Adalat LA 30mg (3 Vỉ X 10 Viên/hộp) - Pharmacity
Có thể bạn quan tâm
Chỉ định
Thuốc Adalat LA 30 được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
- Điều trị bệnh mạch vành
- Cơn đau thắt ngực ổn định mạn tính (đau khi gắng sức)
- Điều trị tăng huyết áp
Trong một nghiên cứu tiền cứu, mù đôi, ngẫu nhiên, đa quốc gia, điều trị 6321 bệnh nhân tăng huyết áp có thêm ít nhất một yếu tố nguy cơ được theo dõi trong thời gian hơn 3 - 4, 8 năm, người ta thấy Adalat (Nifedipine dạng GITS) làm giảm các biến cố tim mạch và mạch máu não đến một mức độ có thể so sánh được với điều trị phối hợp lợi tiểu chuẩn.
Dược lực học
Đặc điểm dược lực học
Nifedipine là một chất đối kháng canxi thuộc nhóm 1,4-dihydropyridine. Nó làm giảm dòng ion calcium qua màng vào trong tế bào thông qua kênh canxi chậm. Nifedipine đặc biệt tác dụng lên tế bào cơ tim và tế bào cơ trơn của động mạch vành và các mạch máu đối kháng ngoại biên.
Ở tim, nifedipine làm dãn động mạch vành, đặc biệt ở các mạch máu lớn, ngay cả ở phần thành mạch tự do của vùng hẹp động mạch bán phần. Ngoài ra nifedipine còn làm giảm trương lực cơ trơn động mạch vành và ngăn ngừa sự co thắt mạch. Kết quả sau cùng là làm tăng lưu lượng máu sau chỗ hẹp và tăng cung cấp oxy. Đồng thời, nifedipine giảm nhu cầu tiêu thụ oxy của cơ tim do giảm kháng lực ngoại biên (giảm hậu tải). Khi dùng dài hạn, Nafedipine cũng có thể ngăn ngừa sự hình thành các tổn thương xơ vữa mới trong động mạch vành.
Nifedipine làm giảm trương lực cơ trơn tiểu động mạch, do đó giảm kháng lực ngoại biên và giảm huyết áp. Khi bắt đầu điều trị nifedipine, có thể có phản xạ tăng nhịp tim tạm thời và làm tăng cung lượng tim. Tuy nhiên sự gia tăng này không đủ bù trừ cho tình trạng dãn mạch. Hơn nữa, nifedipine tăng sự bài tiết muối, nước khi dùng ngắn hạn và lâu dài. Tác dụng hạ áp của nifedipine tăng đáng kể ở các bệnh nhân tăng huyết áp.
Trong một nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, mù đôi, và đa quốc gia bao gồm 6321 bệnh nhân tăng huyết áp có thêm ít nhất một yếu tố nguy cơ kéo dài trên 3 đến 4,8 năm, nifedipine (nifedipine CR - nifedipine giải phóng có kiểm soát) cho thấy giảm các biến cố về tim mạch và mạch máu não đến mức độ có thể so sánh được với điều trị phối hợp các thuốc lợi tiểu chuẩn.
Trong nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược và đa trung tâm ACTION kéo dài đến 5 năm bao gồm 7665 bệnh nhân mắc chứng đau thắt ngực thể ổn định được điều trị chuẩn về thực hành nhất, hiệu quả lâm sàng của nifedipine và giả dược đã được đánh giá.
Chỉ tiêu chính yếu về hiệu quả điều trị (tính đến tỉ lệ chết bởi bất kỳ nguyên nhân nào, nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực dai dẳng, suy tim mới, đột quỵ, phân phối lại mạch ngoại biên) không có sự khác nhau giữa nhóm bệnh nhân được chỉ định nifedipine CR (n = 3825) và bệnh nhân được sử dụng giả dược (n = 3840) (P = 0,54).
Trong một phân tích phân nhóm định trước gồm 3997 bệnh nhân mắc cơn đau thắt ngực có tăng huyết áp lúc ban đầu được điều trị với nifedipine CR dẫn đến giảm có ý nghĩa 13% tiêu chí chính về hiệu quả điều trị.
Nifedipine CR đã được chứng minh là an toàn vì tiêu chí chính về an toàn (tính đến tỉ lệ chết bởi bất kỳ nguyên nhân nào, nhồi máu cơ tim và đột quỵ) tương đương ở cả hai nhóm điều trị (P=0,86).
Nifedipine CR có hiệu quả rõ ràng trên 2 trong 3 tiêu chí phụ được định trước. Tỉ lệ phối hợp tử vong, các biến cố tim mạch, sự phân phối lại mạch và chụp X quang mạch vành giảm đi 11% (P = 0,0012), lý do chính là sự giảm rõ nhu cầu chụp X quang mạch vành.
Nhóm sử dụng nifedipine có ít hơn 150 người chụp X quang mạch vành như là biến cố đầu tiên so với nhóm dùng giả dược. Các biến cố về mạch giảm 9% (P=0,027), lý do chính là giảm nhu cầu can thiệp mạch vành qua da và phẫu thuật nối tắt. Tóm lại, có ít hơn 89 trường hợp biến cố đầu tiên giữa nhóm nifedipine so với giả dược. Kết quả của tiêu chí phụ thứ 3 là các biến cố mạch máu lớn không có sự khác nhau giữa 2 nhóm điều trị (P=0,26).
Dược động học
Viên Adalat LA được sản xuất nhằm cung cấp nifedipine ở tỉ lệ xấp xỉ không đổi trong 24 giờ. Nifedipine được phóng thích từ viên thuốc ở mức độ từ 0 bằng một quá trình hút - đẩy thẩm thấu, được kiểm soát qua màng. Tốc độ phóng thích thuốc không phụ thuộc độ pH hoặc nhu động dạ dày ruột. Khi nuốt, các thành phần trơ về mặt sinh học của viên thuốc còn nguyên khi được vận chuyển trong đường tiêu hóa và sẽ được loại bỏ trong phân dưới dạng vỏ bọc không hòa tan.
Hấp thu
Sau khi uống, Nifedipine được hấp thu gần như hoàn toàn. Khả dụng toàn thân sau khi uống của Nifedipine dạng phóng thích ngay (dạng viên nang) là vào khoảng 45 - 56% do tác dụng chuyển hoá đầu tiên. Sinh khả dụng ổn định của Nifedipine dạng CR vào khoảng 68 - 86% của viên nang Nifedipine. Thức ăn làm giảm nhẹ mức độ hấp thu ban đầu nhưng không làm ảnh hưởng đến mức độ khả dụng của thuốc.
Sau khi uống nifedipine CR, nồng độ thuốc trong huyết tương tăng theo tỉ lệ có kiểm soát và đạt tới trạng thái ổn định khoảng 6 đến 12 giờ sau khi uống liều đầu. Những ngày dùng thuốc tiếp theo, nồng độ thuốc trong huyết tương tương đối hằng định ở mức này được duy tri với đỉnh thấp nhất đối với dao động xuống nhẹ trong 24 giờ dùng thuốc (0,9 - 1,2 ng/ml).
Bảng dưới đây chỉ ra nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) của viên nén nifedipine CR và thời gian đạt nồng độ đỉnh (tmax)
| Cmax [ng/ml] | tmax [h] | |
| Nifedipine CR 30 | 20 - 21 | 12 - 15* |
| Nifedipine CR 60 | 43 - 55 | 7 - 9* |
* không rõ ràng vì thời gian nồng độ thuốc trong huyết tương ở trạng thái ổn định.
Phân bố
Có khoảng 95% Nifedipine được gắn kết với protein huyết tương (albumin). Thời gian bán phân bố sau khi truyền tĩnh mạch được xác định là 5 đến 6 phút.
Chuyển hóa
Sau khi uống, Nifedipine được chuyển hoá ở thành ruột non và gan, chủ yếu thông qua quá trình oxy hoá. Các chất chuyển hoá của nó không có hoạt tính dược lực học. Nifedipine được bài xuất chủ yếu qua thận dưới dạng chất chuyển hoá và có khoảng 5 - 15% được bài xuất qua mật vào trong phân. Thành phần không chuyển hoá được tái hấp thu ở dạng vết (dưới 0.1%) trong nước tiểu.
Thải trừ
Giới hạn bài tiết bán thải là từ 1.7 đến 3.4h đối với dạng bào chế quy ước (Nifedipine dạng viên nang). Thời gian bán thải của Nifedipine dạng phóng thích chậm không thể hiện tham số có ý nghĩa nồng độ ổn định trong huyết tương được duy trì trong thời gian phóng thích từ viên thuốc và hấp thu hoạt chất. Sau khi phóng thích và hấp thu liều cuối cùng, nồng độ thuốc trong huyết tương sẽ giảm xuống cùng với thời gian bán thải như đối với dạng bào chế quy ước.
Trong trường hợp chức năng thận bị tổn thương, không có thay đổi đáng kể nào được phát hiện so với người tình nguyện khỏe mạnh.
Đối với các trường hợp chức năng gan bị tổn thương, độ thanh thải toàn phần giảm xuống. Trong những trường hợp nặng có thể phải giảm liều dùng.
Từ khóa » Thuốc Adalat 30mg Giá Bao Nhiêu
-
Adalat 30Mg - Chính Hãng - Giá Tốt Chỉ 1.050.000
-
Thuốc Adalat LA 30mg: Thuốc điều Trị Tăng Huyết áp Và đau Thắt Ngực
-
Thuốc Adalat Crono 30mg Công Dụng, Liều Dùng, Giá Bán
-
Thuốc Adalat LA 30mg Nifedipine Giá Bao Nhiêu Mua ở đâu
-
Nơi Bán Adalat La 30mg Giá Rẻ, Uy Tín, Chất Lượng Nhất - Websosanh
-
Adalat LA 30mg Thuốc Tim Mạch
-
Thuốc Adalat LA 30 Hộp 30 Viên-Nhà Thuốc An Khang
-
Thuốc Adalat La 30Mg Bayer điều Trị Tăng Huyết áp (Hộp 30 Viên)
-
Adalat La 30Mg Hộp 3 Vỉ X 10 Viên
-
Thuốc Adalat LA 30mg Tác Dụng, Liều Dùng, Giá Bao Nhiêu?
-
Thuốc Adalat LA 30mg Giá Bao Nhiêu Tính Theo Viên | EmiViet
-
[CHÍNH HÃNG] Thuốc Adalat 10 Mg: Công Dụng, Liều Dùng, Giá Bán
-
Thuốc Adalat Crono 30mg - Kiểm Soát Huyết áp "cực đỉnh"
-
Thuốc Tim Mạch Adalat LA 30mg Hộp 30 Viên - Maizo Shop