Dương ngọc Hoàn, hiệu là Thái Chân, thường gọi là Dương Quí Phi. Nàng có sắc đẹp tuyệt trần, lại thông tuệ, nhà vua say đắm ở luôn trong cung với nàng, giao hết việc triều chánh cho Tể Tướng Lý Lâm Phủ.

Bấy giờ An Lộc Sơn, người Hồ, làm Tiết Độ Sứ hai trấn Bình Lư và Phạm Dương, thường khéo phụng sự Lý Lâm Phủ và Dương Quí Phi để mua lòng, lại được Dương Quí Phi nhận làm con nuôi, nên rất dễ ra vào cung cấm.

Năm 755, An Lộc Sơn cử binh làm phản, đem quân đánh chiếm Hà Bắc, Hà Nam, hãm thành Lạc Dương, tự xưng là Yên Đế, rồi kéo binh vào đánh Tràng An.

Vua Đường Minh Hoàng và quần thần tướng sĩ bỏ chạy vào đất Thục. Khi đến chân núi Mã Ngôi, các tướng sĩ ta oán, cho rằng giặc An Lộc Sơn nầy là do Dương quốc Trung và Dương Quí Phi nuôi dưỡng mà ra, nên nổi lên bắt Dương quốc Trung chém chết, rồi buộc vua Đường Minh Hoàng phải bắt Dương Quí Phi thắt cổ chết. Nếu vua không chịu giết Dương Quí Phi thì các tướng sĩ không cầm vũ khí chống giặc. Minh Hoàng không làm sao khác hơn, đành buộc Dương Quí Phi

thắt cổ chết. Sau đó các tướng sĩ đưa nhà vua đến Thành Đô.

Trong lúc đó Thái Tử Hanh lên ngôi vua ở Linh Võ tỉnh Cam Túc, xưng hiệu là Đường Túc Tông, tôn vua Đường Huyền Tông lên làm Thái Thượng Hoàng. Vua Túc Tông nhờ các tướng giỏi như Quách Tử Nghi, Lý quang Bật, đánh An Lộc Sơn, lấy lại được Tràng An, lần lần diệt hết bọn giặc An Lộc Sơn, rước Minh Hoàng từ Thành Đô trở về Tràng An.

Theo sách Dị Văn Lục, Minh Hoàng, từ ngày mất nàng Thái Chân , thường âu sầu buồn bã. Minh Hoàng nhờ các Đạo sĩ làm phép cho Minh Hoàng xuất hồn đi kiếm nàng Thái Chân nơi các cõi Vô hình, nhưng không gặp. Có người mách cho biết là nàng Dương Quí Phi hiện đang ở Cung Trăng.

Vào đêm rằm tháng 8, tiết Trung Thu trăng tỏ, có một Đạo sĩ pháp thuật cao cường là La Công Viễn, làm phép ném cây gậy lên không trung, hóa thành chiếc cầu vòng đưa Minh Hoàng và La Công Viễn đi lên Nguyệt điện. Minh Hoàng đi đến nơi, thấy một tòa cung điện nguy nga, bên ngoài có tấm bảng đề là : QUẢNG HÀN CUNG, THANH HƯ PHỦ.

Đạo sĩ dẫn đường đi vào hiên Tây, gõ cửa. Một Tiên Nữ hiện ra xưng tên là Tiểu Ngọc. Đạo sĩ nhờ Tiểu Ngọc vào báo tin cho nàng Thái Chân biết là có Đường Minh Hoàng đến tìm thăm viếng. Nàng Thái Chân được báo tin, giựt mình trở dậy, sửa lại xiêm y, vén rèm châu bước ra, mặt hoa ủ dột, nước mắt chan hòa, nhìn Minh Hoàng đăm đăm, cảm tạ nhà vua đoái hoài đến thăm nàng. Sự gặp gỡ bất ngờ giữa 2 khách đa tình, kẻ tục người Tiên, khiến cả hai chan hòa lệ thảm.

Như để giải khuây niềm sầu muộn, các Tiên Nữ nơi Quảng Hàn Cung kéo ra dưới bóng cây Quế, xiêm y rực rỡ năm sắc cầu vòng, lả lướt múa hát điệu nhạc réo rắc não nùng.

Đã hết giờ viễn du, Đạo sĩ La Công Viễn đưa hồn Minh Hoàng trở về trần thế trong niềm lưu luyến ai hoài.

Lòng Minh Hoàng nhớ thương không nguôi, mới gọi các vũ nữ trong cung tới, cho mặc quần áo giống như các nàng Tiên ở cung Trăng, rồi tập múa hát giống như các nàng Tiên ấy, để mỗi khi Minh Hoàng buồn nhớ nàng Thái Chân, thì gọi vũ nữ ra múa hát, gọi là khúc Nghê Thường Vũ Y, như nuối tiếc một thời yêu cũ cho đỡ niềm cô quạnh.

Top of Page

16. Huyền sử Ông Thầy không tên

Huyền sử là lịch sử huyền diệu. Ông Thầy là chỉ Đức Chí Tôn, vì trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn dùng huyền diệu cơ bút mở Đạo Cao Đài, Ngài xưng mình là Thầy, và gọi các tín đồ là môn đệ (học trò).

Không tên : Chữ Hán là Vô danh.

Trong Đạo Đức Kinh, Đức Lão Tử có viết :

Đạo khả Đạo phi thường Đạo,

Danh khả Danh phi thường Danh.

Vô Danh Thiên Địa chi thủy,

Hữu Danh vạn vật chi mẫu.

Nghĩa là : - Đạo mà có thể giải được thì không phải là cái

Đạo trường cửu,

-Danh mà có thể gọi được Tên thì không phải là cái Danh còn mãi mãi.

-Cái Vô Danh là khởi thủy của Trời Đất,

-Cái Hữu Danh (Có Tên) là mẹ của vạn vật.

Vậy cái Vô Danh (Không Tên) ấy, Đức Lão Tử gọi là Đạo, và Giáo lý của Đạo Cao Đài gọi nó là Hư Vô chi Khí, và Hư Vô chi Khí sanh ra Đức Chí Tôn.

Vậy, Ông Thầy không tên là chỉ Đức Chí Tôn.

TNHT.I. 32 : “ Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Còn mấy Đấng Thầy kể đó ai sanh ? Ấy là Đạo, các con nên biết. Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn khôn Thế giới nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy.”

Huyền sử Ông Thầy không tên là nói về lịch sử huyền diệu của Đức Chí Tôn.

Bức tranh Huyền sử Ông Thầy không tên, vẽ hình một người đàn ông (tượng trưng Đức Chí Tôn) bị bắn một mũi tên ghim vào bả vai chảy máu, để chỉ rằng : Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ của toàn cả chúng sanh. Toàn cả nhơn loại đều là con cái của Ngài, hầu hết đều tỏ ra hiếu hạnh với Ngài, nhưng cũng có vài đứa phản bội lại Ngài, sự phản bội ấy được tượng trưng bằng mũi tên oan nghiệt ghim vào bả vai của Ngài.

Nhưng Đức Chí Tôn Đại Từ Phụ đều thương yêu tất cả, thương yêu cả những đứa con phản nghịch, chỉ mong một ngày nào đó, nó hối hận trở về. Lòng thương yêu vô bờ bến ấy chỉ có duy nhứt nơi Đức Chí Tôn mà thôi. Nhưng các Đấng Thần Thánh Tiên Phật không thể tha thứ tội lỗi của những đứa con phản nghịch, vì nó trái với luật Công Bình thiêng liêng, trái với luật Nhân Quả, nên phải có những hình phạt thích đáng.

TNHT. I. 108 : “Mỗi phen Thầy đau thảm khóc lóc các con, phải lén hạ trần, quyết bỏ ngôi Chí Tôn xuống lập Đạo, lại bị các con bạc đãi, biếm nhẽ, xua đuổi, bắt buộc đến đổi phải chịu cho các con giết chết. Ôi ! Thảm thay ! Thảm thay ! Các mối Đạo Thầy đã liều thân lập thành đều vào tay Chúa Quỉ hết, nó mê hoặc các con. Nhiều bậc Thiên Tiên còn bị đọa, huống lựa là các Chơn thần khác của Thầy đương nắn đúc thế nào thoát khỏi.

Thầy đã chẳng trách phạt Kim Quang Sứ, lẽ nào lại trách phạt các con. Song hình phạt của Thiên điều, dầu chính mình Thầy cũng khó tránh.

Các con tự lập hình phạt cho các con, cũng như Thiên điều mà chư Thần Thánh Tiên Phật lập thành đó vậy.”

Tóm lại, bức tranh “Huyền sử Ông Thầy không tên” là để răn lòng chúng ta, nhắc nhở chúng ta, toàn cả nhơn loại, phải luôn luôn hiếu hạnh cùng Đức Chí Tôn Đại Từ Phụ.

Top of Page

17. Trung Úy Võ Đông Sơ bình hải khấu

Trung Úy Là một chức quan võ. Hải khấu là bọn cướp biển. Bình hải khấu là trị yên bọn cướp biển.

Truyện “Võ Đông Sơ bình hải khấu” nầy lấy từ Tiểu thuyết “GIỌT MÁU CHUNG TÌNH” của tác giả Tân Dân Tử.

Võ Đông Sơ là con của Hoài Quốc Công Võ Tánh và Công Chúa Ngọc Du. Cha và mẹ của Võ Đông Sơ đều tử tiết trên ngọn lửa trung trinh của thành Bình Định lúc Võ Đông Sơ còn thơ ấu. Khi Đông Sơ lớn lên, tướng mạo đường đường là một trang thiếu niên anh tuấn, học thông cả văn và võ. Khi đậu thi Hương xong thì ra Thăng long thi Hội. Thuở ấy, triều đình mở khóa thi để tuyển một Tiến Sĩ tài kiêm văn võ, nên thi cả 2 môn : Bữa trước thi Văn, bữa sau thi Võ. Võ Đông Sơ đi thi đều chiến hạng nhứt cả 2 môn. Vua Gia Long nơi triều đình Huế lấy làm đẹp ý, công nhận Võ Đông Sơ đậu Tiến Sĩ, xuống chiếu bổ làm chức Trung Úy, tùng sự dưới trướng của Tổng Trấn Bắc Hà Quận Công Lê văn Duyệt.

Lê Quân Công nói :

- Tiến sĩ Võ Đông Sơ là con Hoài Quốc Công, thật hổ phụ sanh hổ tử. Võ Tánh là bạn đồng liêu với ta trong lúc Ngài còn sanh tiền ở Gia Định. Nay Tiến Sĩ mới vừa thi đậu, chưa có công trạng gì, nên ta phái đi bình hải khấu vùng ven biển. Ta nghe quân hải khấu là Giặc Tàu Ô, thường ẩn trong các cù lao, xông ra cướp đoạt các thuyền thương hồ. Trung Úy ra Hải Dương, lãnh 20 chiến thuyền và 200 thủy binh mà đánh dẹp hải khấu, đồng thời do thám địa thế các cửa biển của tỉnh Quảng Đông Trung quốc, làm một bản đồ chi tiết nạp cho ta.

Võ Đông Sơ cúi đầu vâng lịnh, rồi trở về lữ quán, lòng vô cùng bối rối, vì dự định sau khi thi đậu Tiến Sĩ, Võ Đông Sơ sẽ làm lễ cưới với nàng Bạch Thu Hà, con gái của Binh Bộ Thượng Thơ tại triều đình.

Giai nhân và tráng sĩ đã thề ước cuộc trăm năm, mà nay chàng phải phụng mạng đi bình hải khấu thì biết chừng nào mới xong phận sự trở về mà vầy duyên cá nước.

Võ Đông Sơ nửa đêm lén đến Lương đình trong dinh quan Binh Bộ Thượng Thơ để gặp Bạch Thu Hà tỏ nỗi tâm tình và nói lời tạm biệt.

Bạch Thu Hà nói :

- Võ huynh ơi ! Đôi ta đã gieo lời ước thệ, thì dẫu có xa nhau đến vạn thủy thiên sơn, cũng phải giữ một lòng thiết thạch. Ngày nay Đấng Hóa Công muốn đem cái sầu ly biệt để thử thách lòng chúng ta có bền chặt hay không.

Bạch Thu Hà lấy chiếc áo hồ cừu đem tặng Võ Đông Sơ và nói :

- Đây là chiếc áo hồ cừu để sưởi ấm Võ huynh lúc trời Đông lạnh lẽo. Võ huynh thấy nó như thấy tiểu muội. Chàng hãy bảo trọng nơi chiến trường. Tiểu muội sẽ cầu nguyện Trời Phật cho Võ huynh bình an, khai thuyền đắc thắng.

Võ Đông Sơ nhận áo hồ cừu, từ giã người yêu, lòng buồn rười rượi, vội về lữ quán, xếp đặt hành trang đi Hải Dương ngay theo lịnh dạy.

Võ Đông Sơ đem 20 chiến thuyền từ Hải Dương lên Hải Phòng, phân làm 2 toán, giả trang là những thuyền buôn, súng ống và cung tên giấu trong khoan, cho một số ít binh sĩ ở trên thuyền, còn bao nhiêu đều ẩn kín trong khoan, đêm ngày tuần dọc theo ven biển.

Bữa nọ bỗng thấy một đám 10 chiếc thuyền của giặc Tàu Ô kéo tới, chúng tưởng thuyền của Võ Đông Sơ là thuyền buôn, nên lướt thẳng tới, giăng thành hàng ngang, không phòng bị chi cả. Khi tới gần chừng 100 thước thì giặc nổ súng thị oai, ra lịnh cho đoàn thuyền của Võ Đông Sơ xếp buồn lại.

Võ Đông Sơ liền ra lịnh kéo cờ đỏ lên, đoàn thuyền của Võ Đông Sơ giương thêm 3 cánh buồm lớn, tách ra bao vây đám Tàu Ô. Hai bên xáp chiến, tên bắn như mưa. Võ Đông Sơ thình lình nhảy qua thuyền chỉ huy của giặc Tàu Ô, hạ ngay tên đầu đảng trong chớp mắt, đám thủy binh bên ta hăng hái xông lên, bọn Tàu Ô hoảng sợ đồng loạt đầu hàng.

Võ Đông Sơ truyền lịnh thâu binh, đem 10 thuyền giặc Tàu Ô giải về Thăng long, báo công với Lê Tổng Trấn.

Nói về Bạch Thu Hà, gia đình nàng có tai biến, mẹ nàng đã mất lúc nàng còn nhỏ, cha nàng làm Binh Bộ Thượng Thơ tại triều đình Huế, bỗng đau nặng, thuốc thang không khỏi, gia nhơn phải đưa về Thăng Long, mấy hôm sau thì mất. Gia đình nàng bây giờ chỉ có 2 anh em : Anh Bạch Xuân Phương và nàng. Bạch Xuân Phương không giống cha, tánh tình tham lam độc ác, còn chị dâu là Trần thị chỉ biết có tiền. Cho nên sau khi mãn tang cha, Bạch Xuân Phương và vợ ép gả Bạch Thu Hà cho Vương Bích, một công tử giàu có nổi tiếng ăn chơi bậc nhất tại Thăng Long để được Vương Bích đền ơn nhiều của cải quí báu.

Bạch Thu Hà không thể nói cho anh mình biết mối tình của nàng với Võ Đông Sơ, vì anh nàng bị Đông Sơ đánh bại trong cuộc thi Võ Trạng nên rất oán hận Đông Sơ. Anh nàng đã ăn tiền của Vương Bích nên nhứt định bắt nàng phải ưng Vương Bích. Nàng đành trốn đi cùng với thể nữ Xuân Đào, mướn thuyền đi Hải Ninh tìm nhà dì ruột nương nhờ. Tên chủ thuyền thuộc loại gian ác, thấy Bạch Thu Hà và Xuân Đào, thân gái dặm trường, lại thấy có đeo nhiều nữ trang, nên dùng vũ lực cướp sạch tài sản, rồi đưa nàng và Xuân Đào bỏ nơi bãi vắng. May mà nó chỉ cướp tiền chớ không hãm hiếp.

Hai người lần bước lên bờ, gặp một khu rừng rậm, rồi cứ bước tới, mặc cho số mệnh đẩy đưa, tới tối mà chưa ra khỏi rừng, đành ngồi dưới tàn cây nghỉ mệt. Đến nửa đem, 2 người bị một con tê giác phát hiện và tấn công. May nhờ có một thợ săn đến kịp, đánh tê giác, cứu 2 nàng đem về sơn động.

Người thợ săn ấy là một thiếu nữ, tên Hoàng Nhị Cô, có người anh ruột là Hoàng Nhất Lang, là tay anh hùng võ dũng, nguyên là tướng của vua Quang Toản nhà Tây Sơn. Khi Quang Toản bị vua Gia Long bắt giết, Hoàng Nhất Lang cùng đám bộ hạ kéo vào rừng núi, hùng cứ một vùng, sống đời Lương Sơn Bạc. Nhị Cô thấy Bạch Thu Hà là trang khuê các dịu hiền, hương Trời sắc nước, nên rất thương mến, muốn gá nghĩa cùng anh ruột của nàng cho tình thêm thắm thiết.

Bạch Thu Hà vừa mới thọ ơn cứu tử của Nhị Cô, chưa tiện chối từ, mà cũng chưa dám thố lộ tâm sự cùng Nhị Cô, bị Nhị Cô ràng buộc mãi. Thu Hà rất đau lòng, chưa biết giải quyết ra sao, thì Nhị Cô tổ chức đám cưới cho anh và Bạch Thu Hà. Bạch Thu Hà túng thế, nên quyết tâm liều mình, bèn viết một bức thơ lâm ly thống thiết để lại cho Nhị Cô, rồi nửa đêm lén liều mình nhảy xuống vực sâu tử tiết.

May mắn thay có một người tên Triệu Dõng đi thuyền ngang vực sâu, cứu kịp, hỏi ra mới biết nàng là Bạch Thu Hà, người tình của Võ Đông Sơ, mà Võ Đông Sơ lại là ân nhân và cũng là nghĩa huynh của Triệu Dõng. Triệu Dõng đưa Bạch Thu Hà về nhà, có cô em là Triệu Nương hết lòng săn sóc Thu Hà, và coi Thu Hà như là chị dâu.

Bữa nọ, Triệu Nương rủ Bạch Thu Hà đi lễ chùa Tây Hà nhằm tiết Trung Nguơn, bỗng thấy trước chùa có lập đàn chay, trên bàn hương án có bài vị đề là :

“ĐÔNG KINH NỮ CÔNG TỬ BẠCH THU HÀ CHI LINH VỊ” “Ngự Lâm Quân Đô Úy Võ Đông Sơ phụng lập”

(Đông kinh : Tên gọi thành Thăng Long).

Hai người nhìn tấm linh vị rất kinh ngạc, lại hy vọng có Võ Đông Sơ ở tại đây, liền đi vào chùa hỏi sư trụ trì.

Thiền sư cho biết : “Cách nay gần một tháng, quan Đô Úy Võ Đông Sơ đến chùa nầy, nói có người thân của Ngài là Nữ Công tử Bạch Thu Hà ở Thăng long đã nhảy xuống biển tự tử, Ngài rất thương tiếc, nên xuất tiền yêu cầu chùa lập đàn chay cầu siêu cho Thu Hà và phụng tự.” Bạch Thu Hà hỏi :

- Bạch Thiền sư, Võ Đông Sơ còn ở đây không ?

- Đô Úy đã đi tuần thú ở ải Nam Quan, chẳng biết chừng nào trở lại.

Chẳng hỏi được việc gì thêm, Bạch Thu Hà và Triệu Nương từ giã Thiền sư ra về. Đến cổng chùa, bỗng gặp Bạch Xuân Phương và Vương Bích dắt nhau đi tới. Thì ra 2 người nầy đi tìm kiếm Bạch Thu Hà, kể từ khi Bạch Thu Hà trốn đi khỏi nhà. Nhờ có Triệu Nương che chở, Bạch Thu Hà chạy thoát về nhà, gặp Triệu Dõng nàng mới yên tâm bớt sợ.

Triệu Dõng lập kế đưa Thu Hà và Triệu Nương trốn thoát Bạch Xuân Phương và Vương Bích, rồi dọc đường lại may mắn gặp được Võ Đông Sơ. Thế là thỏa nguyện. Hai người gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, kể lể hết sự tình gian nan nguy hiểm từ khi 2 người chia tay nhau ở Lương đình.

Võ Đông Sơ mướn xe đưa Bạch Thu Hà và 2 anh em Triệu Dõng về dinh của mình để nghỉ ngơi và hàn huyên tâm sự. Võ Đông Sơ nghĩ mình mồ côi cha mẹ, lại gọi đương kim Hoàng Thượng là cậu ruột, nên liền viết một tờ biểu kể rõ hết sự tình, xin Hoàng Thượng ngự bút tứ hôn cho chàng và Bạch Thu Hà. Biểu chương vừa gởi thì có chiếu chỉ của Hoàng Thượng dạy về việc binh rất gấp :

“Nay nhơn Thanh triều ỷ thế nước mạnh binh nhiều, xâm lấn bờ cõi nước ta, nên Trẫm phải ngự giá thân chinh, quyết đánh cùng quân Thanh một trận. Trẫm truyền cho Đô Úy Võ Đông Sơ lập tức lên Lạng Sơn, quản suất Võ Tam quân và theo Trẫm lãnh chức Ngự Tiền Hộ Giá.”

Đông Sơ đọc chiếu xong, lòng buồn vô hạn, nói với Thu Hà :

- Bạch muội, huynh đã viết biểu dâng lên Hoàng Thượng xin tứ hôn cho đôi ta, những tưởng đôi ta hết cơn ly biệt, vầy cuộc nhơn duyên, nào dè cái thời vận điên đảo cứ theo buộc ràng, làm cho phụng phải lìa loan, biết chừng nào mới vui vầy giai ngẫu ?

- Võ huynh ơi ! Cũng thật đau lòng đó, nhưng phận làm tôi, đã hưởng tước lộc của triều đình thì phải rán ra công đền đáp, nhứt là lúc nước nhà bị ngoại bang xâm lấn. Muội sẽ hằng đêm cầu nguyện cho huynh được bình an trong chốn mũi đạn đường tên, sớm ca khúc khải hoàn, chừng ấy đôi ta sum hiệp, phỉ tình thương nhớ.

Võ Đông Sơ kêu Triệu Dõng đến nói rằng :

- Nay gặp lúc quân Tàu xâm lấn, Hoàng Thượng đang trọng dụng nhơn tài, nghĩa đệ nên theo huynh để huynh tiến cử lên Hoàng Thượng mà ra sức lập công, chẳng nên để mai một cái tài của kẻ anh hùng mà lỗi phận nam nhi trên đường nghĩa vụ. Còn Triệu Nương thì ở lại đây bầu bạn cùng Bạch muội, chờ 2 ta trở về.

Hai người sửa soạn hành trang, từ giã Bạch Thu Hà và Triệu Nương, lên đường thẳng đến Lạng Sơn, ra mắt Hoàng Thượng.

Hoàng Thượng đặc cách phong Triệu Dõng làm chức Thiếu Úy, theo Võ Đông Sơ lập công. Sau đó, nhà vua truyền cho các đạo binh lên ải Nam Quan.

Đội Tiền quân bị quân Tàu chận đánh, rồi lần lần quân Tàu kéo đến càng lúc càng đông, vây chặt đạo quân của nhà vua vào giữa. Tuy quân ta ít, nhưng chiến đấu rất dũng cảm, hàng ngũ chỉnh tề, quân Tàu tuy đông nhưng chưa làm gì được. Nhưng dần dần quân ta cũng núng thế, nhà vua nhíu mày lo ngại, ngó hàng võ tướng đang đứng xung quanh nói :

- Ai dám lãnh mạng xông ra thoát khỏi vòng vây đi kêu đạo binh Tả dực đến cứu ứng ?

Các võ tướng nhìn nhau, chưa ai dám ra lãnh mạng. Võ Đông Sơ liền bước tới xin đi. Triệu Dõng cũng bước ra xin theo Võ Đông Sơ trợ lực. Nhà vua thấy 2 tướng trẻ tuổi can đảm phi thường, rất đẹp ý, mừng rỡ dặn rằng :

- Cái trách nhiệm nầy rất yếu trọng và nguy hiểm, hai tướng phải tận tâm kiệt lực.

Hai tướng bái mạng, giục ngựa ra đi. Triệu Dõng nói :

- Nghĩa huynh cứ chạy trước, chúng nó có rượt theo thì tiểu đệ đảm đương.

Chưa thoát khỏi vòng vây, Triệu Dõng chẳng may bị một mũi tên bắn trúng vào ngực, phải bỏ mạng. Võ Đông Sơ rất đau lòng, liều chết thoát đi. Nhờ sức ngựa hay, vượt qua một khe sâu, chạy thoát khỏi vòng vây, chạy riết, gặp được đạo binh Tả dực đang đóng trong rừng. Võ Đông Sơ gấp rút tiến vào trung quân gặp Đô Đốc, trình lịnh của Hoàng Thượng, Đô Đốc tức tốc kéo quân đi tiếp ứng.

Võ Đông Sơ cùng tướng Tiên phong từ ngoài vòng vây đánh vào bất ngờ làm quân Tàu rối loạn, chết thôi vô số, nhưng Võ Đông Sơ bị trúng một viên đạn nơi lưng, máu tuôn lai láng.

Hoàng Thượng đang ngóng chờ viện binh, thấy có một đạo binh ở ngoài đánh vào, thì biết đó là binh cứu viện, liền cho lịnh tấn công từ trong đánh ra. Quân Tàu bị 2 mặt giáp công. Nhà vua nhìn thấy có một tướng đang nằm mọp trên mình ngựa, chạy đến, mình mẩy đẩm máu, nhìn kỹ thì ra tướng ấy là Võ Đông Sơ bị trọng thương, đến trước mặt Hoàng Thượng thì ngã xuống, thở hào hễn nói :

- Triệu Dõng đã tử trận, đạo binh Tả dực đã đến tiếp cứu, đang xáp trận.

Nói đến đây, Võ Đông Sơ kiệt sức, gục xuống tắt thở.

Nhà vua thương tiếc vô cùng, truyền đem xác Võ Đông Sơ tạm đặt nơi Hậu đình, để lo tiếp tục chiến đấu.

Trận ấy quân Tàu thua to, phải rút tàn quân trở về Tàu.

Hoàng Thượng hạ lịnh kéo quân trở về Lạng Sơn, khao thưởng tướng sĩ. Võ Đông Sơ được khâm liệm tử tế, đặt quan tài nơi Tùng đình, còn Triệu Dõng mất xác, không tìm được.

Nói về Bạch Thu Hà và Triệu Nương ở nhà trông ngóng tin tức, bỗng đâu 2 mí mắt của Bạch Thu Hàgiựt lia lịa, lòng phập phòng lo sợ. Nàng vội bước ra sân,vừa cúi xuống thì cây kim thoa giắt trên mái tóc bỗng rơi xuống gãy làm 2 đoạn.

Đến chiều, một tên bộ hạ của Võ Đông Sơ hớt hãi chạy vào báo tin : Quan Đô Úy Võ Đông Sơ và Triệu Dõng đều tử trận, hiện linh cữu đang quàn tại Tùng đình tỉnh Lạng Sơn.

Bạch Thu Hà nghe xong ngã xuống bất tỉnh. Triệu Nương còn gượng được, bế xốc Bạch Thu Hà vào nhà cứu tỉnh.

Khi tỉnh dậy, 2 chị em cùng ngồi than khóc, chờ sáng hôm sau, Triệu Nương dìu Bạch Thu Hà lên xe đi Lạng Sơn. 2 người được hướng dẫn đến Tùng đình, vào thấy quan tài với hàng chữ : “Ngự Tiền Hộ Giá Ngự Lâm Quân Đô Úy chi cữu”

Bạch Thu Hà ôm quan tài khóc ngất rồi nàng nằm dựa quan tài ngất lịm. Bạch Thu Hà mơ màng thấy một Võ tướng đẩy cửa bước vào, nhìn kỹ là Võ Đông Sơ, nàng mừng rỡ hỏi :

- Lang quân, giặc chưa yên mà sao chàng về đặng ?

- Quân giặc bị đánh đuổi đi rồi, nay tôi về đây rước nàng làm lễ nghinh hôn, động phòng hoa chúc.

Bạch Thu Hà vô cùng mừng rỡ, liền đi theo Võ Đông Sơ, đến một hoa viên đẹp, phía trong có một tòa nhà lớn, treo đèn kết hoa, nhạc trổi du dương. Võ Đông Sơ bảo Thu Hà :

- Đã tới phòng hoa, chúng ta vào đi.

Hai người bước vào phòng, má tựa vai kề, ân tình thắm thiết, thỏa lòng thương nhớ bấy lâu. Đông Sơ đứng dậy nói :

- Đêm nay trăng tỏ, chúng ta ra hoa viên ngắm trăng.

Rồi 2 người dắt dìu nhau đi ra khỏi Hoa viên, bỗng thấy một cái biển lớn, giữa biển có một trụ đá to, trên đó có khắc 3 chữ “TÌNH NGHIỆT HẢI”.

Bỗng thấy một con quỉ từ trụ đá nhảy ra lướt tới chụp Võ Đông Sơ. Chàng tràn qua tránh khỏi rồi rút kiếm chém nó một nhát. Thằng quỉ lui lại, há miệng phun vào Võ Đông Sơ một vòi máu làm cho mặt mày mình mẩy Võ Đông Sơ dính máu đỏ lòm. Chàng nổi giận, lấy kiếm đâm vào bụng thằng quỉ, tức thì chỗ đó lú ra một cái đuôi dài quấn chặt Võ Đông Sơ kéo xuống biển. Bạch Thu Hà hoảng kinh, nhảy tới chụp Võ Đông Sơ kéo lại, chẳng dè chụp nhằm cây kiếm để thờ Võ Đông Sơ nơi bàn hương án, thì giựt mình tỉnh lại, té ra là một cơn ác mộng.

Bạch Thu Hà ngẫm nghĩ lại quá chán nãn cuộc đời, bước lại bàn hương án đốt 3 cây nhang, vái Võ Đông Sơ rằng :

- Lang quân ôi ! Đôi ta mảng cái kiếp nhơn duyên cách trở, sống chẳng đặng cùng nhau đồng tịch đồng sàng, thì ngày nay, thiếp mượn cây kiếm nầy để thác theo chàng cho được đồng quan đồng huyệt.

Vái rồi, Bạch Thu Hà đâm gươm vào cổ chết, ngã lăn bên cạnh quan tài của Võ Đông Sơ.

Quan Tư Sự được báo cho biết, liền đến nơi khám nghiệm thi thể của Bạch Thu Hà, truyền tẫn liệm vào quan tài, đặt phía sau Tùng đình, rồi làm biểu tâu lên vua các việc.

Hoàng Thượng xem các biểu xong thì than rằng :

- Trước khi có giặc, Võ Đông Sơ có gởi cho Trẫm một tờ biểu chương bày tỏ sự tích của Bạch Thu Hà và xin Trẫm tứ hôn, kế gặp can qua chinh chiến, Trẫm chưa kịp tứ hôn thì Võ Đông Sơ tử trận, Bạch Thu Hà liều mình chết theo, thật đáng khen cho nàng là gái tiết hạnh trung trinh, trong đời ít có.

Vậy quan Lễ Bộ liệu định lẽ nào ?

- Theo ý hạ thần, Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà đã gá nghĩa nhơn duyên nhưng vì chiến tranh nên chưa tính đặng việc hôn phối cho rỡ ràng. Nay Bạch Thu Hà giữ lòng trinh liệt mà thác theo Võ Đông Sơ cho trọn nghĩa ân tình, thì cũng là người đàn bà đáng phong đáng ngợi. Vậy xin Hoàng Thượng ngự bút tứ hôn cho 2 người đặng danh tiết rỡ ràng.

Hoàng Thượng nghe xong truyền cho Lễ Bộ lập tờ Hôn Thú, rồi Hoàng Thượng ngự bút chứng phê, sắc phong Võ Đông Sơ là Võ Hiền Hầu, phong Bạch Thu Hà là Tiết Liệt Nhứt phẩm Phu Nhân, phong cho Triệu Dõng là Khinh Xa Trung Úy. Xong đâu đó, giao cho Lễ Bộ Thượng Thư sắp đặt việc tang chế và định ngày an táng.

Lễ Bộ Thượng Thư đọc bài Tuyên dương trước linh cữu của Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà, chép ra như sau :

“ Nghe rằng :

Có ly loạn mới rõ tôi hiền Chúa Thánh,

Gặp gian nguy mới biết vợ nghĩa chồng trung.

Trai như Đông Sơ đáng khí phách anh hùng,

Gái như Thu Hà đáng trung trinh liệt nữ.

Đã lắm lúc giang hồ lạc xứ,

Vẫn giữ niềm son sắt chẳng nguôi lòng.

Lại gặp khi tai nạn dập dồn,

Cũng gìn một nghĩa keo sơn không đổi dạ.

Lời thệ ước năm xưa vàng đá,

Phú thân danh chứng có Đất Trời.

Nghĩa tóc tơ chẳng đổi chẳng dời,

Lúc vực thẳm, lúc biển sâu,

Quyết một dạ thủy chung như nhứt.

Rủi Đông Sơ gặp lúc Mãn Thanh xâm lược,

Khiến ra duyên phận lỡ làng.

Thương Thu Hà vì căn mạng đảo điên,

Xui khiến nỗi sắt cầm lỗi nhịp.

Trai anh dũng nơi sa trường tử chiến,

Phận kiếm cung cho rõ mặt đứng trung thần.

Gái thuyền quyên vị nghĩa quyên sinh,

Lòng khảng khái cũng nên trang liệt nữ.

Xét cho tột, âm dương đồng nhứt lý,

Sống nhơn duyên thì thác cũng nhơn duyên.

Hoàng Thượng bút phê cho tác hợp hai bên,

Trước đặng câu danh tiết rỡ ràng,

Sau khỏi tiếng thị phi dị nghị.

Phong hai người phu vinh thê quí,

Gối du Tiên một giấc phỉ tình chung.

Phán hai hồn trung liệt thuận an,

Miền vân hạc ngàn năm vầy loan phụng.”

Đọc xong thì có 3 tiếng súng thần công báo hiệu giờ động quan. Hoàng Thượng ngự giá tống hành, theo sau là các quan văn võ, rồi kế là một đoàn kỵ mã theo hầu.

Đoàn người tiến thẳng vào một tòa miếu mới vừa xây dựng tại chơn núi, bên ngoài đề 4 chữ đại tự : CÔNG THẦN VÕ MIẾU, phía sau miếu là 2 cái huyệt cẩn đá xanh, chung quanh có 4 con sư tử đá ngồi chầu, mộ bia có khắc 2 hàng chữ

TRUNG LIỆT SONG THẦN

VÕ ĐÔNG SƠ - BẠCH THU HAØ chi mộ

Trong miếu chia làm 3 gian, gian giữa thờ Võ Đông Sơ, gian bên hữu thờ Bạch Thu Hà, gian bên tả thờ Triệu Dõng.

Phía sau là Hậu đường dành cho Triệu Nương và thể nữ Xuân Đào ở đó sớm hôm nhang khói phụng thờ.

Trước miếu có chạm đôi liễn :

- ĐỨNG ANH HÙNG MỘT THÁC ĐỀN ƠN NON NƯỚC VIỆT.

- GƯƠNG LIỆT NỮ NGÀN THU DANH RAÏNG ĐẤT TRỜI NAM.

Top of Page

18. Hạng Võ thất thủ thành Cai Hạ

Hạng Võ, người đất Cối Kê nước Sở, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ở với chú là Hạng Lương. Cha của Hạng Lương là Hạng Yên, tướng của nước Sở, bị Vương Tiễn, tướng của nước Tần giết chết. Hạng Võ không thích học chữ, cũng không thích học võ nghệ, bị chú Hạng Lương trách mắng. Hạng Võ nói :

- Học chữ chỉ làm bọn văn nhân, ngày ngày ghi ghi chép chép, còn học múa kiếm chẳng qua chỉ dùng để đánh lại vài người, cháu muốn học cái gì mà một người đánh được muôn người, như vậy mới mong đem thân ra tranh đấu với thiên hạ.

Hạng Lương thấy cháu có chí lớn như vậy thì đem binh pháp ra dạy, Hạng Võ chịu học, nhưng học để biết qua ý nghĩa vậy thôi chớ không đến nơi đến chốn.

Lúc bấy giờ vua Tần Thủy Hoàng mới chết, Hồ Hợi nối ngôi xưng là Tần Nhị Thế. Nước Tàu bắt đầu loạn lạc. Hạng Lương và Hạng Võ mưu việc nổi dậy ở Cối Kê, đến huyện đường Cối Kê, lập kế giết quan Thái Thú Ân Thông, chiếm đoạt ấn tín, chiêu dụ dân chúng, trưng tập quân sĩ.

Hạng Lương muốn chiêu dụ 2 tướng Hoàn Sở và Vũ Anh về hàng. Hai tướng muốn thử tài Hạng Võ, nên nói :

- Ở miếu Võ Vương có một cái đỉnh nặng mấy ngàn cân, nếu Hạng Võ lay nổi 3 lượt thì chúng tôi theo phò.

Hạng Võ liền đến bên đỉnh đồng, đẩy mạnh một cái, đỉnh ngã lăn chiêng, Hạng Võ lại đỡ đỉnh lên để lại chỗ cũ. Hoàn Sở và Vũ Anh vỗ tay tán thưởng. Hạng Võ nổi hứng, xăn tay áo lên, đến xách đỉnh đi 3 vòng quanh miếu, rồi để xuống, mặt không biến sắc. Mọi người đều khâm phục cho là Hạng Võ có sức mạnh vô địch. Thế là 2 tướng Hoàn Sở và Vũ Anh theo phò Hạng Võ.

Dân chúng lại cho biết cạnh núi Đồ Sơn có một con rồng đen hóa thành ngựa, phá hại dân chúng quanh vùng, không ai trị được. Hạng Võ đến nơi xem xét, con Thần mã chạy tới tấn công, vừa cắn vừa đá. Hạng Võ lừa thế, túm lấy bờm, đè mạnh xuống, Thần mã không sao vùng vẫy được. Hạng Võ liền nhảy lên cỡi, Thần mã chạy quanh 3 vòng không hất Hạng Võ xuống được nên mới chịu phục tòng, ngoan ngoãn nghe theo lời Hạng Võ. Hạng Võ thu phục được ngựa thần thì mừng rỡ vô cùng, đặt tên ngựa là Ô Truy.

Ngu Công cảm phục Hạng Võ, đem con gái là nàng Ngu cơ gả cho Hạng Võ.

Hạng Lương và Hạng Võ nghe theo lời của Quý Bố, đến thôn Cư Sào, thỉnh Phạm Tăng ra làm Quân Sư.

Phạm Tăng bàn mưu, tìm dòng dõi của vua Sở mà lập lên làm vua thì mới dễ thu phục nhơn tâm và anh hùng thiên hạ. Hạng Lương cho là phải, tìm được cháu vua Sở lập lên là Sở Hoài Vương.

Hạng Lương đem quân đánh Chương Hàm, một tướng của nhà Tần, bị Chương Hàm đánh cho một trận tơi bời, và Hạng Lương bị giết chết. Hạng Võ lên thay chú cầm binh.

Lúc bấy giờ thế quân chia làm 3 : Hạng Võ đóng binh phía Tây Bành Thành, tướng Lữ Thần đóng binh phía Đông Bành Thành, còn Lưu Bang đóng binh ở đất Đường. Sở Hoài Vương lập giao ước với Hạng Võ và Lưu Bang : Nếu ai lấy được Hàm Dương, kinh đô nhà Tần, trước thì người ấy làm vua, ai đến sau thì phải chịu làm bề tôi.

Lưu Bang nhờ có Quân Sư Trương Lương và các tướng giỏi nên đem quân đánh lấy được Hàm Dương trước Hạng Võ. Lưu Bang truyền niêm phong kho tàng, vỗ an bá tánh, cấm quân sĩ cướp phá, khiến người Tần đều mến phục.

Khi Hạng Võ đem binh tới, thế quân rất mạnh, buộc Lưu Bang đem Hàm Dương giao cho Hạng Võ. Hạng Võ đem binh vào Hàm Dương giết sạch quân Tần, đốt hết cung điện, nhà cửa, tịch thâu của cải, dân chúng vô cùng oán hận, lại càng cảm mến đức độ của Lưu Bang.

Hạng Võ bỏ lời giao ước trước đây, tự lập làm vua, xưng là Sở Bá Vương, đóng đô ở Bành Thành. Rồi phong :

-Lưu Bang làm Hán Vương, cai trị Ba Thục và Hán Trung, đóng đô ở Nam Trịnh.

-Chương Hàm làm Ung Vương, đóng đô ở Phế Khẩu.

-Tư Mã Hân làm Tắc Vương, đóng đô ở Lịch Dương.

-Đổng Ế làm Địch Vương, đóng đô ở Cao Nô.

-. . . vv . . .

Trương Lương làm Quân Sư cho Hán Vương, biết Hàn Tín là kẻ kỳ tài, tiến cử lên Hán Vương làm Phá Sở Đại Nguyên Soái. Hán Vương trao hết binh quyền cho Hàn Tín.

Hàn Tín cầm quân, đi tắt qua ngã Trần Thương, đánh úp Chương Hàm, lấy được Hàm Dương. Các chư Hầu khác lần lượt bị Hàn Tín đánh dẹp, chỉ còn Hạng Võ ở Bành Thành.

Trần Bình giúp kế cho Hán Vương ly gián Hạng Võ và Phạm Tăng. Hạng Võ mắc kế, nghi ngờ Phạm Tăng, khiến Phạm Tăng chán nãn, cáo lui về quê nhà,dọc đường đau bịnh chết.

Hạng Võ, từ khi mất Phạm Tăng, không còn ai chỉ dẫn đường lối, nên đánh đâu thua đó, bị bại trận ở Bành Thành, phải chạy về cố thủ ở thành Cai Hạ.

Trong thành Cai Hạ, binh ít, lương cạn, nhưng Hạng Võ không nao núng, với tài võ dõng vô địch, Hạng Võ đánh lui 60 tướng Hán. Hàn Tín nhận thấy không có viên tướng nào có thể đối địch cùng Hạng Võ, nên phải dùng mưu, cứ thắt chặt vòng vây cho đến khi trong thành Cai Hạ hết lương thực thì Hạng Võ ắt phải đầu hàng.

Lý Tả Xa bàn thêm, nếu trong thành hết lương thực, Hạng Võ liều chết đánh ra thì không ai đương cự nổi. Hơn nữa, dưới trướng của Hạng Võ còn các tướng tài như : Quí Bố, Chung Ly Muội, Chu Lan. Chi bằng làm cách nào để các tướng của Hạng Võ chán nãn bỏ đi hết thì binh sĩ cũng bỏ đi luôn, chỉ còn một mình Hạng Võ mới dễ đối phó.

Hàn Tín liền đến hỏi kế Trương Lương.

Trương Lương cho biết, hồi còn thanh niên, Trương Lương học thổi ống tiêu với một dị nhân, nên tiếng tiêu phát ra du dương u buồn não nuột, khiến người nghe động lòng nhớ quê hương. Nay đang độ tiết thu, cây cỏ hắt hiu, khung cảnh rất buồn. Tôi sẽ nhân lúc đêm khuya thanh vắng, lên núi Kê minh, thổi lên khúc tiêu sầu, chắc chắn binh sĩ của Hạng Võ nghe xong, buồn nhớ quê hương, tất bỏ hàng ngũ đi hết.

Nhờ tiếng tiêu của Trương Lương, tướng sĩ của Hạng Võ buồn chán, bỏ đi gần hết, tám ngàn quân mà chỉ còn lại mấy trăm người.

Hạng Võ thấy trước sự thảm bại sắp tới với mình, nên bày tiệc rượu tiễn biệt ái phi Ngu cơ. Ngu cơ dùng gươm tự sát để Hạng Võ rảnh tay thoát thân về Giang Đông, mưu đồ phục nghiệp. Hạng Võ đem tàn quân đánh với quân Hán mấy trận thật oanh liệt, rồi chạy đến bờ sông Ô Giang. Ông Đình trưởng chờ sẵn thuyền để đưa Hạng Võ trốn qua sông thoát nạn.

Nhưng Hạng Võ nghĩ mình là bực anh hùng cái thế, đến nước nầy sống càng thêm tủi nhục, nên kêu Đình trưởng tặng cho cái đầu của mình đặng nạp cho Hán Vương lãnh thưởng. Nói xong, Hạng Võ tự cắt đầu tự sát, hưởng 41 tuổi.

Có 3 nguyên do làm Hạng Võ thất thủ thành Cai Hạ :

1. Hàn Tín là tay mưu trí, biết Hạng Võ chỉ có tài võ dõng vô địch, ít mưu trí, nên tránh giao chiến với Hạng Võ, chỉ chia quân vây thành và tuyệt đường lương thực.

2. Trương Lương thổi lên tiếng sáo não nùng làm nãn lòng binh sĩ của Hạng Võ, khiến họ chán ghét Hạng Võ, bỏ đi gần hết.

3. Kể từ khi Phạm Tăng bỏ đi, Hạng Võ không có ai cố vấn, nên hành động thiếu sáng suốt, chỉ biết ỷ vào sức mạnh võ biền.

Top of Page

19. Sài - Triệu - Trịnh

1. SÀI : là Sài Vinh, tự là Quân Quới, người gốc ở Tịnh Vị Châu, ông cha thuở trước có làm quan, nhưng đến đời Sài Vinh thì sa sút, trở nên nghèo khổ, Sài Vinh phải đi bán dù. Tướng mạo của Sài Vinh như một thư sinh, trắng trẻo, ốm yếu, không biết võ nghệ.

Tướng tinh của Sài Vinh là Huỳnh Long (Rồng vàng) xuống thế, nên có mạng làm vua, dọn đường cho Triệu Khuôn Dẫn dựng lên nhà Tống.

2. TRIỆU : là Triệu Khuôn Dẫn, tự là Nguơn Lãng, người gốc ở Trác quận, cha là Triệu hoằng Ân, mẹ là Đỗ thị. Triệu khuôn Dẫn có 4 anh em : Triệu khuôn Dẫn là anh cả, em trai kế là Triệu khuôn Nghĩa, em trai kế nữa là Triệu khuôn Mỹ, và em gái út là Ngọc Dung. Triệu hoằng Ân làm quan Chỉ Huy Sứ đời Hậu Hán.

Nguyên căn của Triệu khuôn Dẫn là Xích Tu Long (Rồng râu đỏ) đầu thai xuống phàm làm vua mở ra nhà Tống. Khi bà Đỗ thị sanh ra Triệu khuôn Dẫn thì có hào quang chiếu sáng trong nhà và hơi thơm bát ngát, nên ông Triệu hoằng Ân gọi là Hương Hài nhi (đứa trẻ thơm).

Triệu khuôn Dẫn lớn lên, tướng mạo rất oai vệ, thông minh, tánh khí cang trực, nghĩa hiệp, chuộng võ nghệ, thích giao du với người hào kiệt.

3. TRỊNH : là Trịnh Ân, tự là Tử Minh, người ở huyện Kiều Sơn, tỉnh Sơn Tây, hình dung cổ quái, mặt đen như lọ chảo, sức mạnh vô cùng, võ nghệ khá giỏi, ăn cơm nhiều bằng 3 người thường, đặc biệt có 2 con mắt không đều nhau, một con nhỏ và một con lớn. Con mắt nhỏ là thần nhãn, thấy được tà ma yêu quái. Trịnh Ân mồ côi cả cha lẫn mẹ từ lúc 17 tuổi, làm nghề bán dầu độ nhựt.

Tướng tinh của Trịnh Ân là con Hắc hổ đầu thai lên làm tướng giúp Triệu khuôn Dẫn dựng nên nhà Tống.

SÀI TRIỆU TRỊNH KẾT NGHĨA ANH EM

I. Triệu khuôn Dẫn gặp Sài Vinh :

Triệu khuôn Dẫn đang gá nghĩa với nàng Trương quế Anh và đang tá túc tại nhà nhạc phụ Trương thiên Lộc.

Ngày kia, Triệu khuôn Dẫn đi dạo quanh vùng, chợt thấy chòm mây ngũ sắc lộ ra trên không, bèn đi riết tới nơi đó, thấy một người tướng mạo đường đường đang ra sức kéo một chiếc xe mắc lầy, coi bộ không nhúc nhích, lại thấy trên đầu người ấy có con rồng vàng đang vùng vẫy múa nanh vút. Khuôn Dẫn biết người nầy có mạng Đế vương, liền đến giúp kéo chiếc xe lên. Khi kéo xe lên rồi, người ấy tỏ lòng cám ơn, và hỏi họ tên cùng quê quán. Triệu khuôn Dẫn đáp :

- Tôi tên Triệu khuôn Dẫn, ở Biện Lương, con của Triệu Chỉ Huy Sứ.

Họ Triệu hỏi lại thì người ấy đáp :

- Tôi là Sài Vinh, gốc ở Tịnh Vị Châu, nay lưu lạc qua Hoàng Hải quận, đi bán dù độ nhựt.

Triệu khuôn Dẫn đưa Sài Vinh về nhà Nhạc gia đãi đằng trọng hậu, rồi xin kết nghĩa anh em. Sài Vinh bằng lòng. Sài Vinh lớn tuổi hơn Khuôn Dẫn nên làm anh.

II. Sài Vinh và Triệu khuôn Dẫn gặp Trịnh Ân :

Ngày nọ, Sài Vinh và Triệu khuôn Dẫn đi đến Tỏa Kim Kiều thì gặp bọn thảo khấu họ Đổng vây đánh. Một mình Triệu khuôn Dẫn tả xông hữu đột bảo vệ Sài Vinh nên có phần yếu thế, may đâu có Trịnh Ân chạy đến, thấy vậy nhào vô đánh bọn thảo khấu, giải vây cho Triệu khuôn Dẫn và Sài Vinh. Bọn thảo khấu đánh thua nên bỏ chạy hết.

Ba người hỏi thăm nhau, rồi kết nghĩa anh em.

Triệu khuôn Dẫn nhờ Trịnh Ân đi mua đồ tam sanh để cúng tế, nhưng quên dặn mua nhang, tới chừng dọn ra giữa Trời, nơi ấy gọi là Huỳnh Thổ Ba, mới thấy thiếu nhang đốt cúng. Trịnh Ân liền lấy 3 cục đất đặt lên thế đỡ 3 cây hương. Kế 3 người rót rượu ra đồng vái rằng : “ Nay 3 đứa tôi là Sài Vinh, Triệu khuôn Dẫn, Trịnh Ân, tuy khác họ mặc dầu, song nguyện cùng Trời Đất chứng tri cho chúng tôi kết làm anh em với nhau. Có sang cùng hưởng, có nguy cùng trợ giúp. Như ngày sau, ai phụ nghĩa vong ân, xin xét soi người ấy,”

Vái xong thì cúi lạy, rót rượu đủ 3 tuần mới thôi. Sau đó 3 người giao bái, mỗi người lạy 8 lạy. So tuổi nhau, Sài Vinh lớn tuổi nhứt làm Đại ca, kế Triệu khuôn Dẫn làm Nhị ca, còn Trịnh Ân là Tam đệ. Xong xuôi, dọn đồ xuống ăn nhậu với nhau thật vui vẻ, chuyện trò thật là thân thiết.

Sau đó 3 người đồng đi đến ải Mộc Linh Quang. Gần tới ải, Triệu khuôn Dẫn nói với Sài Vinh :

- Em hiện là tội phạm của triều đình, nơi các ải đều có họa hình em để quan quân xét bắt, nên không thể qua ải được. Vậy đại ca và tam đệ cứ qua ải, còn em đi đường khác, hẹn đến Phàn Châu, nơi cô ruột của đại ca, cùng ở đó nương náu.

Nói về Sài Vinh và Trịnh Ân đi qua ải rồi liền đến thành Bí Châu, vào mướn quán trọ để ăn nghỉ, nhưng xem lại tiền bạc để trong xe, khi chen lấn qua ải, bị kẻ gian lấy hết.Sài Vinh lo rầu nên sanh bịnh. Trịnh Ân phải bán dần đồ đạc để lo thuốc thang cho Sài Vinh và lo cái ăn hằng ngày. Chẳng bao lâu đồ đạc bán hết mà Sài Vinh vẫn còn bịnh.

Trịnh Ân đành chia tay Sài Vinh, tìm đường qua Thú Dương kiếm Triệu khuôn Dẫn.

Còn Sài Vinh tiếp tục ở quán trọ đến 3 tháng sau mới mạnh. Ấy cũng bởi số Trời, SàiVinh phải chịu chút tai ương. Khi mạnh rồi, Sài Vinh qua Phàn Châu, tìm gặp cô ruột.

Nguyên cô ruột của Sài Vinh có chồng là Quách ngạn Oai, đang làm nguyên soái tại Phàn Châu. Vợ chồng Quách Ngạn Oai không con, nên nhận Sài Vinh làm con nuôi.

Kể từ đó, Sài Vinh không còn lưu lạc nữa, ở với cha mẹ nuôi mà giúp việc binh. Quách ngạn Oai phong Sài Vinh làm chức Tham Quân lo việc chiêu binh mãi mã để phòng ngày sau giúp nước. Anh hùng nghĩa sĩ các nơi theo về rất đông.

Vua Ẩn Đế nhà Hậu Hán (do Lưu Trí Viễn dựng lên) là một thiếu niên hôn ám bất tài, nghe lời gian thần, giết hại tôi trung, nên mọi người đều chán nãn. Nay quan Chỉ Huy Sứ Quách ngạn Oai kéo binh về triều thì được nhiều người hưởng ứng, đồng tôn lên ngôi vua thay cho Ẩn Đế. Quách ngạn Oai lập ra nhà Hậu Châu, Sài Vinh được lập làm Thái tử.

Châu Thiên tử Quách ngạn Oai sai Sài Vinh trở về Phàn Châu rước Sài Hoàng Hậu về kinh đô.

Trong lúc đó, Triệu khuôn Dẫn bôn ba khắp chốn, may gặp được Trịnh Ân, anh em đồng kéo nhau đi Phàn Châu để hỏi thăm tin tức Sài Vinh. Vừa lúc đó Sài Vinh trở về Phàn Châu. Anh em gặp nhau mừng rỡ vô cùng, đồng vào ra mắt Sài Hoàng Hậu rồi cùng hộ tống Sài Hoàng Hậu đến kinh đô.

Châu Thiên tử Quách ngạn Oai làm vua được 3 năm thì băng, truyền ngôi lại cho Sài Vinh. Triệu khuôn Dẫn và Trịnh Ân hết lòng phò tá Sài Vinh, ra sức đánh đông dẹp Bắc, yên ổn cõi bờ. Sài Vinh phong Triệu khuôn Dẫn làm chức Nam Tống Vương, Trịnh Ân làm Nhữ Nam Vương. Nhờ có công dẹp giặc, Triệu khuôn Dẫn được thăng lên chức Định Quốc Tiết Đạt Sứ, kiêm lãnh Điện Tiền Đô Chỉ Huy Sứ, sau lại kiêm thêm chức Điện Tiền Đô Kiểm Điểm.

Sài Vinh làm vua được 6 năm thì băng, truyền ngôi lại cho con là Sài Tông Huấn, mới lên 7 tuổi.

Lúc đó Lưu Quân là chúa Bắc Hớn ở Hà Đông nghe tin vua Châu Thế Tôn Sài Vinh băng, Sài Huấn Tông còn con nít nên muốn làm phản, liền liên kết với quân Khiết Đơn, cử đại binh đánh Châu. Tin ấy truyền đến Châu trào, Thái Hậu của Ấu chúa cầm quyền nhiếp chính, cử Triệu khuôn Dẫn hội binh các trấn đánh dẹp quân Khiết Đơn và Bắc Hớn.

Triệu khuôn Dẫn hội binh xong, liền kéo đại binh đi, đến Trần Kiều thì mặt Trời chen lặng, phải đình binh lại nghỉ.

Đêm đó, chư tướng hội ý nhau, đồng tôn Triệu khuôn Dẫn lên ngôi vua, thay thế Ấu chúa Sài Tông Huấn. Triệu khuôn Dẫn không thể cưỡng lại được nên phải kéo binh trở về kinh đô, lên ngôi Thiên tử, mở ra nhà Tống, phong cho Sài Huấn Tông làm Trịnh Vương, con cháu về sau cứ theo tước ấy là nối tiếp hưởng lộc của triều đình. Triệu khuôn Dẫn xưng là Thái Tổ Hoàng Đế, đổi hiệu nước là Đại Tống, cải nguơn hiệu là Kiến Long năm đầu, hạ chỉ đại xá thiên hạ.

Lúc đó Lý Quân đang làm Tiết Đạt Sứ trấn thủ Lộ Châu, nghe Triệu khuôn Dẫn lên ngôi Thiên tử thì không phục, hội chúng tướng lại cử binh đánh Triệu khuôn Dẫn. Triệu khuôn Dẫn phải kéo binh thân chinh.

Khi tới Trạch Châu, Trịnh Ân ra binh, chẳng may bị Lư Táng, tướng của Lý Quân, bắn một mũi tên trúng nhằm chỗ nhược. Cao hoài Đức lướt tới cứu Trịnh Ân đem về hậu trại, nhưng Trịnh Ân chịu không nổi vết thương, nên từ trần. Tống Thái Tổ thương tiếc vô cùng, khóc ngất té xỉu xuống đất.

Sau, Tống Thái Tổ đánh thắng Lý Quân, bắt được Lư Táng, liền truyền mổ lấy tim Lư Táng tế Trịnh Ân.

Theo Trung quốc Sử, Trịnh Ân chết rất oai hùng nơi chiến trận, nhưng tuồng tích hát bội thì bịa ra cho là Trịnh Ân bị Hàn Tố Mai, thứ phi của Triệu khuôn Dẫn dùng mưu kế giết chết, để cho tình tiết thêm ly kỳ hấp dẫn mà câu khán giả, nhưng lại làm hỏng việc kết nghĩa tốt đẹp của 3 anh em SÀI-TRIỆU-TRỊNH.

Top of Page

20. Hàn Dũ bị đày

Hàn Dũ, người đời Đường, sanh năm 768 tại đất Nam Dương, tỉnh Hà Nam, tên tự là Thoái Chi, thân phụ là Trọng Khanh làm Huyện lệnh, có tiếng về văn chương. Hàn Dũ mồ côi cha hồi 3 tuổi, ở với anh là Hàn Hội. Hàn Hội có công vận động phục cổ, nhưng cũng mất sớm.

Hàn Dũ thường nuôi chí lớn, tự học, nếu không phải sách của đời Tam Đại và đời Lưỡng Hán thì không dám đọc, không phải là cái chí của Thánh nhân thì không dám giữ.

Năm 19 tuổi, Hàn Dũ lên kinh đi thi, tuy rớt nhưng vẫn nổi danh về cổ văn. Năm 24 tuổi, đời vua Đức Tông nhà Đường, Hàn Dũ mới đậu Tiến Sĩ, rồi đến năm 29 tuổi mới được bổ làm quan Giám Sát Ngự Sử.

Hàn Dũ làm quan rất thanh liêm và cương trực, nên cuộc đời làm quan rất thăng trầm, thường hay bị giáng chức vì can gián vua mà không vừa lòng vua. Đời sống gia đình thì túng thiếu : Mùa xuân tuy ấm áp mà con kêu lạnh, năm tuy được mùa mà vợ kêu đói.

Hàn Dũ có tài văn chương lỗi lạc nhưng không phải là học giả uyên thâm. Hàn Dũ viết nhiều bài nghị luận đề cao Nho học và bài xích Phật giáo và Lão giáo. Ông chỉ là một văn sĩ chú trọng về đường đạo đức chớ không phải là nhà triết học có tư tưởng mới lạ cao siêu, đạt đến mức Hình Nhi Thượng học. Do đó, những nhận xét của Ông về Phật giáo và Lão giáo rất thô cạn, lại có tính cực đoan, nên Ông phê bình 2 tôn giáo nầy không chính xác; ngay cả Nho giáo, Ông cũng chỉ chú ý phần Hình Nhi Hạ học, vẫn chưa đạt được mức uyên thâm của Nho giáo.

Các bộ sách tuyển Cổ Văn thường trích những bài văn của Hàn Dũ như : Nguyên đạo, Nguyên hủy, . . . lời văn tuy nghiêm trang minh bạch, tha thiết, nhưng tư tưởng không có gì sâu sắc, không thể so sánh với các triết gia đời Tống hay đời Hán được.

Hàn Dũ có một người cháu ruột tên là Hàn Tương Tử, tánh mộ đạo Tiên. Hàn Dũ ép cháu học Nho, nhưng Hàn Tương Tử không chịu, nói rằng :

- Chú mộ công danh phú quí nên học Nho, còn cháu thì mộ đạo Thần Tiên.

Hàn Tương Tử về sau gặp được Hớn Chung Ly và Lữ đồng Tân, học đạo thành Tiên, và trở thành một trong Bát Tiên ở đảo Bồng Lai. Khi Hàn Tương Tử đắc đạo thành Tiên rồi thì muốn trở về độ chú.

Năm ấy Trời hạn hán, Hàn Dũ đảo võ (cầu mưa) đã 3 ngày rồi mà không linh. Đang ngồi buồn rầu, chợt thấy một Đạo sĩ đi ngang rao lên rằng :

- Ai muốn mua mưa tuyết, ta bán cho.

Hàn Dũ biết là bậc có tài, liền rước vào nhà nhờ đảo võ

Đạo sĩ đảo võ, lát sau mưa xuống tràn đồng, tuyết sa chất ngất. Hàn Dũ lại nói :

- Không chắc tại ai đảo võ đặng mưa tuyết dường nầy, ta đã cầu hơn 3 ngày, có khi hậu được thành công thì phải ?

- Thiệt là mưa tuyết do tôi cầu. Hãy lấy thước đo, tuyết của tôi cầu được 3 thước 3 tấc mà thôi.

Hàn Dũ lấy thước đo, đúng y như lời của Đạo sĩ vừa nói. Từ đây, Hàn Dũ mới tin là Thần Tiên có phép mầu. Đạo sĩ ấy chính là Hàn Tương Tử hóa thân về giúp chú và độ chú.

Đến ngày Hàn Dũ ăn lễ sinh nhựt, Hàn Tương Tử về chúc thọ chú. Hàn Dũ nửa mừng nửa giận, hỏi rằng :

- Bấy lâu ngươi học đạo Thần Tiên thế nào ?

Hàn Tương Tử ngâm rằng :

Đã quyết chí tu trì,

Thành Tiên chẳng khó chi.

Mây xanh hằng cỡi hạc,

Động đá cứ ngâm thi,

Đặt rượu trong giây phút,

Trồng hoa nở tức thì,

Lâu dài ngàn tuổi thọ,

Điều độ kẻ tương tri.

Hàn Dũ nghe xong liền nói :

- Ngươi cướp quyền Tạo Hóa đặng sao ? Hãy đặt rượu, trồng hoa xem thử.

Hàn Tương Tử bảo đem ché không để trên ghế, lấy mâm đậy lại giây phút, giở ra có rượu ngon đầy ché.

Hàn Tương Tử ra trước sân đào đất vun đống, tức thì mọc lên một cây mẫu đơn, bông nở rực rỡ rất lớn, đặc biệt trong bông có 2 hàng chữ nhỏ như vầy :

“ Vân hoành Tần lãnh gia hà tại,

Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền.”

Hàn Dũ đọc tới đọc lui 2 câu thi nầy mà không hiểu ý thơ nói gì. Hàn Tương Tử nói rằng :

- Ngày sau chú sẽ biết, bây giờ không dám lậu cơ Trời.

Ai nấy đều lạ lùng. Hàn Tương Tử từ giã trở về núi.

Hàn Dũ làm chức Giám Sát Ngự Sử, một lần can vua Đường Đức Tông về những việc xa hoa trong cung mà bị biếm làm Lệnh Doãn Dương Sơn. Một lần khác, Hàn Dũ can vua Đường Hiến Tông đừng rước cốt Phật vào cung. Bên Tây Vức dâng tượng Phật, vua muốn rước vào cung để thờ. Bá quan không ai dám ngăn cản, Hàn Dũ dâng sớ can rằng :

“ Phật là nước di dịch. Từ Tam Hoàng Ngũ Đế đến vua Võ vua Thang, vua Văn Vương Võ Vương, chưa có Đạo Phật thì thiên hạ thái bình. Đến đời Hớn Minh Đế, Đạo Phật vào Trung quốc thì nhà nước chẳng lâu dài. Sau qua đời Lương Võ Đế thờ Phật hết lòng, ở ngôi 18 năm mà trước sau phải 3 lần xả thân làm sãi, vô ở trong chùa, mà rồi cũng bị Hầu Cảnh vây Võ Đế chết đói tại Đài Thành, sao Phật không cứu ? Như vậy thì chẳng nên tin. Xin Bệ hạ đãi chúng nó, rồi truyền quăng cốt Phật xuống sông, kẻo thiên hạ mê theo mà lầm. Lẽ nào đem cốt Phật vào cung mà bá quan không gián, xin Bệ hạ y tấu. Nếu Phật có linh hiển thì làm họa cho tôi.”

Đường Hiến Tông xem sớ xong thì nổi giận, truyền giáng chức Hàn Dũ và đày ra Triều Châu tức thì.

Hàn Dũ bị đưa đi đày, đến chốn nào không biết, chẳng những không thấy nhà cửa của ai, mà mây giăng đỉnh núi mịt mù, tuyết rơi xuống cả vừng, ngựa đi không đặng. Xảy thấy có một Đạo sĩ cầm chổi quét tuyết dọn đường, coi lại là Hàn Tương Tử. Hàn Tương Tử đến chào chú và nói :

- Chú còn nhớ 2 câu thi trong hoa mẫu đơn không ?

Hàn Dũ hỏi : - Chốn nầy là xứ chi ?

- Đây là ải Lam quan, núi nầy tên là Tần Lãnh.

Hàn Dũ thở dài than rằng :

- Như vậy là số Trời đã định, trốn sao cho khỏi ! Để ta đặt thêm 6 câu cho trọn bài thi. Nói rồi ngâm rằng :

Nhứt phong triêu tấu Cửu Trùng Thiên,

Tịch biến Triều Dương lộ bác thiên.

Bổn vị thanh minh trừ tệ chánh,

Cảm thương suy hủ tích tàn niên.

Vân hoành Tần lãnh gia hà tại,

Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền.

Trí nhữ viễn lai ưng hữu ý,

Hảo thâu ngô cốt táng giang san.

Bản dịch của Trần trọng San :

Sáng vừa dâng biểu chốn đan trì,

Chiều biếm Triều Dương vạn dặm đi.

Trào Thánh mong phò trừ mối hại,

Năm tàn há dám tiếc thân suy.

Mây giăng Tần lĩnh, nhà đâu tá ?

Tuyết phủ Lam quan, ngựa chẳng đi.

Cháu đến nơi đây là có ý,

Hãy thâu xương chú bến sông về.

Hàn Dũ ngâm thơ rồi cùng đi với Hàn Tương Tử đến trạm Lam quan mà nghỉ.

Hàn Dũ từ đó mới bắt đầu trọng Đạo và tin lời cháu nói chẳng sai. Trong đêm ấy, chú cháu bàn luận về đạo đức. Rạng ngày, Hàn Tương Tử đưa chú một hoàn thuốc và nói :

- Chú uống hoàn thuốc nầy thì khỏi sanh các bịnh. Không bao lâu chú cũng đặng phục chức trở về trào.

- Ngày sau chú cháu mình còn gặp nhau không ?

- Chú ở Triều Dương có sấu làm loạn, chú đặt văn tế đưa nó phải đi, kế đặng phục chức. Sau cháu sẽ về độ chú và truyền cho chú phép tu luyện thành Tiên.

Quả nhiên, việc xảy ra y như lời Hàn Tương Tử đã nói. Hàn Dũ đặt văn tế đưa cá sấu đi, được vua vời về triều phục chức cũ, kế được bổ làm Thứ Sử Viên Châu.

Hàn Dũ làm quan, tới đâu cũng được dân chúng kính mến. Ở Dương Sơn, nhiều nhà lấy họ Hàn đặt cho con. Ở Viên Châu, ông bãi bỏ tục lệ : Hễ đợ con mà quá hạn không chuộc thì con trở thành nô lệ suốt đời, nên ông được dân chúng thờ phụng. Hàn Dũ làm quan lên đến chức Binh Bộ Thị Lang và mất năm 824.

Đến đời nhà Tống, Hàn Dũ được truy tặng là Xương Lê Bá (Xương Lê là tổ quán của Hàn Dũ), nên người đời sau gọi Hàn Dũ là Hàn Xương Lê. Hàn Dũ là người có công đầu trong phong trào phục cổ đời Đường. Ông có lưu lại bộ “HÀN XƯƠNG LÊ TẬP”. Ông phục cổ mà không nô lệ cổ nhân, chủ trương “Văn dĩ tải Đạo”, muốn phục hưng thuyết Khổng Mạnh đã suy từ thời Lục Triều.

Hàn Dũ được đời sau khen là “Tản Văn Thánh Thủ”.

Top of Page

21. Tận trung báo quốc

Tận trung báo quốc là hết lòng trung thành báo đền ơn nước. Đây là truyện nói về Nhạc Phi đời vua Tống Cao Tông.

Nguyên căn của Nhạc Phi :

Nơi cõi Tây phương Cực Lạc, Đức Phật Thích Ca đang giảng đạo trong Lôi Âm Tự, khi giảng đến chỗ cực hay, mọi người đang chăm chú lãnh giáo, bỗng phía dưới liên đài của Đức Phật có một vị Tinh Quân là vì sao Nữ Thổ Bức (con dơi cái) vùng đánh rấm một phát, thật là vô lễ. Đức Như Lai không để ý đến việc vặt nầy nhưng phía trên liên đài có một vị Hộ Pháp Thần Kỳ là Đại Bàng Kim Sí Minh Vương, đôi mắt bỗng ngời lên ánh hung quang, liền quạt cánh bay xuống mổ Nữ Thổ Bức chết tươi, khiến linh hồn y thị rời khỏi Lôi Âm Tự, bay xuống Đông độ (nước Tàu) đầu thai làm con nhà họ Vương, gọi là Vương thị, sau làm vợ Tần Cối, để mưu hại Nhạc Phi, trả mối thù bị giết chết ở Lôi Âm Tự.

Đức Phật thấy Đại Bàng hành động hung dữ nên nói :

- Ngươi đã thọ giáo cùng ta, sao không giữ Ngũ giới, lại có hành động hung ác như thế ? Ngươi đành phải trải qua một giai đoạn Nhân Quả, nghĩa là ngươi phải đầu kiếp xuống cõi trần để trả cho xong cái oan trái ấy, rồi trở về tiếp tục tu hành cho thành Chánh quả.

Đại Bàng Điểu cúi đầu vâng lệnh, vọt ra khỏi Lôi Âm Tự , bay thẳng xuống Đông độ đầu thai.

Đại Bàng Điểu bay xuống tới sông Hoàng Hà, thấy con Thiết Bối Cù đang chỉ huy binh tôm tướng trạnh tập trận. Đại Bàng Điểu biết ngay đây là loài yêu quái, liền đáp xuống mổ mạnh một cái trúng con mắt của Thiết Bối Cù lọt ra ngoài. Con tinh đau quá, thét lên một tiếng rồi lặng xuống đáy sông chạy trốn. Lũ binh tôm tướng trạnh cũng sợ hãi trốn hết, chỉ còn con Đoàn Ngư Tinh ỷ mình có sức mạnh, không sợ Đại Bàng, đưa càng ra đối địch, bị Đại Bàng điểu mổ một cái chết tươi. Linh hồn nó đầu thai lên làm Vạn Sĩ Hoa mưu hại Nhạc Phi trong ngục Phong Ba Đình, để trả cái mối hận đó.

Đại Bàng điểu bay đến tỉnh Hồ Nam, phủ Tương Châu, huyện Thang Âm, làng Vĩnh Hòa, xóm Hiếu Để, đầu thai vào nhà họ Nhạc. Tại đây có nhà Viên Ngoại Nhạc Hòa, vợ là Diêu thị, 40 tuổi mới sanh một mụn con trai, cả nhà vui mừng không xiết.

Thuở ấy, tại núi Tây Nhạc Họa sơn có Ông Trần Đoàn Lão Tổ, tự là Hi Di Tiên sinh, là vị Tiên đắc đạo, biết Đại Bàng điểu đi đầu thai, liền tìm đến nhà họ Nhạc hỏi thăm đứa bé, rồi nói với Nhạc Hòa :

- Tướng mạo của đứa bé nầy rất khôi ngô, chắc sau nầy nó viễn cử cao phi vạn lý, nên tôi muốn đặt tên cho nó là NHAÏC PHI, tự là BÀNG CỬ, Viên Ngoại bằng lòng không ?

Viên Ngoại Nhạc Hòa cám ơn Lão Tổ. Lão Tổ chợt thấy bên giếng nước có 2 cái lu, liền ngầm họa phù vào 2 cái lu đó rồi dặn Nhạc Viên Ngoại :

- Như trong 3 ngày nữa, con của Viên Ngoại vô sự thì thôi, nếu có điều chi trắc trở thì bồng đứa bé ấy đặt vào trong cái lu nầy mới bảo toàn được tánh mạng của nó. Khá nhớ kỹ.

Qua ngày thứ 3, Nhạc Hòa vào thăm con, bỗng thằng bé khóc thét lên, dỗ hoài không nín, lại không chịu bú. Nhạc Hòa bỗng nhớ lại lời Lão Tổ dặn dò, thuật lại cho Bà An Nhơn (Diêu thị) nghe, biểu Bà lót nệm trong lu, bồng đứa bé đặt vào đó. Đứa bé liền nín khóc và chịu bú.

Bỗng dưng như Trời long đất lở, nước lụt không biết từ đâu ào đến mênh mông như biển cả, người và vật đều bị dòng nước lũ cuốn trôi. Dòng nước nầy là do con Thiết Bối Cù Vương mang mối hận thù cùng Đại Bàng điểu, biết Đại Bàng đầu thai nơi nhà họ Nhạc ở làng Vĩnh Hòa, huyện Thang Âm, nên đem binh tôm tướng trạnh đến làm mưa dâng nước giết chết Nhạc Phi đặng trả thù.

Quả là một việc phạm Thiên điều, Thiên đình sai Đồ Long Lực Sĩ xuống xử trảm con quái Cù Vương. Hồn con quái vẫn còn oán hờn, đầu kiếp lên làm Tần Cối, trả thù Nhạc Phi.

Bà An Nhơn bồng Nhạc Phi ngồi trong lu nên được an toàn, nước lũ cuốn trôi chiếc lu đi. Nhạc Hòa nắm được vành lu, nương theo dòng nước. Nhạc Hòa cảm thấy sức mình quá đuối nên nói lời trăn trối với Bà An Nhơn : “ Số Trời đã định như vậy, Bà hãy rán nuôi con để sau nầy tôi còn chút hậu tự, tôi có chết cũng vui lòng.”

Nói xong, Nhạc Hòa buông tay khỏi vành lu, bị nước cuốn trôi mất tích. Còn chiếc lu có Bà An Nhơn và Nhạc Phi trôi đến làng Kỳ Lân ở Hà Bắc, mới tấp vào gần nhà Viên Ngoại Vương Minh.

Viên Ngoại thấy vậy liền cứu 2 mẹ con Nhạc Phi, đưa về nhà đùm bọc. Vợ của Vương Minh là Hà thị hết lòng chăm sóc Bà An Nhơn và Nhạc Phi. Sau đó, Bà Hà thị sanh một đứa con trai, nhỏ hơn Nhạc Phi 1 tuổi, đặt tên là Vương Quới.

Thời thơ ấu của Nhạc Phi : Ngày tháng trôi qua mau, Nhạc Phi được 7 tuổi, còn Vương Quới được 6 tuổi. Vương Viên Ngoại rước thầy về dạy học cho 2 trẻ. Hai ông bạn của Vương Minh cũng đem 2 đứa con là Thang Hoài và Trương Hiển đến xin cùng học. Trong 4 trẻ nầy chỉ có Nhạc Phi là chăm học, còn 3 đứa kia thì bê tha, thích tụ tập với các trẻ khác đánh võ tập quyền mà thôi..

Vương Minh có một bằng hữu là Châu Đồng, trước đây từng chỉ huy quân cấm vệ ở kinh thành, nên Châu Đồng có tài kiêm văn võ, được Vương Minh ruớc về nhà dạy cho 4 trẻ.

Châu Đồng khiến 4 trẻ kết nghĩa anh em với nhau.

Ngày kia Châu Đồng dẫn 4 trẻ đi thăm Chí Minh Trưởng Lão ở suối Lịch Tuyền. Tại đây có một con quái xà nhiễu hại dân chúng. Nhạc Phi đánh nó và bắt được nó, nó liền biến thành một cây thương, trên cán có hàng chữ : Lịch Tuyền Thần mâu. Trưởng Lão Chí Minh nói :

- Cây thương Lịch Tuyền nầy là vật báu của Thần linh trao cho Nhạc Phi, ắt sau nầy Nhạc Phi sẽ là rường cột của quốc gia. Sẵn đây, tôi có một quyển Binh Thơ bí truyền, trong đó dạy đủ thương pháp và cách bày binh bố trận, nhưng sách nầy chỉ trao cho người có binh khí Thần linh thì mới dùng được, nay tôi tặng cho Nhạc Phi.

Ngày tháng trôi qua, Nhạc Phi được 16 tuổi. Quan huyện Lý Xuân tổ chức cuộc khảo thí võ nghệ tuyển lựa nhân tài trong huyện. Châu Đồng dắt 4 học trò đi thi, đều đậu hết. Nhạc Phi có tài năng vượt trội, được quan huyện Lý Xuân vừa ý, gả con gái Lý Tiểu thơ cho Nhạc Phi.

Sau đó, 4 học trò của Châu Đồng được gởi lên tỉnh thi tiếp võ nghệ. Tại đây, ông Lưu Đô Viện đứng làm Chủ Khảo, rất mến tài của Nhạc Phi, bước tới vỗ vai Nhạc Phi hỏi :

- Có phải ông bà của tráng sĩ ở nơi Huỳnh huyện ?

Nhạc Phi lễ phép đáp :

- Thưa không. Nguyên tôi ở huyện Thang Âm, làng Vĩnh Hòa, mẹ tôi sanh tôi được 3 ngày thì bị nạn nước lũ, nhà cửa trôi hết, mẹ tôi bồng tôi vào ngồi trong một cái lu, bị nước trôi tới Huỳnh huyện, nhờ có ân công Vương Minh cứu giúp, lại nhờ nghĩa phụ tôi là Châu Đồng truyền dạy văn chương và võ nghệ nên tôi mới được như ngày nay. Xin quan lớn vui lòng cấp giấy cho 4 anh em tôi lên kinh thi Hội. Nếu mai sau có đặng chút công danh thì khi trở về quê, ơn đức của quan lớn rất cao dày.

Ông Lưu Đô Viện nghe Nhạc Phi bày tỏ đầu đuôi, rất cảm kích, bảo :

- Các ngươi được Châu Tiên sinh dạy bảo, hèn chi võ nghệ rất giỏi, hãy kíp sửa soạn, ta giới thiệu lên kinh ứng thí.

Nói rồi, Ông Lưu Đô Viện quay lại ra lịnh cho quan huyện Từ Nhơn của Huỳnh huyện :

- Quan huyện hãy đến huyện Thang Âm, làng Vĩnh Hòa, tìm ra cái nền nhà cũ của Nhạc Phi, ta sẽ xuất tiền xây lại nhà cửa cho Nhạc Phi trở về cố thổ. Ta chắc Nhạc Phi sẽ làm nên danh phận rực rỡ.

Ông Lưu Đô Viện viết thơ giới thiệu Nhạc Phi với Ông Lưu Thú Tông Trạch, là vị Võ quan Đại Thần rất liêm chánh ở kinh đô. Trong kỳ thi Võ Trạng nầy, có 4 vị Giám Khảo là : Trương Ban Xương, Vương Đạt, Trương Tuấn, Tông Trạch. Chỉ có Tông Trạch là trung thần, còn 3 vị kia đều là gian nịnh.

Sài Quế là vị Tiểu Lương Vương, dòng dõi của Sài Vinh, kỳ nầy muốn chiếm chức Võ Trạng, đặng cấu kết với bọn gian thần nắm hết binh quyền mong đoạt ngôi nhà Tống trở lại cho họ Sài. Do đó, Sài Vinh lo lót cho 3 giám khảo gian nịnh để kỳ nầy cho Sài Vinh đậu Võ Trạng. Nhưng Tông Trạch không chịu, buộc các thí sinh phải thi đấu công bằng.

Nhạc Phi ra thi, không chịu nhường Sài Quế, nên xảy ra cuộc đấu võ thí mạng. Nhạc Phi vít Sài Quế một thương Lịch Tuyền, làm Sài Quế chết tốt. Ba giám khảo gian thần đòi bắt Nhạc Phi xử trảm. Nhạc Phi và đám em út phải phá giáo trường mới thoát thân được, trở về quê.

Bọn gian thần tâu dối với vua Tống Vi Tông, vua hôn ám, nghe lời bọn gian thần hãm hại tôi trung, bãi chức Tông Trạch và đuổi Tông Trạch về làm thứ dân.

Sau đó, trong nước giặc cướp nổi lên, thanh thế rất mạnh, bọn gian thần hoảng sợ, tâu vua Tống xin phục chức cho Tông Trạch để sai Tông Trạch đi dẹp loạn.

Tông Trạch vâng chỉ, nhưng bọn gian thần phát quân rất ít, lương thảo không đủ, khiến Tông Trạch không thể thắng nổi loạn quân, mà con bị vây hãm rất nguy hiểm. May có bọn Nhạc Phi hay tin, đến giải vây, và bình được giặc.

Nhạc Phi cùng các em kết nghĩa trở lại quê nhà ở Thang Âm. Nhạc Phi phụng dưỡng mẹ già rất hiếu thảo.

Ngày kia, Vương Tá, thủ hạ của bọn thủy khấu Dương My - Dương Ma đem lễ vật trọng hậu đến chiêu dụ Nhạc Phi, nhưng Nhạc Phi nhứt định từ chối, đuổi Vương Tá đi.

Bà An Nhơn, mẹ của Nhạc Phi, sợ con mình ngày sau không giữ được lòng trung, nên sửa soạn đèn nhang lễ vật, khẩn cầu tổ phụ và Trời Đất chứng minh, gọi Nhạc Phi ra nói :

- Nay mẹ thấy con chẳng thọ lễ vật của quân phản tặc, cam chịu bần hàn, ấy là một điều hay làm mẹ mừng rỡ vô cùng, song mẹ sợ lúc mẹ thác rồi, hoàn cảnh đổi thay, lúc con thất chí, bọn phản tặc lại đến dụ dỗ con, con theo chúng thì có phải đem cái danh tiết nửa đời làm hư trong một lúc chăng. Vì vậy mẹ chúc cáo Trời Đất và Tổ tông, để thích vào lưng con 4 chữ : “ TẬN TRUNG BÁO QUỐC “ là ý mẹ muốn cho con nên bậc trung thần, tiếng thơm muôn thuở.

Nhạc Phi nghe lời mẹ, cổi áo ra, Bà An Nhơn xâm vào lưng con 4 chữ Tận trung báo quốc, rồi lấy mực đen hoà giấm thoa lên, 4 chữ ấy hiện rõ ra không bao giờ phai.

Trong lúc đó, ở phương Bắc, nước Kim nổi lên rất hùng mạnh, sai Thái tử Ngột Truật đem binh xâm lấn Trung nguyên. Vua Tống Cao Tông mới lên ngôi ở Kim Lăng, được quần thần tiến cử Nhạc Phi, nên xuống chiếu kêu quan Huyện Từ Nhơn đến Thang Âm triệu Nhạc Phi ra phò vua chống giặc.

Nhạc Phi lãnh chiếu, từ giã mẹ già và vợ con, lên đường đi Kim Lăng, được vua Tống Cao Tông phong chức Thống Chế, dưới quyền của Đại Nguyên Soái Trương Sở, lãnh Tiên Phong đánh quân Kim.

Nhạc Phi đánh tan đạo binh của Ngột Truật, binh Kim rút tàn binh về nước. Nhạc Phi được vua phong lên chức Phó Nguyên Soái.

Trong nước bấy giờ có bọn thủy khấu ở Thái Hồ nổi lên rất mạnh. Vua Tống Cao Tông phong Nhạc Phi là Ngũ Tỉnh Đại Nguyên Soái, kéo binh đi trừ thủy khấu. Chẳng bao lâu, Nhạc Phi dẹp tan thủy khấu, bình định Thái Hồ, kéo quân đắc thắng trở về triều. Trong lúc đó, được tin quân Kim tràn vào Trung nguyên, gần đến Ngẫu Đường quan. Vua ra lịnh Nhạc Phi cấp tốc kéo binh lên chận quân Kim. Quân Kim nghe có Nhạc Phi chận đường thì hoảng sợ lui binh.

Nhạc Phi lại được vua Tống Cao Tông sai đi dẹp bọn thảo khấu Dương Ma ở Động Đình Hồ tỉnh Hồ Quảng.

Do đó, Thái tử Ngột Truật của quân Kim lợi dụng thời cơ, kéo quân tiến đánh Kim Lăng. Vua Cao Tông thua chạy, bỏ Kim Lăng lên Ngưu Đầu Sơn lánh nạn.

Nhạc Phi hay tin, gấp rút đem đại binh cứu giá, cuối cùng vua tôi đều bị quân Kim vây hãm ở Ngưu Đầu Sơn.

Vua Tống Cao Tông truyền lập đàn bái tướng, phong Nhạc Phi làm : Võ Xương Khai quốc Công, Thiếu Bảo, Thông Thuộc Văn Võ Đô Đốc Đại Nguyên Soái, thống lãnh binh quyền, chống lại quân Kim.

Nhạc Phi tập hợp được các anh hùng hảo hán, lần lần gây nên thế mạnh, đánh tan quân Kim, vây hãm Thái tử Ngột Truật trong Huỳnh Thiên Đãng, không có đường ra. Ngột Truật tưởng phen nầy phải chết, nhưng số Trời chưa cho nên khiến Thần nhân mách đường rút quân theo con lạch nhỏ Lão Lạc Hà, thoát được chạy về Kim quốc.

Vua Tống Cao Tông trở về Kim Lăng, phong thưởng chư tướng sĩ. Vua hôn ám, nghe lời nịnh thần, dời đô về Lâm An. Các trung thần can gián, nhà vua không nghe, mà lại muốn giết, nên chán nãn, cáo lão về quê. Nhạc Phi cũng sợ bị gian thần hãm hại nên cũng xin về quê phụng dưỡng mẹ già. Tất cả đều được vua Cao Tông chấp thuận, để khỏi nghe những lời can gián bực mình của các trung thần.

Nói về Thái tử Ngột Truật nơi Kim quốc, ngày đêm uất hận về thảm bại ở Trung nguyên, hỏi Quân Sư Hấp Mê Xi:

- Lúc ban đầu, ta vào Trung nguyên, tiến binh như chẻ tre, bắt Khương Vương cầm tù, đày Nhị Đế ra sa mạc. Về sau, vì cớ chi mà chỉ có một mình Nhạc Phi làm cho ta thảm bại đến nỗi chạy về đây mà không còn một viên tướng ?

Hấp Xi Mê suy nghĩ hồi lâu rồi đáp :

- Ngày trước, Lang Chúa thành công là nhờ sức gian thần của nhà Tống, song về sau, chỉ vì Lang Chúa quá mến chuộng trung thần, bắt bọn gian nịnh như Trương Ban Xương giết đi, nên mới bị thảm bại như vậy.

Ngột Truật suy nghĩ, rồi như thấm ý gật đầu :

- Lời Quân Sư nói đúng lắm. Lúc trước ta khởi binh, nhờ bọn gian thần của vua Tống mãi quốc cầu vinh, giúp ta một tay đắc lực, Về sau, ta dại dột giết hết chúng đi, nên mới chịu thảm bại. Việc ấy đã lỡ rồi, bây giờ làm sao thực hiện trở lại để đánh Trung nguyên cho khỏi thất bại ?

- Nếu Lang Chúa biết khắc phục khuyết điểm thì có chi khó. Hiện nay còn một đứa gian thần tại đây, đang phò Nhị Đế, đó là tên Tần Cối. Xin Lang Chúa cho tìm nó về dùng.

Lang Chúa Ngột Truật nghe theo, tìm được Tần Cối đem về trào. Vợ của Tần Cối là Vương thị có sắc đẹp, thông dâm với Ngột Truật. Ngột Truật đãi vợ chồng Tần Cối rất hậu, rồi đưa trở về Trung nguyên. Tần Cối nặng lời thề ước cho Ngột Truật vững lòng tin, rồi trở về Lâm An ở Trung nguyên, vào ra mắt Tống Cao Tông. Nhà vua phán :

- Nhờ khanh trở về trào, Trẫm mới biết tin tức của Nhị Đế. Lâu nay khanh có công phò Nhị Đế ở nước Phiên, nên Trẫm phong khanh làm Lễ Bộ Thượng Thơ, còn vợ của khanh phong là Nhị phẩm Phu Nhân. Khanh hãy hết lòng phò Trẫm.

Vua Cao Tông hôn ám, tin dùng bọn gian thần, xa lánh tôi trung, nên trong nước giặc giã nổi lên khắp nơi, bổn chương của các quan khắp nơi gởi về triều liên tiếp, làm cho vua bấn loạn tinh thần, còn bọn gian thần thì co đầu rút cổ. Thái Sư Triệu Lãnh bước ra tâu :

- Bọn giặc nầy thần xem rất nguy hiểm, nếu không có Nhạc Phi thì không ai gánh nổi trách nhiệm nầy.

Vua Cao Tông nói :

- Lúc trước, Trẫm đã sai sứ đi triệu Nhạc Phi, nhưng bị thủ hạ của y là Ngưu Cao và Kiết Thanh xé nát chiếu chỉ, nói triều đình đặng chim bẻ ná, đặng cá bỏ đăng, nên đuổi sứ giả trở về. Trẫm nghĩ vì 2 gã nầy có công bắt 2 tên gian tần Miêu Phó và Lưu chánh Ngạn nên Trẫm bỏ qua. Nay sai sứ đi triệu nữa, liệu Nhạc Phi lãnh chiếu không ?

Hoàng Hậu nói :

- Thiếp có làm một cặp Long Phụng Sanh Kỳ, nay xin thêu vào đó 4 chữ : TẬN TRUNG BÁO QUỐC, rồi Bệ hạ sai một vị Đại thần đem đến tặng và hiểu dụ Nhạc Phi.

Vua Cao Tông mừng rỡ, hối Hoàng Hậu làm mau.

Vua Cao Tông sai quan Khâm Sai Đại Thần ngày đêm đi đến Thang Âm gặp Nhạc Phi. Nhạc Phi đặt bàn hương án rồi quì xuống tiếp chiếu. Quan Khâm Sai đọc chiếu :

“Ta là Cao Tông Hoàng Đế, thay mạng Trời, chiếu rằng :

Trời có lạnh mới thấy rõ tòng bá, nước có loạn mới thấy dạ tôi ngay. Trẫm ngồi trên ngôi báu thiếu đức thiếu tài, nên trong nước xảy ra loạn lạc. May nhờ khanh là Nhạc Phi hết lòng vì nước, chịu cam khổ chống giặc xâm lăng, tuy Nhị Đế mông trần, song trong nước vừa tạm yên, nhưng dân chưa kịp hưởng thái bình thì giặc lại nổi lên : Dương tái Hưng dấy binh tại Cửu Long San, Dương Ma chiếm Động Đình Hồ, còn bọn Thích Phương tuy là thảo khấu nhưng La Cang là đứa khuấy nước hại dân, quả là lúc nước nhà loạn lạc và cũng là lúc tôi hiền gối đất nằm sương, chẳng lẽ bàng quan tọa thị ?

Nay Hoàng Hậu bổn thân thêu một cặp cờ Long Phụng, lại dùng 4 chữ “TẬN TRUNG BÁO QUỐC” đặc biệt tặng cho khanh, khanh hãy về kinh cho mau mà phục hồi cựu chức để lãnh binh hùng trừ khử loài gian, đem lại an ninh cho xã tắc. Trẫm không tiếc cắt đất phong Vương Hầu, nêu danh người trung nghĩa. Khanh hãy tuân lời Trẫm, chớ sơ thất.”

Nhạc Phi lạy tạ, rồi bày tiệc khoản đãi quan Khâm Sai.

Số đàn em của Nhạc Phi, nhứt là Ngưu Cao không muốn ứng mệnh vì chán ghét vua Cao Tôn hôn ám, khi nguy thì cầu cứu đám anh hùng, khi an rồi thì bỏ anh hùng, nghe theo đám nịnh thần. Nhưng Nhạc Phi vì 4 chữ TẬN TRUNG BÁO QUỐC đúng như 4 chữ mà mẹ chàng đã xâm trên lưng, nên Nhạc Phi ứng mệnh và khuyên em út đi giúp vua Cao Tông một lần nữa mà cứu an bá tánh.

Nhạc Phi cùng đàn em đến Lâm An, vào trào kiến giá. Vua Cao Tông cả mừng, truyền phong cựu chức cho Nhạc Phi và các anh hùng, hứa sẽ thăng thưởng khi bình xong giặc.

Nhạc Nguyên Soái lãnh binh tế cờ rồi kéo đi, hẹn với Nguyên soái Thủy binh Hàn thế Trung, kéo đi bình giặc Dương Ma ở Động Đình Hồ. Trong lúc đó, Nhạc Phi được cấp báo, Thái tử nước Kim là Ngột Truật đem 60 muôn binh xâm phạm Trung Nguyên lần thứ nhì. Hiện gần đến Châu Tiên Trấn. Nhạc Nguyên soái liền truyền lịnh cho quan Chánh Ty phải chuẩn bị 7 đội binh mã sẵn sàng chờ Nguyên soái điều dụng, đồng thời gởi văn thư đi khắp các phủ, truyền lịnh cho các Tổng Binh gấp rút dẫn quân đến Châu Tiên Trấn chờ lịnh.

Binh của Nhạc Nguyên soái kết hợp với Thủy binh của Hàn Nguyên soái, dùng diệu kế, đánh một trận phá tan sào huyệt của Dương Ma, bắt sống được Dương Ma giải về triều.

Bình định xong, hai vị Nguyên soái cấp tốc kéo đến Châu Tiên Trấn. Các vị Tổng Binh đã đem binh tới đầy đủ.

Nhạc Nguyên soái điều khiển các đạo binh, bày thế trận, đánh tan quân Kim của Ngột Truật tại 2 trận lớn : Phụng Hoàng Sơn và Kim Ngưu Lãnh, giết và bắt sống được gần 60 vạn quân Kim.

Ngột Truật đứng trên núi quan sát, thấy quân Kim bị quân Tống giết chết thảm thiết, nước mắt tuôn trào, cất tiếng than : “ 60 muôn binh mã mà nay chỉ còn không đầy 5 ngàn, thảm bại thế nầy còn mặt mũi nào trở về thấy Lang Vương !”

Than rồi, lòng quá bất nhẫn, liền rút gươm tự vận. Quân Sư Hấp Mê Xi đứng kế bên, giựt gươm, khuyên giải.

Bỗng trong rừng xuất hiện một Nho sĩ đến chào Ngột Truật và nói :

- Cần gì Thái tử phải ra sức đánh Nhạc Phi cho hao binh tổn tướng. Thái tử biết rằng hễ trong triều đình nhà Tống mà gian thần lộng hành thì không khi nào ở ngoài mặt trận, đại tướng lập công được.

Ngột Truật nghe nói thế thì tỉnh ngộ, xá Nho sĩ rồi nói :

- Mong Tiên sinh dạy bảo cho và xin cho biết tên họ.

- Tôi muốn báo cho Thái tử biết rồi đây họa sẽ đến cho Nhạc Phi theo ý Trời định, hà tất biết tên họ tôi làm gì.

Nói xong thì đi vào rừng biến mất. Hấp Mê Xi nói :

- Nay có Thần nhân mách bảo như thế thì Lang Chúa thu gom binh sĩ về ải chờ đợi, rồi Lang Chúa viết cho Tần Cối một bức thơ, tôi sẽ cải trang thành người Trung nguyên đi Lâm An gặp Tần Cối để bàn việc mưu hại Nhạc Phi.

Nhắc qua Nhạc Nguyên soái, sau khi đắc thắng, kéo binh về đóng tại Kim Ngưu Lãnh, dâng biểu về triều báo tiệp, rồi khao thưởng ba quân, đồng thời thôi thúc lương thảo chuẩn bị đánh qua nước kim, để rước Nhị Đế trở về Trung nguyên.

Hấp Mê Xi đưa thư của Ngột Truật cho Tần Cối.

Vương thị, vợ của Tần Cối bàn :

- Tướng công là Tể Tướng đương triều, cai quản các quan, thì một việc nhỏ như vậy không làm được sao? Bây giờ Tướng Công lấy cớ hoà Kim, đừng phát lương thảo cho Nhạc Phi nữa, bảo Nhạc Phi rút quân về Châu Tiên Trấn nghỉ ngơi, rồi tìm cách gọi cha con hắn về triều, giết phứt.

Tần Cối khen : - Phu Nhân nói thật chí lý.

Tần Cối liền làm giả một đạo Thánh chỉ, sai quan Khâm Sai tức tốc gọi Nhạc Phi về triều gia phong quan chức.

Chư tướng bàn tán khuyên Nhạc Phi không nên hồi triều trong lúc nầy nguy hiểm lắm, vì gian thần Tần Cối đang nắm hết quyền hành, nói gì vua Cao Tông cũng nghe.

Còn đang bàn tán thì có quân vào báo có sứ đệ kim bài thôi thúc Nguyên soái đi liền. Rồi không đầy 1 giờ, có tất cả 10 đạo kim bài thúc hối như thế. Nội sứ nói :

- Thánh Thượng dạy Nguyên soái nên hồi trào ngay, nếu chậm trễ tức là nghịch chỉ đó.

Nhạc Nguyên soái vội gọi Ngưu Cao và Thi Toàn, nói :

- Nay anh giao hết ấn tín cho 2 em chấp chưởng binh quyền thế cho anh. Hai em phải giữ nghiêm luật, không cho binh sĩ nhiễu hại dân chúng.

Nhạc Phi chọn 4 tên gia tướng, lên đường trở về Lâm An. Chư tướng và quân sĩ đưa ra khỏi dinh, ai nấy không cầm được nước mắt. Dân chúng đứng đầy 2 bên đường ở Châu Tiên Trấn đưa tiễn Nhạc Phi, nguyền rủa bọn gian thần.

Trên đường trở về kinh đô, Nhạc Phi đi ngang qua núi Kim San, nơi đây có ngôi chùa của Ông Đạo Duyệt. Nhạc Phi lên viếng chùa, gặp Đại sư Đạo Duyệt, vái chào, nói :

- Trước đây, tôi đến Lịch Tuyền bái kiến lịnh sư, người có dặn tôi 10 năm sau sẽ gặp lại thầy. Quả nhiên nay đúng 10 năm, gặp lại. Đêm qua tôi ở dịch xá thấy một điềm chiêm bao kỳ dị như sau : “Tôi thấy dưới bóng trăng mờ có 2 con chó mực ngồi đâu mỏ nói chuyện, lại thấy có 2 người ở trần đứng

dựa một bên, rồi bỗng sấm sét nổi lên, một con quái giống như rồng từ dưới sông Dương Tử nhảy lên chờn vờn chụp tôi, tôi thụt lui rồi giựt mình thức dậy. Xin thầy đoán mộng giùm.”

Đạo Duyệt nói :

- Chiêm bao như vậy cũng dễ đoán. Hai con chó ngồi ngang nhau nói chuyện, tức là 2 chữ Khuyển đứng 2 bên, ở giữa là chữ Ngôn, ráp lại thành chữ Ngục º» . Còn 2 người ở trần đứng 2 bên là 2 người cùng chung số phận với Nguyên soái. Còn con quái ở dưới sông nhảy lên muốn chụp Nguyên soái là tên gian thần âm mưu hãm hại Nguyên soái. Tôi e kỳ nầy Nguyên soái trở về trào không tránh khỏi tai họa.

Dứt lời, Đạo Duyệt ngâm 4 câu thi :

Tuế để bất túc, đề phòng Thiên khốc,

Phụng hạ lưỡng điểm, tương nhơn hại độc.

Lão cam đằng nả, thượng nhơn nại hà,

Thiết ta bà đả, lưu ý Phong ba.

Nhạc Phi nói :

- Tôi ngu muội không hiểu nổi, Đại sư giải thích cho.

- Đó là cơ Trời, không dám tiết lậu, mong Nguyên soái nhớ kỹ, sẽ thấy hiệu nghiệm.

Nhạc Phi từ giã Đạo Duyệt, tiếp tục đi về kinh. Khi thuyền qua sông Tương giang, Nhạc Phi ngồi nơi mũi thuyền, bỗng có một con quái hình giống trong mộng, nhảy lên chụp Nhạc Phi. Nhạc Phi lấy cây Lịch Tuyền thương đâm con quái, con quái né khỏi rồi cắn chặt cây Lịch Tuyền thương lặn mất.

Nhạc Phi than : Chỉ vì ta sơ ý để con quái cướp mất cây Thần thương ! Ôi tiếc quá !

Khi Nhạc Phi đi gần đến kinh đô, bỗng thấy trước mặt có quan Cẩm Vệ Phùng Trung và Phùng Hiếu, dẫn theo 20 tên Hiệu Úy, chận Nhạc Phi lại, đọc Thánh chỉ giả của Tần Cối, bắt Nhạc Phi trói lại, bỏ vào tù xa, giải về Lâm An, theo mật lịnh của Tần Cối, đem Nhạc Phi giam vào ngục Đại Lý.

Vua Cao Tông và các quan không hay biết chi cả. Tần Cối lại giả một đạo Thánh Chỉ, sai quan Đại Lý Tự Khanh Châu Tam Húy tra khảo Nhạc Phi, buộc Nhạc Phi nhận tội phản nghịch.

Châu Tam Húy biết đây là âm mưu của Tần Cối hãm hại trung thần, trong lòng buồn bực, ngước mặt lên Trời than :

“ Gẫm sự đời mà ngao ngán. Nhạc Phi làm tới tước Hầu, chức Đại Nguyên soái nắm hết binh quyền, một tay gìn giữ giang sơn nhà Tống, công lao không kể hết, thế mà vua nghe lời gian thần, cố tình hãm hại, huống chi ta đây làm chức Đại Lý Tự Khanh, đứa gian thần muốn bóp chết lúc nào không được. Nay, nếu ta nghe lời gian thần tra khảo Nhạc Phi, buộc tội oan cho người thì còn gì là công lý, còn không nghe lời bọn gian thần thì ta cũng bị như Nhạc Phi thôi. Chi bằng ta bỏ cái chức quan nầy, tìm chốn thanh vắng mai danh ẩn tích để tránh khỏi tai bay họa gởi thì hơn.”

Nghĩ như vậy rồi, liền khiến gia quyến bí mật thu xếp đồ đạc, chờ đến canh năm, Châu Tam Húy cổi áo mão và ấn tín đặt trên bàn giữa nhà rồi trốn đi.

Sáng ra, Thừa Tướng Tần Cối được thủ hạ phi báo, nổi giận cho lính truy nả Châu Tam Húy, mặt khác đưa 2 tên thuộc hạ đắc lực : Vạn Sĩ Hoa làm chức Đại Lý Tự Chánh Khanh, La Võ Tập làm Đại Lý Tự Thừa.

Hai tên nầy được lịnh của Tần Cối đem Nhạc Phi ra tra khảo, thịt nát xương tan, sống đi chết lại nhiều lần, nhưng Nhạc Phi nhứt định không chịu điều vu cáo. Nhạc Phi than :

- Nay ta chết đi thì an phận rồi, nhưng còn 2 đứa con ta là Nhạc Vân và Trương Hiến, e 2 đứa nó nóng nảy làm hư cái danh trung nghĩa của ta đi.

Tần Cối sợ 2 đứa con của Nhạc Phi trả thù cho cha nó thì rất nguy hiểm, nên vội sai người giả tuồng chữ của Nhạc Phi, viết thơ gọi Nhạc Vân và Trương Hiến đến kinh đô để thọ phong quan chức. Tần Cối cho người cấp tốc đến huyện Thang Âm đưa thơ, gạt Nhạc Vân và Trương Hiến đến kinh để giết luôn một lượt, trừ hậu hoạn.

Nhạc Vân và Trương Hiến, tuy không ham quyền chức, nhưng không dám cải Nhạc Phi, nên mắc mưu Tần Cối, bị Tần Cối bắt giam chung với Nhạc Phi.

Vợ Tần Cối là Vương thị bàn với chồng :

- Tướng công ra mật lịnh cho Vạn Sĩ Hoa dẫn 3 cha con Nhạc Phi, đêm nay đến Phong Ba Đình giết phứt đi là xong chuyện.

Đó là đêm 29 tháng chạp cuối năm (vì tháng chạp thiếu), rạng này mai là mùng 1 Tết năm mới, Trời mưa lớn lại có tuyết rơi nữa. Nhạc Phi nhớ lại bài thơ của Đạo Duyệt nên giựt mình kinh hãi, vì đã thấy ứng nghiệm ở 2 câu đầu :

Tuế để bất túc, đề phòng Thiên khốc,

Phụng hạ lưỡng điểm, tương nhơn hại độc.

Tuế để bất túc (cuối năm không đủ) là chỉ ngày 29 tháng chạp, Thiên khốc là Trời mưa, Phụng hạ lưỡng điểm là chữ Phụng ( ) thêm 2 chấm ở dưới là chữ Tần ( ), chỉ Tần Cối, tiếp theo là Tương nhơn hại độc thì chắc chắn là Tần Cối hại ta rồi.

Nhạc Phi lo sợ 2 em Ngưu Cao và Thi Toàn hay tin mình bị Tần Cối hại, đem binh về triều làm phản thì rất hại cho danh tiết của mình, nên xin Ngục quan giấy mực viết một bức thơ gởi Ngưu Cao và Thi Toàn, không được làm càn.

Viết xong thì có lịnh của Tần Cối bắt trói 3 cha con Nhạc Phi giải đến Phong Ba Đình. Nhạc Phi nghe đến tiếng Phong Ba Đình thì giựt mình than rằng : Hèn chi Đạo Duyệt nói : Lưu ý Phong Ba, thật không ngờ 3 cha con ta chết tại đây.

Khi 3 cha con bị giải tới Phong Ba Đình, đao phủ ra tay giết chết ngay. Nhạc Phi được 39 tuổi và Nhạc Vân 23 tuổi.

Nói về quan giữ ngục là Nghê Hoàn, thấy cảnh gian thần quá lộng hành thì chán nãn, bỏ chức trốn đi, lên Châu Tiên Trấn đưa thơ của Nhạc Phi cho Ngưu Cao và Thi Toàn.

Hai tướng quá tức giận gian thần, nên không kể lời dặn dò của Nhạc Phi, đồng kéo Đại quân về Lâm An bắt đứa gian thần Tần Cối phanh thây cho hả giận. Khi đoàn quân xuống thuyền qua sông Trường giang, bỗng sóng gió nổi lên ầm ầm, mây tỏa mịt mù, trên không xuất hiện một cây cờ có thêu 4 chữ TẬN TRUNG BÁO QUỐC, lại thấy Nhạc Phi hiện ra đứng trên mây, tả có Nhạc Vân, hữu có Trương Hiến, lấy tay khoát lia lịa, không cho tiến binh. Thuyền của Thi Toàn dừng lại, nhưng thuyền của Ngưu Cao vẫn tiến tới (vì tánh của Ngưu Cao rất bướng bỉnh), Nhạc Phi đưa tay áo quạt mấy cái, mấy chiếc thuyền đi đầu chìm hết. Cả bọn đều biết Nhạc Phi hiển linh, nhứt định không cho tiến quân, nên đồng thối lui. Ngưu Cao và Thi Toàn cấp phát lương thực và tiền bạc đầy đủ cho tuớng sĩ, rồi ra lịnh giải tán, ai muốn đi đâu thì tùy ý.

Linh hồn của Nhạc Phi được Thượng Đế truyền chỉ cho phép điều khiển các trung hồn, đến nhà lũ gian nịnh hiển lộng thần oai làm chúng kinh tâm tán đởm, đợi đến khi mạng số chúng hết thì bắt hồn chúng xuống Địa ngục hành tội.

Hồn Nhạc Phi bay đến nhà Tần Cối, thấy Tần Cối đang ngồi viết bổn chương nơi Vạn Huê Lầu, mưu tính hại các trung thần khác như : Hàn thế Trung, Trương Tín, Ngô Lân . . . Nhạc Phi nổi giận, hiện hình ra, đánh một chùy vào lưng Tần Cối, khiến Tần Cối té nằm sấp xuống, rồi nói :

- Tần gian tặc, tội ác của ngươi đầy dẫy mà còn muốn hại các trung lương nữa sao ?

Tần Cối thấy Nhạc Phi hiện hình ra thì hồn phi phách tán, chấp tay van lạy lia lịa.

Kể từ hôm đó, Tần Cối mang bịnh, trên lưng nổi lên một mụt nhọt lớn, đau nhức vô cùng, ít lâu sau thì Tần Cối chết. Quỉ sứ bắt linh hồn Tần Cối xuống Địa ngục hành hình.

Vợ Tần Cối là Vương thị, khi hay tin Ngột Truật cử binh qua đánh Trung nguyên lần nữa thì vui mừng, chuẩn bị nhà cửa để nghinh tiếp người tình cũ. Bỗng có một ngọn âm phong thổi tới, Vương thị ngước lên thấy quỉ sứ dắt Tần Cối mang xiềng hiện ra, rồi quỉ sứ đập Vương thị một đinh ba, làm 2 tròng mắt lồi ra ngoài, lưỡi le dài cả tấc, Vương thị ngã xuống chết liền.

Hồn Tần Cối và Vương thị bị liên tiếp hành hình nơi Địa ngục suốt 3 năm mới cho đi đầu thai làm trâu dê heo chó để đền bồi tội ác.

Nói về vua Tống Cao Tông, đang ngự trào, liên tiếp nhận được các bổn chương từ biên giới phía Bắc xin gởi binh cứu viện, vì Ngột Truật kéo đại binh đánh chiếm các ải, và đang kéo binh về hướng Lâm An. Cao Tông run sợ hỏi :

- Có ai dám lãnh binh đi trừ Ngột Truật chăng ?

Lúc ấy hồn Nhạc Phi nhập vào La Võ Tập, khiến hắn bước ra quì tâu :

- Thần là Nhạc Phi xin lãnh mạng.

Vua Cao Tông nghe 2 tiếng Nhạc Phi thì hoảng kinh, té nhào khỏi ngai vàng. Các quan nội thị đỡ vào cung. Nhà vua mê sảng luôn, thỉnh thoảng rú lên thất thanh, được vài hôm thì chết. Thái tử lên nối ngôi, lấy hiệu là Tống Hiếu Tôn.

Nguyên Soái Trương Tín tâu với vua Hiếu Tông :

- Muốn dẹp được binh Kim của Ngột Truật, thần xin dâng lên Thánh Thượng 5 điều :

* Thứ nhứt, bắt hết bọn gian thần hạ ngục, trị tội, rửa hờn cho dân. * Thứ nhì, khiến quan xây mồ đắp mã cho Nhạc Phi và các trung thần, lập Trung từ, thường quí tế cho rạng danh trung nghĩa. * Thứ ba, sai quan ra Vân Nam rước gia quyến Nhạc Phi trở về (vì trước đây bị Tần Cối đày đi), phong cho Nhạc Lôi nối chức cha mà đi dẹp Ngột Truật. * Thứ tư, đi chiêu an bọn đàn em của Nhạc Phi, đặng hiệp cùng Nhạc Lôi đánh quân Kim. * Thứ năm, phục chức cho các Trung thần.

Nếu Bệ hạ làm được 5 điều nầy thi lo gì binh Kim nữa.

Vua Hiếu Tông mừng rỡ phán :

- Hay lắm ! Thế thì Lão Quốc Trụ cho bắt hết gia quyến của lũ gian thần hạ ngục, Trẫm sẽ lo các điều kế tiếp.

Trương cửu Tư lãnh chỉ xây mộ Nhạc Phi, lập miếu thờ, đắp tượng Nhạc Phi và các trung thần. Trần nghĩa Tông lãnh chỉ đi Vân Nam rước gia quyến Nhạc Phi. Lý văn Thắng lãnh chỉ đi chiêu an Ngưu Cao, Kiết Thanh và các đàn em khác. Châu Tam Húy phục chức cũ, tra vấn tội trạng các gian thần.

Vua Hiếu Tông truyền chỉ đem cả bọn gian thần ra hành quyết trước mộ Nhạc Phi, Ngưu Cao làm quan Giám Trảm, lại ban cho 500 cân sắt để đúc tượng Tần Cối, Vương thị, Vạn Sĩ Hoa, La Võ Tập quì trước mộ Nhạc Phi chịu tội.

Vua Hiếu Tông triệu Nhạc Lôi, con của Nhạc Phi, vào triều lãnh chức Tảo Bắc Đại Nguyên Soái, phong Ngưu Cao làm Giám Quân Đô Đốc, Gia Cát Cẩm làm Quân Sư, vv . . . hợp với các anh hùng dẫn binh đánh Kim.

Sau đó, vua Hiếu Tông truy tặng :

- Nhạc Phi là Nhạc Quốc Công, Võ Mục Vương, được phối hưởng nơi miếu TháiTổ, vợ Nhạc Phi là Nhạc Quốc Phu Nhân

- Vương khảo Nhạc Hoà là Thái Sư Tùy Quốc Công, Vương Tỷ Diêu Thị là Tùy Quốc Phu Nhân.

- Vương Trưởng tử Nhạc Vân là Tả Võ Đại Phu An Biên Tướng Quân Trung Liệt Hầu, vợ là Trung Liệt Phu Nhân. vv

Nhạc Phi là vị anh hùng của dân tộc Trung hoa, được dân chúng quí mên, đức tượng thờ ở nhiều nơi. Tần Cối được dân tộc Trung hoa xem là tên bán nước nguy hiểm nhất.

Cho nên, trước mộ Nhạc Phi, người ta đúc hình vợ chồng Tần Cối quì, khoanh tay cúi đầu tạ tội. Kế bên có đặt một cái dùi gỗ để khách viếng mộ Nhạc Phi cầm dùi gỗ nầy đánh vào đầu đôi vợ chồng bán nước là Tần Cối và Vương thị.

Top of Page

22. Hàn Tín lòn trôn

Hàn Tín là người ở huyện Hoài Âm, mồ côi cha mẹ, thuở nhỏ rất nghèo, thường ăn bám ở nhà Đình trưởng đình Nam Xương làng Hạ Hương. Vợ của Đình trưởng không cho Tín ăn cơm nữa, Tín đi câu cá dưới thành để đổi gạo. Có một bà đập vải thuê, thấy Tín như vậy thì thương tình, cho Tín ăn cơm. Tín mừng rỡ nói với Bà :

- Thế nào tôi cũng đền ơn Bà xứng đáng.

Ba ta giận, nói :

- Kẻ đại trượng phu không thể nuôi nổi thân mình, tôi thương tình cho ăn, chứ có mong được cậu báo đáp đâu.

Những người hàng thịt ở chợ Hoài Âm, có một tên trẻ tuổi, thấy Tín mang kiếm nhưng nhát gan, nên trêu chọc :

- Mày tuy cao lớn, lại đi đâu cũng mang kiếm, nhưng trong lòng thì nhát thôi. Nếu mày có gan thì đâm tao chết, còn không thì mày phải luồn dưới trôn tao.

Hàn Tín nhìn đăm đăm tên hàng thịt, suy nghĩ giây lát, rồi cúi xuống bò qua trôn hắn. Cả chợ cười Hàn Tín nhát gan.

Khi Hạng Lương và Hạng Võ phò Sở Hoài Vương chống lại nhà Tần, Hàn Tín đến yết kiến Hạng Lương. Hạng Lương thấy Hàn Tín gầy ốm nên không muốn dùng, nhưng Quân Sư Phạm Tăng ngắm Hàn Tín một hồi rồi nói :

- Người nầy có vẻ gầy yếu nhưng bên trong ẩn một tài thao lược. Tướng quân không nên bỏ. Vả lại trong lúc nầy ta đang chiêu hiền nạp sĩ, bỏ một người thì trăm người nãn lòng.

Hạng Lương nể lời Phạm Tăng, thâu Hàn Tín và cho làm Chấp Kích Lang, lưu dưới trướng để sai phái như lính hầu.

Tuy buồn vì Hạng Lương không biết dùng mình, nhưng Hàn Tín vẫn nhận đỡ rồi sẽ tính sau.

Lúc bấy giờ Hạng Lương đang vây thành của Đại Tướng Chương Hàm nhà Tần, nhưng không phá thành được. Hạng Lương buồn rầu không nghĩ ra kế, binh sĩ mệt nhọc nãn lòng. Hàn Tín thấy vậy liền bày tỏ ý kiến, nói rằng :

- Việc quân binh tấn thối không nên diên trì. Nay quân ta không phá được thành mà cứ đóng binh dưới thành, binh sĩ biếng trễ, phỏng như quân địch biết được, nửa đêm mở cửa thành kéo quân ra cướp trại thì nguy mất. Đánh được thành là việc nhỏ, phòng bị mới là việc lớn. Xin Tướng quân xét lại.

Hạng Lương nghe Hàn Tín phân bày hơn thiệt, đã chẳng lưu ý mà còn hét lớn :

- Từ khi ta khởi binh ở Cối Kê đến nay, uy danh lừng lẫy, Chương Hàm chẳng qua chỉ là một đứa thất phu, nghe đến oai danh ta đà vỡ mật, còn dám đâu mở cửa thành ra cướp trại. Ngươi chỉ là một tên quân hầu, biết gì mà nói nhảm.

Tướng Tống Nghĩa thấy vậy can rằng :

- Hàn Tín tuy chỉ là quân hầu, nhưng lời nói đầy mưu lược, Tướng quân chớ khinh địch mà có hại.

Hạng Lương không nghe theo. Quả nhiên Chương Hàm đánh bại Hạng Lương đúng y như lời Hàn Tín đã nói trước, giết chết Hạng Lương. Hạng Võ lên thay Hạng Lương.

Phạm Tăng biết Hàn Tín là kẻ đại tài, nhiều lần tiến cử cho Hạng Võ dùng, còn nếu không dùng thì giết đi, để khỏi gây họa về sau. Nhưng Hạng Võ chê Tín là kẻ lòn trôn, không có khí phách anh hùng, nên không dùng, cũng không giết.

Trương Lương là Quân Sư của Hán Vương Lưu Bang, biết Hàn Tín là kẻ kỳ tài, có chí lớn, liền tìm đến gặp Hàn Tín. Trương Lương cho Hàn Tín biết mình có 3 cây kiếm báu : Một cây Thiên tử kiếm đã tặng cho Lưu Bang, một cây Tể Tướng kiếm đã tặng cho Tiêu Hà, còn một cây Nguyên Nhung kiếm thì xin tặng cho Hàn Tín, và viết thư tiến cử Hàn Tín cho Lưu Bang dùng làm Phá Sở Đại Nguyên Soái. Trương Lương trao cho Hàn Tín bản đồ vẽ ngõ tắt Trần Thương đi vào đất Thục, để Hàn Tín vào Thục yết kiến Lưu Bang, và cũng để sau nầy dẫn quân bí mật ra chiếm lấy đất Quan Trung.

Hàn Tín liền bỏ Hạng Võ, tìm đường đi vào đất Thục, qua ngõ tắt Trần Thương, đúng như họa đồ đã vẽ, gặp Nhữ Nam Hầu Hạ Hầu Anh và Thừa Tướng Tiêu Hà. Hai bên đàm luận với nhau thật tương đắc. Tiêu Hà tiến cử Hàn Tín lên Hán Vương Lưu Bang, Lưu Bang chưa tin Hàn Tín tài giỏi, nên tạm phong làm Đại Tướng. Sau đó, Hàn Tín đưa bức thơ tiến cử của Trương Lương, Lưu Bang mới tin Hàn Tín là hiền tài, lập đàn bái tướng, phong Hàn Tín làm Phá Sở Đại Nguyên Soái, trao cho Hàn Tín hổ phù, ngọc tiết, kim ấn và bảo kiếm, toàn quyền điều khiển tuớng sĩ chinh Đông.

Hàn Tín tỏ ra là một Đại Tướng tài ba thao lược, tập luyện binh sĩ một thời gian rồi tâu với HánVương, xin xuất quân, đi theo ngõ tắt Trần Thương, tiến về phương Đông, chiếm đất Tam Tần.

Hàn Tín dùng binh rất tài tình, đánh đâu thắng đó, thế quân rất mạnh. Hàn Tín thắng nhiều trận lớn, oai danh lừng lẫy. Hàn Tín theo lịnh của Hán Vương bình định được nước Triệu, nước Đại, nước Ngụy, nước Yên, nước Tề.

Hán Vương phong Hàn Tín làm Tề Vương, trưng dụng binh của Hàn Tín đi đánh Sở Bá Vương Hạng Võ.

Hạng Võ cảm thấy yếu thế hơn Hán Lưu Bang, nên sai Vũ Thiệp đến thuyết Hàn Tín :

- Việc tranh giành thiên hạ giữa Sở Bá Vương Hạng Võ và Hán Vương Lưu Bang chưa bên nào đắc thắng. Xưa kia, Hán Vương đã nhiều lần bội ước với Hạng Vương, nếu túc hạ cho rằng Hán Vương đối đãi với mình rất hậu, nên ra sức phò Hán Vương, nhưng rốt cuộc thế nào sau nầy túc hạ cũng bị Hán Vương bắt mà thôi. Túc hạ sỡ dĩ còn được sống là vì còn Hạng Vương. Hiện nay, Hán Vương hay Hạng Vương, ai thắng ai bại là ở tay túc hạ.Túc hạ theo Hán thì Hán thắng, túc hạ theo Hạng thì Hạng thắng. Nếu hôm nay Hạng Vương chết rồi thì hôm sau tới phiên túc hạ. Túc hạ sao không ly khai Hán mà hoà với Hạng, chia thiên hạ làm 3 mà làm vương một phần. Nay túc hạ bỏ lỡ cơ hội nầy, đem hết tâm lực phò Hán đánh Hạng thì làm người mưu trí như thế ư ?

Hàn Tín từ chối mà rằng :

- Tôi thờ Hạng Vương chẳng qua chỉ là Chấp Kích Lang, lời nói ra không được nghe, mưu kế đưa ra không được dùng, nên tôi bỏ Hạng theo Hán. Hán Vương tin dùng tôi, trao cho tôi ấn Đại Nguyên Soái, giao cho tôi hằng vạn binh, lời tôi nói được nghe, mưu kế tôi đưa ra được dùng, cho nên tôi mới được thế nầy. Phàm người ta hết sức tin cậy mình mà mình phản lại là điều chẳng lành. Tôi dù chết cũng không đổi dạ. Nhờ ông thưa lại với Hạng Vương, Tín từ chối.

Sau khi Vũ Thiệp đi rồi, Khoái Thông là mưu sĩ của Hàn Tín, vào bày tỏ với Hàn Tín, tóm tắt như sau :

- Hiện nay tánh mạng của 2 vua đều treo nơi tay của Túc hạ. Túc hạ theo Hán thì Hán thắng, theo Sở thì Sở thắng. Tôi xin phơi bày gan ruột của tôi để trình bày cái kế của tôi, nếu Túc hạ nghe theo thì không gì bằng làm lợi cho cả đôi bên, khiến chia ba thiên hạ, đứng theo thế chân vạc 3 chân, không ai dám động binh. Túc hạ là người hiền thánh, quân sĩ đông, giữ lấy nước Tề hùng mạnh, bắt nước Triệu theo mình, nắm lấy đất Giao đất Tứ, lấy đức vỗ an thiên hạ, kín đáo nhún nhường, thì các vua chư Hầu đều phục, kéo đến chầu vua Tề vậy. Tôi nghe : Trời cho mà không lấy thì sẽ mang lấy tội, thời cơ đến mà không theo thì mang lấy họa, xin túc hạ suy nghĩ.

Hàn Tín đáp :

- Vua Hán đãi tôi rất hậu, lấy xe của mình để cho tôi đi, lấy áo của mình để cho tôi mặc, lấy cơm của mình để cho tôi ăn. Tôi nghe nói : Đi xe của người thì lo điều lo nghĩ của người, mặc áo của người thì mang điều lo nghĩ của người, ăn cơm của người thì gánh vác công việc của người. Tôi lẽ nào chạy theo lợi mà bỏ nghĩa.

Khoái Thông cố gắng thuyết Hàn Tín nhiều lần, nhưng Hàn Tín nhứt định không đổi ý, nên sợ tai họa xảy đến cho mình, bèn giả điên, làm người thầy cúng.

Sau đó, Hàn Tín đánh Hạng Võ thảm bại, phải chạy đến thành Cai Hạ cố thủ. Thế cùng lực tận, tướng sĩ của Hạng Võ bị tiếng sáo của Trương Lương làm cho chán nãn, bỏ thành trốn đi. Thành Cai Hạ thất thủ, Hạng Võ chạy đến sông Ô giang, tự cắt đầu tự tử.

Hán Lưu Bang thống nhứt được nước Tàu, tự mình lên ngôi Hoàng Đế, xưng là Hán Cao Tổ, phong Hàn Tín làm Sở Vương, bình định nước Sở, đóng đô ở Hạ Bì.

Hàn Tín nay về nước Sở làm vua, liền gọi Bà già đập vải đã cho Hàn Tín ăn cơm lúc hàn vi, tới thưởng cho 1000 lượng vàng; gọi Đình trưởng tới thưởng cho 100 quan, nói :

- Ông là kẻ tiểu nhân, giúp người không trót.

Lại sai người đi tìm anh hàng thịt khi xưa đã bắt Hàn Tín lòn trôn, phong anh ta làm Trung Úy. Hàn Tín nói :

- Hắn là tráng sĩ đấy. Lúc hắn làm nhục ta, có phải ta không giết hắn được đâu, nhưng giết hắn thì có danh nghĩa gì.

Chung Ly Muội là tướng của Hạng Võ, nhà y ở núi Y Lê, vốn là bạn chơi thân của Hàn Tín lúc nhỏ. Khi Hạng Võ chết, Chung Ly Muội bỏ trốn đến nương náu nơi dinh của Hàn Tín. Hán Cao Tổ rất giận Chung Ly Muội, nghe nói Muội trốn ở Sở, nên ra lịnh cho Sở Vương Hàn Tín bắt Muội. Có người vu cáo với Hán Cao Tổ là Hàn Tín chứa Chung Ly Muội, có ý làm phản. Hàn Tín gặp Chung Ly Muội nói rõ việc ấy. Muội nói với Hàn Tín :

- Vua Hán chưa dám bắt Ông là vì có Muội đang ẩn trong nhà Ông, Ông muốn bắt ta để nịnh nhà Hán, thì hôm nay ta phải chết, nhưng ông cũng sẽ bị chết theo, dễ như trở bàn tay thôi. Ông không phải là người trưởng giả.

Chung Ly Muội nói xong, tự đâm cổ chết. Hàn Tín cắt đầu Muội đem dâng cho vua Hán đang tuần thú ở đất Trần. Hàn Tín mắc kế của vua Hán, vua Hán giả đi tuần thú, hội họp chư Hầu, là để bắt Hàn Tín một cách dễ dàng. Khi vua Hán thấy Hàn Tín đến, liền thét võ sĩ bắt Hàn Tín trói lại, bỏ lên xe, trở về kinh đô Lạc Dương.

Về tới Lạc Dương, Hán Cao Tổ nghĩ đến công lao của Hàn Tín, nên không giết, chỉ giáng xuống làm Hoài Âm Hầu, không cho nắm giữ binh quyền.

Một người môn hạ của Hàn Tín có tội với Tín, bị Tín bắt bỏ tù, muốn giết đi. Người em của hắn ra đầu thú, vu cho Hàn Tín muốn làn phản.

Lữ Hoàng Hậu, vợ của Hán Cao Tổ bàn với Tể Tướng Tiêu Hà, gạt Hàn Tín vào triều, sai võ sĩ bắt Tín trói lại, rồi đem đi chém chết ở lầu treo chuông trong cung Trường Lạc.

Lúc sắp bị chém, Hàn Tín hối hận than rằng :

- Ta rất hối hận, không nghe lời của Khoái Thông, cho nên bị đàn bà lừa dối, há chẳng phải là Trời muốn thế sao !

Lữ Hậu lại sai bắt cả 3 họ nhà Hàn Tín giết hết.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Đức Chí Tôn có nói rằng :

TNHT. II. 33 : “ Ngươi Hàn Tín xưa, nếu chẳng trở lòng nạp bạn thì chẳng bị thác vô cớ.”

Top of Page

23. Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi

Bạng là con trai, thuộc loài sò hến, nhưng lớn, thịt béo.

Duật là con cò, giống chim mỏ dài, cổ cao, lưng màu tro, lông trắng ở ngực và bụng, thường ở ngoài đồng, ăn các loài sò, hến, hay cá nhỏ. Tục truyền rằng, khi Trời sắp mưa con Duật kêu lên, nên sách Thuyết văn gọi con chim Duật là : Tri Thiên tương vũ điểu (con chim biết Trời sắp mưa). Thời Xuân Thu, người ta dùng lông chim Duật để làm mũ cho các quan coi Thiên văn, nên sách Lễ Ký có câu : Tri Thiên văn giả quan Duật (Người biết Thiên văn là quan đội mão bằng lông chim Duật).

Tương trì là kéo níu lẫn nhau. Ngư ông là ông làm nghề chài lưới. Đắc lợi là được lợi.

Bạng Duật tương trì, ngư ông đắc lợi là con trai và con cò kéo níu nhau làm ông chài được lợi, vì ông chài túm bắt cả 2 con đem về làm thịt, nấu chung một nồi.

Trong Chiến quốc sách có viết một đoạn nói về “Bạng Duật tương trì, ngư ông đắc lợi” như sau :

Vào Thời Chiến Quốc bên Tàu, 2 nước Yên và Triệu thường đánh nhau. Chiến tranh giữa 2 nước kéo dài từ năm nầy sang năm khác, khiến nhơn lực và tài nguyên của 2 nước bị suy kiệt dần.

Một người nước Yên tên là Tô Đại (anh của Tô Tần) tới yết kiến vua nước Yên là Huệ Vương, tâu rằng :

- Trên đường đi tới đây, tôi đi ngang qua bờ sông Dịch Thủy, thấy một con trai đang há miệng phơi nắng. Lúc đó một con cò đáp xuống, thấy thịt trai có vẻ ngon, thò mỏ mổ vào thịt trai, con trai lập tức khép chặt miệng lại, kẹp cứng mỏ cò. Hai con trì níu nhau một hồi lâu.

Con cò bảo :

- Hôm nay mầy không há miệng ra, ngày mai mầy không há miệng ra, mầy sẽ chết đói.

Con trai đáp :

- Hôm nay mầy không rút được mỏ ra, ngày mai mầy cũng không rút được mỏ ra, mầy cũng sẽ chết đói.

Hai con tiếp tục trì kéo nhau, không con nào chịu buông tha con nào.

Một ông chài đi ngang trông thấy, mỉm cười thích chí, thò tay túm bắt cả 2 con : trai và cò, đem về nhà làm thịt, nấu chung một nồi, gia đình ông chài được một bữa ăn ngon lành.

Hiện nay, nước Triệu đang muốn đánh và thôn tính nước Yên; nước Yên cũng đang chuẩn bị đánh lại. Hai nước cứ tiếp tục đánh nhau, khiến dân chúng 2 nước điêu linh khổ sở, người và tài nguyên thiệt hại, chẳng khác chi hai con trai và cò trì kéo lẫn nhau.

Tôi e rằng nước Tần hùng mạnh kia sẽ đóng vai ngư ông, chờ 2 nước Yên và Triệu không còn đủ sức tự vệ nữa thì đem quân thôn tính của 2 nước. Vua Yên Huệ Vương cho là lời nói của Tô Đại rất xác đáng, giựt mình tỉnh ngộ, khen thưởng Tô Đại là người thấy xa biết rộng, rồi cử Tô Đại làm sứ giả, đi qua nước Triệu giảng hòa, bãi việc chiến tranh.

Top of Page

24. Tích mạnh mẫu

Mạnh mẫu là mẹ của thầy Mạnh Tử. Thường nói : Mạnh mẫu trạch lân, nghĩa là : Bà mẹ của Mạnh Tử chọn chỗ ở có láng giềng tốt mới ở để dễ dạy con.

Theo Liệt Nữ Truyện, Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, mồ côi cha từ năm 3 tuổi, ở với mẹ, nhà nghèo, ở gần nghĩa địa nơi chân núi. Mạnh Kha thường thấy người ta đào đất đem chôn quan tài người chết, rồi nằm lăn ra khóc. Mạnh Kha về nhà, cùng với lũ trẻ nhỏ ở cùng xóm, bắt chước chơi trò chôn cất và nằm lăn ra khóc.

Mẹ của Mạnh Kha là Bà Chương thị, thấy thế thì nói rằng :

- Chỗ nầy không phải là chỗ cho con ta ở được.

Bà dọn nhà ra ở gần chợ. Mạnh Tử thấy người ta buôn bán, tráo trở đảo điên, thêm bớt, nói thách nói gạt. Cậu bé Mạnh Kha về nhà cũng bắt chước đùa nghịch một cách đảo điên như người ở ngoài chợ.

Bà mẹ của Mạnh Kha thấy thế thì nói :

- Chỗ nầy cũng không phải là chổ để con ta ở được.

Bà liền dọn nhà đến ở cạnh một trường học. Câu bé Mạnh Kha thấy trẻ con đua nhau cặp sách vở đi học tập rất có lễ phép, cậu về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép và cặp sách vở. Bà mẹ của Mạnh Kha bây giờ mới vui lòng nói :

- Chỗ nầy con ta ở được.

Một hôm, Mạnh Kha thấy nhà hàng xóm giết heo làm thịt, về nhà hỏi mẹ :

- Người ta giết heo để làm gì thế hả mẹ ?

Mạnh mẫu nói đùa với con :

- Để cho con ăn thịt đấy.

Nói xong, Bà biết mình lỡ lời nên ân hận, thầm nghĩ : Ta đã nói lỡ lời rồi. Con ta còn thơ ấu, trí thức mới mở mang, mà ta nói dối với nó thì chẳng hóa ra ta dạy nó nói dối sao !

Rồi Bà ra chợ mua thịt heo về nấu cho con ăn thật.

Lại một hôm, cậu Mạnh Kha đi học, bỗng bỏ về nhà chơi. Mạnh mẫu đang ngồi dệt vải trên khung cữi, bèn đứng dậy, kêu con lại, chỉ tấm vải trên khung, rồi Bà cầm dao cắt ngang. Cậu bé Kha cả kinh hỏi mẹ :

- Sao mẹ lại cắt ngang bỏ tấm vải như thế ?

Mạnh mẫu đáp :

- Con đang đi học mà con bỏ ngang trở về nhà thì cũng giống như mẹ đang dệt tấm vải nầy mà cắt ngang như thế.

Cậu bé Kha liền hiểu được ý mẹ, cậu cảm thấy xấu hổ, và từ hôm đó trở đi, cậu chuyên cần học tập, không dám chểnh mảng, cậu hay học tập việc tế lễ, việc học mỗi ngày một tăng tiến.

Khi lớn lên, Mạnh Kha theo học với thầy Tử Tư, tức là thầy Khổng Cấp, cháu nội của Đức Khổng Tử.

Thầy Tử Tư đem cái học trong sách Trung Dung truyền lại cho Mạnh Tử. Mạnh Tử hiểu rõ được cái đạo của Đức Khổng Tử, quán thông nghĩa lý sâu kín của Lục Kinh, làm điều gì cũng noi gương Đức Khổng Tử.

Mạnh Tử thọ được cái học Tâm truyền của Tử Tư, đạt được cái Tâm học cao siêu huyền bí của Nho giáo, nên đã trở nên một vị Thầy đứng sau Khổng Tử.

Người đời sau tôn Mạnh Tử là bực Á Thánh (bực Thánh đứng hàng thứ nhì sau Đức Khổng Tử), và truy phong Mạnh Tử là Á Thánh Trâu Quốc Công, được phối hưởng nơi miếu thờ Đức Khổng Tử.

Top of Page

25. Tín nhạn

Tín nhạn là tin tức do chim nhạn đem lại. Tín là tin tức, nhạn là con chim nhạn, tức là con Thiên nga, dịch ra là con Ngỗng Trời. Chim nhạn màu trắng, gọi là Bạch nhạn; màu hồng thì gọi là Hồng nhạn. Chim nhạn rất khỏe, cánh mạnh, bay được rất xa, cư ngụ ở nhiều nơi trên vùng đất phía Bắc nước Tàu. Khi mùa Đông giá rét sắp tới, chim nhạn bay từng đàn về phương Nam để tránh lạnh, vì khí hậu ở phía Nam ấm hơn. Khi mùa Đông qua rồi thì chim nhạn lại bay trở về phương Bắc.

Theo sách Hán Thư, vua Hán Nguyên Đế (49-33 trước Tây lịch) thời Tiền Hán, là vị vua nhu nhược, trong triều đình không có tướng tài, bị nước Hung Nô (Rợ Hồ) ở phương Bắc thường đem quân đánh phá biên giới và xâm lấn vào Trung nguyên. Triều đình không có tướng giỏi chống cự với Hung Nô, nên vua Hán sai Tô Võ đi sứ Hung Nô, giảng hòa giữa 2 nước, nhưng vua Hung Nô không chịu hòa, bắt Tô Võ đày lên miền Bắc Hung Nô, cho chăn 100 con dê đực ở Mục Dương Thành, và bảo rằng : Chừng nào dê đực đẻ con thì mới cho Tô Võ trở về nước.

Tô Võ may nhờ một con vượn cái giúp đỡ, đưa vào sống trong hang núi tránh được tuyết giá rất lạnh lẽo của miền Bắc xứ Hung Nô.

Mỗi lần chim nhạn bay về Nam để tránh rét, Tô Võ viết nhiều bức thư gởi cho vua Hán, rồi bắt chim nhạn, buộc thư vào nách của nó, để nó bay về Nam, đến Trung nguyên, dân chúng bắt được chim nhạn, lấy thơ đem trình vua Hán. Nhờ vậy, vua Hán biết Tô Võ còn sống và bị vua Hung Nô bắt đày lên Mục Dương thành ở phía Bắc nước Hung Nô.

Về sau, khi nước Hung Nô hòa với Trung nguyên, vua Hán sai sứ sang Hung Nô hỏi về Tô Võ. Vua Hung Nô nói rằng Tô Võ đã chết rồi.

Sứ giả đưa thơ của Tô Võ ra, nói Tô Võ còn sống, nên có viết thư về Trung nguyên, nói chúa Hung Nô đày Tô Võ ra Mục Dương thành. Chúa Hung Nô không thể chối cãi được, nên phải thả Tô Võ về Trung Nguyên.

Đó là theo Hán Thư. (Xem chi tiết nơi Điển tích 1 : Tô Võ)

Nhưng trong truyện Chiêu Quân cống Hồ thì có phần khác hơn. (Xem chi tiết nơi Điển tích 30 : Chiêu Quân cống Hồ)

Nàng Chiêu Quân, khi bị đưa đi cống Hồ, đến ải Nhạn Môn Quan, nàng lên Nhạn Lạc đài, khải một khúc nhạc bi ai, rồi viết một bức thơ lâm ly thống thiết, buộc và chân chim nhạn để chim nhạn mang về cho Hán Đế. Xong nàng xuống lầu, lên xe đi qua nước Hung Nô.

Chúa Hung Nô say đắm sắc đẹp của Chiêu Quân, nên Chiêu Quân thỉnh cầu điều gì cũng được chúa Hung Nô chấp thuận. Trước hết nàng yêu cầu chúa Hung Nô bắt tên gian tặc Mao Diên Thọ giết đi, kế đó nàng nói Hung Nô và Trung nguyên đã hòa với nhau thì nên tha Tô Võ về nước, vì Tô Võ đã bị đày quá lâu rồi, chúa Hung Nô cũng chấp thuận luôn.

Sau khi Tô Võ về nước rồi, nàng tìm cách nói gạt chúa Hung Nô là nàng đi ra bờ sông hành hương, thình lình nàng gieo mình xuống sông tự tử. Xác nàng trôi theo dòng nước trở về Trung nguyên.

Như thế, có 2 điển tích về tín nhạn : một là điển tích Tô Võ, hai là điển tích Chiêu Quân cống Hồ.

Top of Page

26. Trương Lương dâng dép 3 lần

Trương Lương, tự là Tử Phòng, người nước Hàn. Tổ tiên 5 đời của Trương Lương đều làm quan Tướng Quốc nước Hàn. Thân phụ tên là Bình, làm Tướng Quốc cho Ly Vương và Điệu Huệ Vương. Khi cha mất, Trương Lương còn ít tuổi nên chưa được làm quan.

Khi nước Hàn bị nước Tần đánh chiếm, Lương có 300 tôi tớ trong nhà. Em ruột của Lương chết, Lương không lo chôn cất mà để tâm trí lo việc thích khách vua Tần Thủy Hoàng để trả thù cho nước Hàn.

Trương Lương đem tất cả gia tài sản nghiệp bán đi, lấy tiền đi tìm một dũng sĩ làm thích khách giết vua Tần.

Trương Lương đi về Đông, đến yết kiến vị ẩn sĩ tên là Thương Hải Quân, rồi tìm được một dũng sĩ họ Lê, thường gọi là Trưng Hải Công, xử dụng đôi chùy nặng tới 120 cân.

Khi hay tin Tần Thủy Hoàng đi chơi ở miền Đông, Trương Lương cùng với dũng sĩ, rình núp ở bãi cát Bác Lãng, chờ đợi xe của Tần Thủy Hoàng đi qua, thình lình xông ra đánh giết cho được Thủy Hoàng. Đến khi đoàn xe của vua Tần đi tới, dũng sĩ họ Lê xông ra, nhưng đánh nhầm xe của tùy tùng, không phải xe của Thủy Hoàng, dũng sĩ liền bị giết chết.

Tần Thủy Hoàng thoát chết, rất oán giận Trương Lương, ra lịnh truy lùng bắt cho kỳ được Trương Lương.

Trương Lương phải thay tên đổi họ, trốn lánh ở Hạ Bì.

Trương Lương dâng dép 3 lần

Một hôm, Trương Lương ra cầu Hạ Bì ngồi chơi, gặp một cụ già mặc áo độc, cốt cách phương phi, đi qua cầu, bỗng làm rớt một chiếc dép xuống cầu. Cụ già quay lại nhìn Lương rồi bảo :

- Thắng bé nầy, xuống lượm dép giùm ta.

Trương Lương ngạc nhiên muốn cự lại, nhưng thấy cụ già cả nên cố nhịn, lội xuống dạ cầu, lượm chiếc dép đem lên cho cụ già. Ông cụ lại bảo :

- Xỏ vào chân giùm ta.

Lương thấy cụ già hơi lạ, nhưng đã trót lượm dép cho cụ thì luôn tiện ngồi xuống xỏ dép vào chân cụ luôn. Cụ già mang dép, cười rồi bỏ đi, không một tiếng cám ơn.

Lát sau, cụ trở lại cầu, loay quay thế nào làm rớt dép lần nữa. Cụ nhìn Lương rồi bảo xuống lượm dép cho cụ.

Lương thấy việc nầy có vẻ lạ, nên cũng vâng lời cụ để xem cụ giở trò gì nữa cho biết. Lương lội xuống cầu, lấy dép lên rồi cẩn thận xỏ vào chân cụ lần nữa.

Cụ già lại lẩn bẩn thế nào, lại làm rớt dép xuống cầu lần thứ 3. Cũng y như 2 lần trước, cụ bảo Trương Lương xuống cầu lượm dép cho cụ và xỏ vào chân cụ. Cụ mang dép vào xong, cười rồi bỏ đi.

Một lát sau, cụ già quay lại, nhìn TrươngLương rồi nói :

- Thằng bé nầy dạy được ! Năm ngày sau, sáng tinh mơ, mày ra gặp ta tại đây.

Trương Lương rất lấy làm lạ, nhưng cũng đáp : - Vâng.

Đúng 5 ngày sau, sáng tinh mơ, Trương Lương ra cầu thì thấy cụ già đã ngồi chờ Trương Lương. Cụ có ý giận, nói :

- Đã hẹn với người già cả mà lại đến sau là cớ gì ? Năm ngày nữa ra đây gặp ta cho sớm.

Nói rồi cụ bỏ đi. Đúng năm ngày sau, vào lúc gà gáy, Trương Lương vội ra cầu, thấy Cụ già đã đến ngồi chờ. Cụ lại giận, trách Lương, rồi cũng hẹn 5 ngày sau, ra đây cho sớm đặng gặp cụ.

Lần nầy, Trương Lương tức mình, chưa nửa đêm thì đi ra cầu, một lát sau cụ già tới, cụ hài lòng vì thấy Trương Lương đến trước chờ cụ. Cụ nói :

- Thế mới phải chứ !

Cụ trao cho Trương Lương một quyển sách rồi nói :

- Học trong quyển sách nầy thì làm thầy của bực đế vương, mười năm sau sẽ ứng nghiệm. Mười ba năm sau, con đến gặp ta. Hòn đá màu vàng nơi chân núi Cốc Thành ở phía Bắc sông Tế là ta đó.

Cụ già nói xong thì biến mất.

Sáng hôm sau, Trương Lương đem sách ra xem thì đó là quyển : THÁI CÔNG BINH PHÁP. Trương Lương vô cùng mừng rỡ, chuyên tâm học tập và nghiền ngẫm sách nầy.

Cụ già tặng sách cho Trương Lương chính là ông Tiên Huỳnh Thạch Công (Huỳnh thạch là cục đá màu vàng).

Nhờ cái công dâng dép 3 lần cho Tiên ông mà Trương Lương được trao sách quí, mới làm được Quân Sư cho Lưu Bang, bày mưu tính kế trong trướng mà thắng được quân địch ngoài ngàn dặm.

Mười năm sau (năm 209 trước Tây lịch), Trương Lương qui tụ được hơn 200 trai tráng, định theo Trần Thiệp, nhưng giữa đường gặp Bái Công Lưu Bang, nên Trương Lương theo phò Bái Công. Có mấy lần Trương Lương đem binh pháp trình bày với Bái Công, được Bái Công khen hay và dùng theo sách lược đó, còn khi nói binh pháp với người khác thì họ không hiểu. Lương nói : Bái Công là người nhà Trời chăng ?

Nhờ mưu kế của Trương Lương, Bái Công thắng luôn quân Tần nhiều trận lớn, đến được kinh đô Hàm Dương trước Hạng Võ. Vua Tần là Tử Anh qui hàng Bái Công.

Bái Công vào kinh đô nhà Tần, thấy cung điện rất xa hoa lộng lẫy, cung phi mỹ nữ hàng ngàn, vật quí nhiều vô kể, nên có ý muốn ở lại đây. Phàn Khoái can gián hết lời nhưng Bái Công không nghe. Trương Lương nói :

- Nhà Tần làm điều vô đạo nên Chúa công mới đến được đây. Đã cốt vì thiên hạ mà giết bọn giặc tàn ác thì ta nên ở theo lối mộc mạc để tỏ cái đạo đức của mình. Nay Chúa công mới vào được cung điện nhà Tần, liền ham thích cái vui đó thì có khác chi người ta nói “nối giáo cho giặc”. Vả chăng lời nói ngay nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm, thuốc đắng uống khó chịu nhưng chữa được bệnh. Xin Chúa công nên nghe theo lời của Phàn Khoái.

Bấy giờ Bái Công mới nghe theo, niêm phong kho tàng của nhà Tần, rồi kéo quân ra đóng ở Bái Thượng.

HạngVõ kéo quân đến Hàm Dương sau Bái Công, cho quân vào đốt phá cung điện của nhà Tần, giết chết Tử Anh, tịch thâu của cải, rồi tự xưng là Sở Bá Vương, phong cho Bái Công Lưu Bang là Hán Vương cai trị đất Ba Thục. Năm ấy là năm 206 trước Tây lịch, được kể là năm thứ nhứt của nhà Hán.

Hán Vương vì yếu thế hơn Hạng Võ nên phải tuân lịnh Hạng Võ, kéo binh vào đất Ba Thục, rồi theo mưu kế của Trương Lương, Bái Công cho đốt con đường sạn đạo (con đường độc nhất đi vào Ba Thục) để cho Sở Bá Vương tin rằng Hán Vương an phận nơi đất Thục, không muốn tranh đoạt thiên hạ với Sở Bá Vương.

Khi đốt xong sạn đạo, Trương Lương từ giã Hán Vương Lưu Bang để lo việc nước Hàn và tìm người giúp Hán Vương đánh Hạng Võ, thâu phục thiên hạ.

Khi đến huyện Bửu Kê thì gặp được người nhà của Hạng Bá, cho biết Hạng Võ đã giết chết Hàn Vương của nước Hàn vì giận Trương Lương theo Hán Vương Lưu Bang bày kế đánh Hạng Võ. Trương Lương thất kinh, liền cải trang y phục, lo việc tống táng Hàn Vương, rồi giả làm đạo sĩ, đến kinh đô Hàm Dương, là nơi Hạng Võ đóng đại binh. Trương Lương dạy con nít ở đây hát bài đồng dao nói là Thần nhân dạy hát, để Hạng Võ nghe được thì bỏ Hàm Dương, về đóng đô ở Bành Thành, là nơi cố quán của Hạng Võ.

Trương Lương biết Hàn Tín là người có kỳ tài nhưng chưa gặp thời, nên tìm đến gặp Hàn Tín, tặng Hàn Tín cây Nguyên Nhung kiếm, viết thơ tiến cử Hàn Tín cho Hán Vương dùng làm Phá Sở Đại Nguyên Soái, rồi trao cho Hàn Tín bản đồ vẽ con đường tắt Trần Thương đi vào Ba Thục.

Khi Hán Vương phong Hàn Tín làm Phá Sở Đại Nguyên Soái, kéo binh đánh lấy Tam Tần, thì Trương Lương dự bị xong các việc, nên trở lại làm Quân Sư cho Hán Vương.

Bên ngoài cầm quân thì có Hàn Tín, còn mưu kế bên trong thì có Trương Lương, nên quân của Hán Vương đại thắng, dồn Sở Bá Vương chạy về thành Cai Hạ, nhưng binh sĩ của Hạng Võ cũng còn khá đông, lực lượng còn khá mạnh.

Trương Lương dụng mưu, lên ngọn Kê Minh sơn, vào lúc đêm khuya thanh vắng, thổi lên khúc tiêu sầu ai oán, khiến cho 8 ngàn đệ tử của Hạng Võ mất hết tinh thần chiến đấu, bỏ trốn về quê. Thanh thế của Hạng Võ trở nên rất yếu. Sau cùng Hạng Võ bị thất thủ thành Cai Hạ, chạy ra bến sông Ô Giang, tự cắt đầu tự tử.

Diệt Hạng Võ, Hán Vương Lưu Bang thâu phục thiên hạ, lên ngôi Hoàng Đế, hiệu là Hán Cao Tổ, mở ra nhà Hán.

Hán Cao Tổ nói :

- Bàn mưu kế ở trong màn trướng, quyết định việc thắng bại ở ngoài ngàn dặm, đó là công của Tử Phòng. Nay phong Tử Phong 3 vạn hộ ở đất Tề, cho Tử Phòng tự chọn lấy.

Trương Lương nói :

- Xưa kia, thần khởi nghĩa ở Hạ Bì, tới đất Lưu thì gặp Bệ hạ, đó là Trời đem thần giao cho Bệ hạ. Nay thần xin được phong ở đất Lưu là đủ rồi, không dám nhận 3 vạn hộ ở Tề.

Hán Cao Tổ bèn phong Trương Lương làm Lưu Hầu ở đất Lưu.

Trương Lương thường hay cáo bịnh để khỏi tham dự vào việc triều chánh. Trương Lương thường nói : Gia đình tôi 5 đời làm Tướng Quốc nước Hàn. Khi nước Hàn mất, tôi chẳng tiếc số tiền vạn lạng để tìm cách giết Tần Thủy Hoàng báo thù cho nước Hàn, nhưng không thành công. Nay tôi dùng 3 tấc lưỡi làm thầy bậc Đế Vương, được phong vạn hộ, ở ngôi chư Hầu. Kẻ sĩ được như thế là tột bực, đối với Lương thế là đủ lắm rồi. Vậy xin bỏ việc nhân gian, chỉ muốn đi ngao du theo Huỳnh Thạch Công và Xích Tùng Tử mà thôi.

Thế rồi Trương Lương theo Đạo Tiên, học lối đạo dẫn (nhịn ăn cơm lần lần cho nhẹ mình), tồn tâm dưỡng tánh, không thiết tha đến công danh phú quí nữa.

Đúng như lời Cụ già đã nói với Trương Lương ở cầu Hạ Bì 10 năm về trước, Trương Lương tìm thấy cục đá màu vàng ở chân núi Cốc Thành, cung kính đem cục đá ấy về thờ.

Tám năm sau ngày Trương Lương được phong Hầu, Trương Lương mất, được đặt tên thụy là Văn Thành Hầu. Con của Trương Lương là Trương bất Nghi đem táng Trương Lương cùng với viên đá vàng.

Cuộc đời của Trương Lương có 3 việc được ca tụng :

1. Cắp chùy Bác Lãng :

Trương Lương tìm được dũng sĩ họ Lê, sử dụng cặp chùy nặng 120 cân, núp ở bãi cát Bác Lãng, chờ Tần Thủy Hoàng đi qua, xông ra hành thích Thủy Hoàng. Việc thất bại, Dũng sĩ họ Lê bị giết chết tại chỗ, Trương Lương trốn thoát, đến ẩn náo tại Hạ Bì.

2. Trương Lương dâng dép 3 lần :

Trương Lương nhờ nhẫn nại dâng dép 3 lần cho Ông Tiên Huỳnh Thạch Công mà được trao sách quí. Nhờ học sách nầy mà Trương Lương làm Quân Sư cho Hán Lưu Bang.

3. Công thành thân thối :

Khi công danh thành đạt vinh hiển rồi thì rút lui, bảo toàn tấm thân, tìm đạo tu hành, lưu danh thiên cổ. Trong lịch sử Trung Hoa, chỉ có 2 vị làm được việc nầy là : Phạm Lãi thời Đông Châu Liệt Quốc và Trương Lương thời nhà Hán.

Top of Page

27. Ngưu Lang - Chức Nữ

Ngưu Lang là chàng chăn trâu. Chức Nữ là người con gái làm thợ dệt.

Theo truyện cổ Thần thoại Trung quốc, Chức Nữ là nàng Tiên ở bờ phía Đông sông Ngân Hà trên Trời. Nàng dùng những sợi tơ thần dệt nên những áng mây tuyệt đẹp, có màu ngũ sắc biến hoá theo thời gian. Những áng mây ngũ sắc ấy được gọi là Thiên y, nghĩa là xiêm áo của Trời. Cùng làm việc nầy có 6 nàng Tiên trẻ khác nữa, là chị em với Chức Nữ, nhưng Chức Nữ đứng đầu.

Cách dải Ngân Hà rực sáng là cõi trần gian, có chàng chăn trâu trẻ tuổi, gọi là Ngưu Lang. Cha mẹ chàng mất sớm, chàng có anh ruột và chị dâu, bị anh ruột chia gia tài thiên lệnh, chỉ chia cho chàng một con trâu già, bảo chàng tự lập lấy mà sống.

Nhờ vào con trâu giúp đỡ cày bừa, và tự mình cố gắng làm việc, Ngưu Lang cũng tạo được một mái nhà và một thửa đất để làm ruộng sanh sống qua ngày.

Một hôm, bỗng con trâu già nói được tiếng người, mách cho chàng biết Chức Nữ và 6 nàng Tiên sắp xuống tắm ở sông Ngân Hà, khuyên chàng lén đến lấy xiêm y của Chức Nữ giấu đi thì sẽ được lấy nàng làm vợ.

Ngưu Lang rất ngạc nhiên, biết là trâu thần muốn giúp mình, nên chàng làm y lời. Chàng lặng lẽ ra bến sông Ngân Hà, núp vào bụi rậm chờ. Một lát sau có Chức Nữ và 6 nàng Tiên đến, trút bỏ xiêm y, lội xuống tắm. Ngưu Lang rời chỗ núp, lén ra lấy bộ xiêm y của Chức Nữ giấu đi. Các nàng Tiên phát hiện có người lạ, kinh hãi, vội lên lấy xiêm y mặc vào và bay về Trời, chỉ còn một mình Chức Nữ không có Tiên Y nên không bay được. Ngưu Lang nói với Chức Nữ, nếu nàng bằng lòng làm vợ chàng thì chàng sẽ trả lại xiêm y. Chức Nữ buông mái tóc dài che ngực và gật đầu ưng thuận.

Hàng này, Ngưu Lang lo cày cấy, nàng Chức Nữ thì canh cửi, 2 vợ chồng sống rất hạnh phúc. Chức Nữ sanh được 2 con : 1 trai và 1 gái, đều là những đứa trẻ rất kháu khỉnh.

Thượng Đế biết được việc nầy nên sai Thiên thần đi bắt Chức Nữ về Thiên đình trị tội.

Chức Nữ rất đau đớn phải rời xa chồng con. Ngưu Lang cũng rất đau khổ, chàng dùng thúng gánh 2 con đuổi theo, chàng định vượt sông Ngân Hà để tới Thiên đình xin Thượng Đế tha tội cho nàng, nhưng giờ đây, sông Ngân Hà đã bị Thượng Đế chuyển lên Trời thành một dãy nước lấp lánh, Ngưu Lang không sao lên đó được.

Ngưu Lang gánh 2 con trở về nhà, lòng buồn rầu nhớ thương, khóc than thảm thiết. Con trâu già lại nói :

- Ngưu Lang, tôi sắp chết rồi, sau khi tôi chết, chàng lột da của tôi làm áo khoát vào người thì chàng có thể lên được Thiên đình để gặp Chức Nữ.

Trâu thần nói xong thì lăn ra chết. Ngưu Lang làm y lời trâu thần, rồi khoát áo da trâu, gánh 2 con, đi lên Trời, tiện tay chàng cầm một cái gáo bầu đưa cho đứa con gái cầm.

Chàng đi lướt qua các chòm sao rực rỡ, dòng sông Ngân Hà hiện ra trước mắt, bên kia sông thấy thấp thoáng bóng nàng Chức Nữ đang dệt. Ngưu Lang vui mừng quá, còn 2 con thì vẫy đôi tay bé nhỏ reo lên : Mẹ ! Mẹ !

Ba cha con tới bờ sông Ngân Hà, định lội qua sông, nhưng bỗng chốc dòng sông nổi sóng dữ dội, nước chảy rất mạnh, không để cho Ngưu Lang vượt qua. Ngưu Lang đành đứng nơi bờ sông mà dòng lệ tuôn trào, 2 con cũng khóc ngất gọi mẹ. Bỗng đứa con gái nói :

- Cha ơi ! Sao mình không lấy cái gáo nầy tát nước sông cho cạn.

Ngưu Lang nghe con nói như vậy, kể cũng có lý, tát hoài thì nhứt định có ngày sông phải cạn, cha con chàng có thể qua bờ sum họp cùng Chức Nữ.

- Ừ, con nói có lý, mấy cha con ta luân phiên nhau tát nước, ắt có ngày dòng sông nầy phải cạn.

Nói xong chàng lấy gáo bầu tát nước. Khi Ngưu Lang tát mệt thì 2 con chàng tát. Tuy đôi bàn tay bé nhỏ, nhưng ý chí rất mạnh bạo, quyết tát cạn dòng sông để qua gặp Mẹ.

Tình thương yêu thắm thiết đó làm Thượng Đế cảm động, cho phép vợ chồng Ngưu Lang và Chức Nữ mỗi năm gặp nhau 1 lần vào đêm trừ tịch, mùng 7 tháng 7 âm lịch, có chim Ô thước đội đá bắc cầu qua sông Ngân Hà cho Ngưu Lang qua gặp Chức Nữ. Vợ chồng gặp nhau, kể lể biết bao tình thương nỗi nhớ, nước mắt nàng Chức Nữ và Ngưu Lang rơi xuống cõi trần, tạo thành những cơn mưa gọi là mưa Ngâu.

Từ đó, Ngưu Lang và 2 con ở lại cõi Trời, bên dòng sông Ngân Hà. Khi nào quá nhớ nhau thì chàng ném cái vai cày qua cho nàng, và nàng lấy cái thoi dệt ném lại cho chàng.

Trong những đêm Trời trong, sao giăng đầy Trời, chúng ta thấy 2 ngôi sao lấp lánh ở 2 bên dãy Ngân Hà, đó là 2 sao : sao Ngưu Lang và sao Chức Nữ, cùng một hàng với sao Ngưu có 2 sao nhỏ kế bên là 2 đứa con của chàng.

Cách đó một khoảng, có 4 ngôi sao nhỏ tạo hình cái thoi, đó là chiếc thoi dệt mà Chức Nữ ném cho Ngưu Lang. Gần sao Chức Nữ có 3 ngôi sao nhỏ xếp hình như cái vai cày, đó là cái vai cày mà Ngưu Lang ném qua cho Chức Nữ.

Top of Page

28. Thương dương vo

Thương dương là con chim tên gọi Thương dương, một giống chim lớn, có một chân, có tánh linh, báo hiệu Trời sắp mưa lớn. Võ hay Vũ là múa.

Thương dương võ là con chim Thương dương múa.

Sách Nho có viết rằng : “Thiên tương vũ nhi thương dương vũ.” ( ) nghĩa là : Trời sắp mưa thì con thương dương múa.

Đời vua Lỗ Định Công thời Đông Châu Liệt Quốc, Đức Khổng Tử đang làm quan Đại Tư Khấu tại nước Lỗ.

Bấy giờ ở đất Vấn Dương nước Lỗ, sát biên giới với nước Tề, xuất hiện một con chim lớn, dài chừng 3 thước, mình đen cổ trắng, mỏ dài, mà chỉ có một chân, từ phía Nam nước Tề bay sang nước Lỗ, đứng múa ngoài đồng. Người làm ruộng đuổi nó không đi, sau đó chim bay về hướng Bắc.

Quí Tôn Tư, một vị quan to nhiều thế lực ở nước Lỗ, nghe chuyện lạ như thế thì đem hỏi Đức Khổng Tử. Ngài đáp :

- Con chim ấy là Thương dương, sanh ở Bắc Hải. Hồi xưa có một đứa đồng tử, có một chân, dang 2 cánh tay nhảy múa ca rằng : Thiên tương vũ, thương dương cổ vũ (Trời sắp mưa lớn, chim thương dương nhảy múa). Cho nên khi nào thấy con thương dương nhảy múa thì biết là Trời sắp mưa to. Chỗ giáp giới với nước Tề, nơi có chim thương dương bay đến múa, phải phòng bị mưa to gió lớn, ngập lụt, mới khỏi bị thiệt hại.

Quí Tôn Tư liền truyền lịnh cho dân ở đó phòng bị. Quả nhiên 3 ngày sau, Trời mưa rất to, nước sông Vấn Thủy tràn lên gây ngập lụt. Dân Lỗ không bị thiệt hại vì có lịnh chuẩn bị trước, còn dân bên Tề không biết nên thiệt hại nhiều.

Từ bấy giờ, Đức Khổng Tử nổi tiếng là nhà bác học, khắp thiên hạ đều cho Ngài là Thánh nhân.

Top of Page

29. Mẫu đơn - Trĩ

Mẫu đơn là cây hoa mẫu đơn, màu hoa phơn phớt đỏ, rất đẹp, cũng có loại mẫu đơn vàng, trắng, tía. Hoa mẫu đơn có dáng đài các, nên người ta cho mẫu đơn là vương giả chi hoa, và cũng là vua của loài hoa.

Trĩ là con chim trĩ, thuộc loại gà, lông dài, đẹp.

Sự tích về hoa mẫu đơn và con chim trĩ như sau :

I. Mẫu đơn :

Thời nhà Đường, vua Đường Cao Tông, có Hoàng Hậu là Võ Tắc Thiên, thường gọi là Võ Hậu. Võ Hậu thông minh, có đảm lược, thông kinh sử, nên thường thay thế vua Cao Tông (đang mắc chứng phong huyền) tài định các việc trong triều đình, được các quan trong triều kính phục.

Khi vua Đường Cao Tông băng, Võ Hậu phế Thái tử Lý Trung, lập Lý Hoằng lên thay. Lý Hoằng làm trái ý Bà nên Bà giết đi (giết con của mình) , rồi lập Lý Hiền, lại phế Lý Hiền lập Lý Triết, tức là Đường Trung Tông. Năm sau Võ Hậu lại phế Đường Trung Tông, lập Lý Đán lên ngôi, ấy là Đường Duệ Tông.

Năm 690, Võ Hậu phế vua Đường Duệ Tông, tự lập mình lên làm vua, tự xưng là Võ Tắc Thiên Hoàng Đế, đổi quốc hiệu là Châu.

Bấy giờ mùa Đông vừa qua, Tết Nguyên đán đến, quan cận thần là Trương tôn Xương tâu với Võ Tắc Thiên :

- Oai đức của Bệ hạ bủa khắp thế gian, trên thì Thần, Thánh thảy đều chiều lòng, dưới muôn dân đều phục. Mai đây là ngày Nguyên đán, xin Bệ hạ ra một sắc chỉ cho trăm hoa đua nở để giúp vui cho Đấng Cửu Trùng.

Võ Tắc Thiên nghe lời nịnh hót thì rất đẹp ý, liền bảo quan hầu đem ra một bức lụa trắng để bà viết tờ sắc chỉ :

Minh triêu du Thượng uyển,

Hỏa tốc báo sơn chi.

Hoa tu liên dạ phất,

Mạc đãi hiến phong si.

Nghĩa là :Ngày mai chơi Thượng uyển,

Hạ sắc bảo trăm hoa.

Nhứt luật đều đua nở,

Không được trái lời ta.

Sáng ngày, Võ Tắc Thiên ngự vườn Thượng uyển, thấy trăm thứ hoa đều đua nở đồng kính chào vua, chỉ có một mình hoa mẫu đơn là không chịu nở. Võ Tắc Thiên nổi giận, cho là hoa mẫu đơn không tuân lịnh của Bà, nên Bà bắt tội mẫu đơn khi quân, đày xuống đất Giang Nam.

Vì vậy, ở Trường an không còn giống mẫu đơn nữa.

Hoa mẫu đơn chống lại lệnh truyền của Võ Tắc Thiên Hoàng Đế, vì cho rằng Võ Tắc Thiên là kẻ gian, soán ngôi vua, không xứng đáng.

Do đó, hoa mẫu đơn tượng trưng người chánh trực, trung can nghĩa khí, không khuất phục kẻ gian tà.

II. Trĩ :

Đời vua Hùng Vương nước ta, có đem cống qua nước Tàu một con chim trĩ, màu trắng, gọi là Bạch Trĩ.

Khi Bạch trĩ được đưa lên xứ Bắc, Bạch trĩ luôn luôn tìm cành cây nào day ngọn về phương Nam thí nó mới chịu đậu, ý như muốn tỏ cho biết rằng nó luôn luôn nhớ về tổ quốc Việt Nam của nó.

Kết hợp 2 điển tích trên, người ta vẽ lại khung cảnh hoa Mẫu đơn và con chim Trĩ để nói lên lòng thương nước (hoa mẫu đơn) và nhớ nhà (chim trĩ).

NEXT / Tiếp theo

Top of Page

HOME

Từ khóa » Tôn Võ Chăn Dê