An Giang – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| An Giang | |||
|---|---|---|---|
| Tỉnh | |||
| Biệt danh |
| ||
| Tên cũ | Châu Đốc, Kiên Giang, Long Châu Hà, Long Châu Tiền, Long Xuyên, Rạch Giá | ||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | |||
| Vùng | Đồng bằng sông Cửu Long | ||
| Trung tâm hành chính | Phường Rạch Giá | ||
| Trụ sở UBND | Số 06 Nguyễn Công Trứ, phường Rạch Giá | ||
| Phân chia hành chính | 14 phường, 85 xã, 3 đặc khu | ||
| Thành lập | 1832 | ||
| Đại biểu Quốc hội |
| ||
| Tổ chức lãnh đạo | |||
| Chủ tịch UBND | Hồ Văn Mừng | ||
| Hội đồng nhân dân | 61 đại biểu | ||
| Chủ tịch HĐND | Nguyễn Thanh Nhàn | ||
| Chủ tịch UBMTTQ | Trần Thị Thanh Hương | ||
| Chánh án TAND | Võ Kế Nghiệp | ||
| Viện trưởng VKSND | Nguyễn Ngọc Phúc | ||
| Bí thư Tỉnh ủy | Nguyễn Tiến Hải | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: 10°22′52″B 105°25′12″Đ / 10,381116°B 105,419884°Đ | |||
| |||
| Diện tích | 9.888,91 km²[1] | ||
| Dân số (31/12/2024) | |||
| Tổng cộng | 4.952.238 người[1] | ||
| Mật độ | 500 người/km² | ||
| Dân tộc | Kinh, Hoa, Chăm, Khmer | ||
| Kinh tế (2024) | |||
| GRDP | 271.345.883 triệu đồng | ||
| GRDP đầu người | 55,22 triệu đồng | ||
| Khác | |||
| Mã địa lý | VN-44 | ||
| Mã hành chính | 91[2] | ||
| Mã bưu chính | 88xxxx | ||
| Mã điện thoại | 296 | ||
| Biển số xe | 67, 68 | ||
| Website | angiang.gov.vn | ||
| |||
An Giang là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.
Địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Vị trí địa lý
[sửa | sửa mã nguồn]Tỉnh An Giang nằm về tận cùng phía tây nam đồng bằng sông Cửu Long, cách Thành phố Hồ Chí Minh 187 km, trong đó có đất liền và hải đảo và có vị trí địa lý:
- Phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp dài 107 km
- Phía tây giáp Vịnh Thái Lan
- Phía nam giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh Cà Mau
- Phía bắc giáp các tỉnh Kampot, Kandal, Takéo, Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài gần 160,8 km.[3]
Phần hải đảo nằm trong vịnh Thái Lan bao gồm hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc và xa nhất là quần đảo Thổ Chu, tập trung thành 5 quần đảo là quần đảo Hà Tiên (Hải Tặc), quần đảo Bà Lụa, quần đảo An Thới, quần đảo Nam Du và quần đảo Thổ Chu.
Trung tâm tỉnh là phường Rạch Giá, cách Thành phố Hồ Chí Minh 245 km về hướng Tây Nam. An Giang tiếp giáp Campuchia ở phía Bắc với đường biên giới dài 160,8 km. Vịnh Thái Lan ở phía Tây có đường bờ biển dài hơn 200 km.
An Giang là tỉnh duy nhất của vùng Đồng bằng sông Cửu Long có địa bàn ở cả hai bờ sông Cửu Long. Điểm cực Bắc của tỉnh nằm ở xã Khánh Bình, cực Nam ở xã Vĩnh Phong, cực Tây ở phường Hà Tiên, cực Đông trên xã Hòa Hưng.[3]
An Giang nằm ven biển thuộc phía Tây Nam của Việt Nam, là vùng đất thuộc trấn Long Xuyên cũ, được khai phá từ thế kỷ 17–18.[4] Đầu thế kỷ 19, An Giang được sáp nhập vào các đơn vị hành chính Nam Kỳ dưới triều Nguyễn. Sau năm 1975, tỉnh An Giang được tái lập và duy trì đến ngày nay.[4]
An Giang được nhiều người biết đến là vùng đất văn hóa và du lịch tâm linh nổi tiếng bậc nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Cảnh đẹp của Kiên Giang (An Giang) ngày xưa từng được ca ngợi qua "Hà Tiên thập vịnh". Đến ngày nay An Giang được nhiều người biết đến qua danh thắng du lịch nổi tiếng là Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, núi Cấm, Hòn Phụ Tử (gãy hòn Phụ, còn hòn Tử) và đảo Phú Quốc. Ngoài ra, An Giang còn có tiềm năng kinh tế với nguồn lợi vô cùng to lớn về thủy sản. Tỉnh lỵ của An Giang là phường Rạch Giá, một trong những thành phố biển ở Đồng bằng sông Cửu Long.
An Giang có vị trí chiến lược quan trọng, nằm trong vùng vịnh Thái Lan, gần với các nước thuộc Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Chính vì vậy An Giang có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực, đồng thời đóng vai trò cầu nối các tỉnh miền Tây Nam Bộ với bên ngoài.
Khí hậu
[sửa | sửa mã nguồn]An Giang thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa (khoảng tháng 4/5–11) và mùa khô (tháng 12–3/4 năm sau). Nhiệt độ trung bình năm ~27 °C, nóng ẩm quanh năm; độ ẩm 75–80%. Lượng mưa trung bình 1.130–2.000 mm, riêng Phú Quốc 2.400–2.800 mm. Ít thiên tai, không chịu bão trực tiếp, ánh sáng và nhiệt dồi dào, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
Điều kiện tự nhiên
[sửa | sửa mã nguồn]An Giang là tỉnh có nghề đánh bắt hải sản phát triển. Với bờ biển dài trên 200 km, có diện tích biển khoảng 63.000 km², An Giang tiềm năng rất phong phú để phát triển kinh tế biển. Đây là một lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế hơn hẳn so với nhiều tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Nước mắm Phú Quốc là một thương hiệu nước mắm nổi tiếng không những trong phạm vi cả nước mà còn trên bình diện quốc tế. Cũng là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, có hệ thống giao thông thuận tiện bao gồm giao thông thủy và giao thông bộ. Tỉnh có mạng lưới giao thông quan trọng trong khu vực và có cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương, Giang Thành, Hà Tiên.
Nguồn nước của An Giang chủ yếu là nước mặt từ hai nhánh chính của sông Mê Kông là sông Tiền và sông Hậu, cùng mạng lưới sông, kênh rạch dày đặc, cung cấp lượng nước và phù sa lớn nhưng chịu tác động mạnh của lũ theo mùa. Nước ngầm khá dồi dào, có nơi xuất lộ nước khoáng (Ô Tà Sóc, Nhà Bàn, Vĩnh Trung), song phần lớn bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, hạn chế cho sinh hoạt. Tỉnh có các hệ sinh thái ngập nước quan trọng như Vườn quốc gia U Minh Thượng, khu Ramsar và rừng phòng hộ ven biển, có giá trị sinh thái cao. Tuy nhiên, tỉnh vẫn đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước cục bộ, đặc biệt ở vùng cao và khu dân cư khó tiếp cận nước sạch. Để khắc phục, tỉnh triển khai các hồ chứa và dự án thủy lợi (Núi Dài 2, Cô Tô, Tà Lọt) và tăng cường quản lý, bảo vệ nguồn nước.
Nông nghiệp An Giang phát triển mạnh, lấy lúa gạo làm nền tảng (vùng Tứ giác Long Xuyên), với diện tích lớn, năng suất cao, sản xuất 2–3 vụ/năm, cánh đồng lớn và hướng hữu cơ. Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh thủy sản (cá tra, nuôi trồng hiện đại), chăn nuôi và cây ăn trái, phát triển sản phẩm OCOP. Nông nghiệp đang chuyển từ truyền thống sang hiện đại, bền vững, ứng dụng khoa học công nghệ, giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu, thông qua hợp tác xã kiểu mới và liên kết chuỗi giá trị, góp phần quan trọng vào an ninh lương thực và xuất khẩu.
An Giang có 6 nhóm đất chính; đất phù sa chiếm lớn nhất (151.600 ha, 44,5% diện tích tự nhiên). Địa hình đa dạng (đồng bằng, núi rừng, biển đảo), đất liền bằng phẳng, thấp dần từ đông bắc xuống tây nam; gồm 4 vùng đất: phù sa ngọt, phèn ngập lũ, nhiễm mặn và đồi núi – hải đảo. Cơ cấu sử dụng đất: đất nông nghiệp 64,2%; đất rừng 122,8 nghìn ha (chủ yếu rừng phòng hộ); đất chuyên dùng 35,4 nghìn ha; đất ở 10,1 nghìn ha; trên 70 nghìn ha đất hoang hóa và >25 nghìn ha vườn tạp. Khoáng sản có tiềm năng: 152 điểm quặng, 23 mỏ; đá vôi trữ lượng 440 triệu tấn (khai thác công nghiệp 235 triệu tấn, đủ sản xuất 4,6 triệu tấn clinker/năm trong 40 năm); than bùn khoảng 150 triệu tấn.[5]
Hành chính
[sửa | sửa mã nguồn]Tỉnh An Giang có 102 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 14 phường, 85 xã và 3 đặc khu.
| Danh sách các đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc tỉnh An Giang[6] | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Lịch sử hành chính An Giang và Lịch sử hành chính Kiên GiangVùng đất An Giang thời xưa thuộc về Vương quốc Phù Nam nổi tiếng với di chỉ Óc Eo, và sau này là một phần của Vương quốc Campuchia đến thế kỷ XIX được người Khmer gọi là Moăt Chruk (មាត់ជ្រូក), nghĩa là xứ Miệng Heo. Nghĩa xứ Miệng Heo nghe có vẻ tối nghĩa, có thể suy đoán thêm các nghĩa khác như: xứ Tiếng Heo (xứ có nhiều heo rừng kêu la), xứ Bờ Heo (xứ có nhiều đường đất do heo rừng ủi thành). Sau người Việt đọc trại địa danh này thành Chu Đốc, nhưng do kị húy nên đọc thành Châu Đốc. Thời Nguyễn, địa danh này được phiên âm là Mật Luật (hoặc Ngọc Luật), dùng để chỉ khu vực xung quanh Châu Đốc.
Tỉnh An Giang thời phong kiến
[sửa | sửa mã nguồn]





Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì, đất An Giang (Khmer: ខេត្តមាត់ជ្រូក)[a] xưa là đất Tầm Phong Long nước Chân Lạp (vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu). Đến năm 1757 (Đinh Sửu), quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn (Outey II) dâng đất này cho chúa Nguyễn. Từ thời thuộc Chân Lạp cho đến tận đầu nhà Nguyễn, đất An Giang còn hoang hóa, rất ít dân cư. Những năm đầu thời vua Gia Long, nhà Nguyễn mới tổ chức mộ dân đến khai hoang định cư, và cho thuộc vào trấn Vĩnh Thanh (1 trong 5 trấn của thành Gia Định). Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), vua Minh Mạng chia trấn Vĩnh Thanh thành hai tỉnh An Giang và Vĩnh Long. Tỉnh An Giang (chữ Hán: 安江), đồng thời chia thành 2 phủ (với 4 huyện): phủ Tuy Biên (gồm 2 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú), phủ Tân Thành (gồm 2 huyện: Đông Xuyên và Vĩnh An). Cùng lúc, đặt ra chức An – Hà tổng đốc thống lĩnh cả hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, lỵ sở đặt tại thành Châu Đốc của tỉnh An Giang. Địa bàn tỉnh An Giang dưới thời nhà Nguyễn rất rộng. So với địa giới hành chính ngày nay bao gồm toàn bộ tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, một phần tỉnh Đồng Tháp và huyện Giá Rai thuộc tỉnh Bạc Liêu).
Tháng 4 năm 1824, Nặc Ông Chân (Ang Chan II), hiến tặng nhà Nguyễn thông qua Nguyễn Văn Thoại (để trả ơn ông Thoại), 3 vùng Chân Sum (còn gọi là Chân Thành hay Chân Chiêm, nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Mật Luật (Ngọc Luật, cũng nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Lợi Kha Bát (Prey Kabbas), Takeo). Nhà Nguyễn chỉ lấy 2 đất Chân Sum và Mật Luật (Mật Luật sau thành đất huyện Tây Xuyên). Chân Sum sau được phân vào hai huyện Hà Âm và Hà Dương từng thuộc phủ Tĩnh Biên (Tịnh Biên), tỉnh Hà Tiên, trước khi chia về cho tỉnh An Giang.
An Giang là một trong sáu tỉnh đầu tiên ở Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh) vào thời nhà Nguyễn độc lập, thành lập năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng.

Năm 1833, tỉnh An Giang bị quân Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm đóng, nhà Nguyễn phải điều binh đánh dẹp, cuối cùng Án sát An Giang là Bùi Văn Lý lấy lại được tỉnh thành (Châu Đốc) từ tay của quân Khôi. Năm 1833–1834, quân nước Xiêm La, theo cầu viện của Lê Văn Khôi, tiến vào An Giang theo đường sông Cửu Long đánh nhà Nguyễn, bị quân nhà Nguyễn do Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân đánh bại trên sông Vàm Nao.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà Nguyễn lấy thêm đất Ba Thắc (Bassac, thuộc Cao Miên) sáp nhập vào An Giang và lập thành phủ Ba Xuyên. Đất Ba Thắc cũ chia thành 2 huyện Phong Nhiêu và Phong Thịnh. Đồng thời nhập thêm huyện Vĩnh Định của tỉnh Vĩnh Long vào phủ Ba Xuyên, khiến phủ Ba Xuyên có 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thịnh và Vĩnh Định.
| Hành chính tỉnh An Giang năm 1836 | ||||
|---|---|---|---|---|
| 1. Phủ Tân Thành | ||||
| 1. Huyện Vĩnh An |
| |||
| 2. Huyện Vĩnh Định |
| |||
| 2. Phủ Tuy Biên | ||||
| 1. Huyện Đông Xuyên |
| |||
| 2. Huyện Tây Xuyên |
| |||
Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), nhà Nguyễn đặt thêm huyện An Xuyên (tách từ phần đất huyện Vĩnh An ra) lệ thuộc vào phủ Tân Thành. Cùng năm này, nhà Nguyễn còn cắt đất huyện Chân Thành phủ Chân Chiêm thuộc Trấn Tây Thành (xứ Cao Miên do nhà Nguyễn bảo hộ) hợp với phần đất cắt từ huyện Tây Xuyên để lập hai huyện Hà Dương (ở bờ Nam sông Vĩnh Tế) và Hà Âm (ở bờ Bắc sông Vĩnh Tế) của tỉnh Hà Tiên (sau chuyển sang tỉnh An Giang), nhập thêm thổ huyện Ô Môn (tên gọi cũ của vùng đất thuộc Cao Miên (Trấn Tây Thành) có nhiều người Khmer sinh sống) vào thành huyện Phong Phú, thổ huyện Mật Luật (Ngọc Luật) của Trấn Tây Thành vào huyện Tây Xuyên.[7][8]
Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), Thiệu Trị trích phủ Tĩnh Biên cùng huyện Hà Dương của tỉnh Hà Tiên, sáp nhập vào tỉnh An Giang. Năm 1844, trích thêm huyện Hà Âm của tỉnh Hà Tiên nhập vào phủ Tĩnh Biên, lúc này phủ Tĩnh Biên gồm các huyện Hà Âm, Hà Dương. Năm Tự Đức thứ 3 (1850), nhà Nguyễn bỏ phủ Tĩnh Biên, cho nhập 2 huyện Hà Âm và Hà Dương vào phủ Tuy Biên. Vào thời vua Tự Đức tỉnh An Giang gồm có 3 phủ với 10 huyện: Hà Âm, Hà Dương, Phong Phú, Tây Xuyên, Đông Xuyên, Vĩnh An, An Xuyên, Phong Nhiêu, Phong Thịnh, Vĩnh Định.[9]
1. Phủ Tuy Biên (绥边)- Huyện Hà Âm, trước là đất huyện Châu Thành nước Cao Miên, gồm 2 tổng (có thể là 2 tổng với tên là Thành Tín và Quy Đức, sau này được tổ chức lại thành 2 tổng nằm ngay bên bờ kênh Vĩnh Tế của tỉnh Châu Đốc năm 1901) với 40 làng xã (Thân Nhơn Lý, Vĩnh Bảo, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia, Vĩnh Lạc, Vĩnh Thông,...), phía tây giáp huyện Hà Châu tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp huyện Hà Dương, phía đông giáp huyện Tây Xuyên, phía bắc giáp nước Cao Miên. Theo Đại Nam nhất thống chí: huyện Hà Âm nằm bên trái (tả, tức bờ phía tây bắc) sông Vĩnh Tế.[10][11] Như vậy, vào thời này, vùng đất huyện Hà Âm thuộc phần đất giáp biên giới của Campuchia với Việt Nam, tức là phần đất huyện Kiri Vong, và có thể cả phần đất các huyện Kaoh Andaet, Bourei Cholsar thuộc tỉnh Takeo, Campuchia.
- Huyện Hà Dương (河陽), nguyên là đất huyện Chân Thành nước Cao Miên, gồm 4 tổng (Thành Tâm, Thành Ý, Thành Lễ, Thành Ngãi (hay Thành Nghĩa)) với 40 làng xã (An Cư, An Nông, An Thạnh, An Tức, Ba Chút, Bích Trì, Bôn Ca, Châu Lăng, Cô Tô, Đôn Hậu, Giai Âm, Hưng Nhượng, Lê Huất, Lương Đô, Nam Chỉ, Nam Qui, Ngôn Nạp, Nhơn Hòa, Ô Lâm, Phi Cấm, Phi Yên, Phú Thạnh, Tà Đảnh, Thới Sơn, Thuyết Nạp, Trát Quan, Trầm Văn, Tri Tôn, Tu Tế, Văn Giáo, Vĩnh Quới, Vĩnh Trung, Xuân Tô,...), phía tây giáp huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên; phía nam giáp huyện Kiên Giang, tỉnh Hà Tiên; phía đông giáp huyện Tây Xuyên; phía bắc giáp huyện Hà Âm. Đất huyện Hà Dương vào thời nay thuộc các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên, Tri Tôn của tỉnh An Giang.
- Huyện Phong Phú (豐富) từng là đất huyện Vĩnh Định và đất thổ huyện Ô Môn (của Cao Miên), gồm 3 tổng với 31 làng xã, phía tây giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp huyện Vĩnh Định (phủ Ba Xuyên), phía bắc giáp 2 huyên Tây Xuyên và An Xuyên (phủ Tân Thành). Đất huyện Phong Phú nay có thể là đất thuộc các quận Thốt Nốt, Ô Môn,... của thành phố Cần Thơ. Đại Nam nhất thống chí chép: "Sông Cần Thơ ở bờ Tây sông Hậu, cách huyện Phong Phú 3 dặm về phía đông,..., bờ phía tây là thủ sở đạo Trấn Giang cũ,..."[12]
- Huyện Tây Xuyên (西川) nguyên là đất đạo Châu Đốc cùng huyện Vĩnh Định và thổ huyện Mật Luật (của Cao Miên), nằm ở bờ Tây sông Hậu, gồm 3 tổng (Châu Phú, Định Thành, Định Phước) với 38 làng xã, phía tây giáp huyện Hà Dương; phía nam giáp huyện Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên; phía đông và phía bắc giáp huyện Đông Xuyên (phủ Tân Thành). Đất huyện Tây Xuyên nay có thể là đất thuộc các huyện An Phú, Châu Phú, Châu Thành và các thành phố Châu Đốc, Long Xuyên,... của tỉnh An Giang.
- Huyện Đông Xuyên nguyên là đất huyện Vĩnh Định (gồm đạo Tân Châu) nằm ở phía đông sông Hậu Giang (giữa sông Tiền và sông Hậu), gồm 4 tổng với 33 làng xã, phía tây và phía nam giáp huyện Tây Xuyên; phía đông giáp các huyện Kiến Đăng, (Kiến Phong), tỉnh Định Tường; phía bắc giáp nước Cao Miên. Đất huyện Đông Xuyên nay có thể là thuộc đất thị xã Tân Châu và các An Phú, Phú Tân,... của tỉnh An Giang.
- Huyện Vĩnh An (永安) gồm 4 tổng với 36 làng xã, phía tây giáp huyện Phong Phú, phía nam và phía đông giáp huyện An Xuyên, phía bắc giáp huyện Kiến Phong tỉnh Định Tường. Đất huyện Vĩnh An có thể nay là đất thuộc huyện Chợ Mới và một số huyện phía nam tỉnh Đồng Tháp (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) là: Lai Vung, Lấp Vò và thành phố Sa Đéc (đạo Đông Khẩu). Theo Đại Nam nhất thống chí thì đạo Đông Khẩu ở bờ Nam sông Sa Đéc thuộc địa phận huyện Vĩnh An.[13]
- Huyện An Xuyên (安川) gồm 3 tổng với 25 làng xã, phía tây giáp huyện Phong Phú, phía nam giáp huyện Vĩnh Định, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Long, phía bắc giáp tỉnh Định Tường. Đất huyện An Xuyên có thể nay thuộc các huyện phía nam tỉnh Đồng Tháp (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) là: Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò,... và có thể là cả đất thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long ngày nay.
- Huyện Vĩnh Định (永定) nguyên trước là huyện Vĩnh Định tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn sau cắt sang An Giang, gồm 4 tổng (Định Thới, Định An, Định Khánh, và Trấn Giang (tức Cần Thơ)) với 19 làng xã, phía tây giáp huyện Phong Nhiêu, phía nam giáp huyện Phong Thịnh, phía đông và phía bắc giáp tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn. Đất huyện Vĩnh Định nay có thể là vùng đất giáp bờ sông Hậu thuộc các tỉnh Hậu Giang (chủ yếu), Sóc Trăng (một phần).
- Huyện Phong Nhiêu (豐饒), gồm 3 tổng với 17 làng xã, phía tây giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên; phía nam giáp biển Đông; phía đông và phía bắc giáp huyện Vĩnh Định. Nay đất huyện Phong Nhiêu có thể thuộc phần phía tây 2 tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, cùng phần phía đông hay toàn bộ tỉnh Bạc Liêu.
- Huyện Phong Thịnh (豐盛), đến năm Tự Đức thứ 3 (1850) bị nhập vào cùng huyện Vĩnh Định với sự kiêm quản của phủ lỵ nên bị xóa tên. Toàn bộ đất huyện Phong Thịnh có thể là nằm trọn vẹn trong địa bàn tỉnh Sóc Trăng ngày nay.
| Các tổng đốc An Giang – Hà Tiên của nhà Nguyễn | ||
|---|---|---|
| Tên | Nhiệm kỳ | Ghi chú |
| Trương Minh Giảng | 1832–1836 | |
| Lê Đại Cương | Có tội, bị cách chức | |
| Trương Minh Giảng | 3 (âm)/1838[14]–1840 | |
| Dương Văn Phong | 9 (âm)/1840[15] – 3 (âm)/1841 | Bị cách chức |
| Nguyễn Văn Chương | 1841 | Tuần phủ kiêm Quyền hộ lý Tổng đốc |
| Phạm Văn Điển | 1841–1842 | Ốm chết |
| Nguyễn Công Nhàn | 1842–1844 | Bị cách chức |
| Nguyễn Văn Chương | 1844–1845[16] | |
| Tôn Thất Bạch | 1845–1847 | |
| Doãn Uẩn | 1847[17]–1850 | Ốm chết |
| Cao Hữu Bằng (Cao Hữu Dực) | 1850–1859 | Ốm chết[18] |
| Nguyễn Công Nhàn | 1859–1861 | Bị cách chức[19] |
| Phan Khắc Thận | 1861–1867 | Khi Pháp chiếm tỉnh An Giang |
| Các Tuần phủ tỉnh trưởng An Giang nhà Nguyễn | |||
|---|---|---|---|
| Tên | Nhiệm kỳ | ||
| Lê Đại Cương | 1832–1836 | ||
| Dương Văn Phong | 1838–1840 | ||
| Nguyễn Tri Phương | 1841 | ||
| Nguyễn Công Trứ | 1842–1844 | ||
| Doãn Uẩn | 1844–1847 | ||
| Cao Hữu Dực | 1847–1850 | ||
| Phan Khắc Thận | 1859–1861 | ||
| Lê Đức | |||
Tỉnh Hà Tiên thời nhà Nguyễn độc lập
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Hà Tiên (tỉnh)Năm 1757, Kiên Giang được biết là một đạo ở vùng Rạch Giá thuộc trấn Hà Tiên do Mạc Thiên Tích thành lập. Đến năm 1808, đạo Kiên Giang được đổi thành huyện Kiên Giang. Năm 1832, vua Minh Mạng đặt ra tỉnh Hà Tiên (một trong Nam Kỳ Lục tỉnh), gồm 1 phủ là Quan Biên (đổi tên từ phủ An Biên) thống lĩnh 8 huyện: Hà Châu (đổi tên từ huyện Hà Tiên), Long Xuyên (sau này là địa bàn Cà Mau) và Kiên Giang (sau này là địa bàn tỉnh Rạch Giá), Sài Mạt, Linh Quỳnh, Châu Sum (có thể là Chhuk, mà cũng có thể là Bảy Núi), Cần Vọt, Vũng Thơm. Thời vua Tự Đức cho đến khi Pháp chiếm Hà Tiên (1847–1867), tỉnh Hà Tiên gồm 1 phủ (là phủ An Biên) với 3 huyện: Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên. Các huyện trước thuộc phủ Quảng Biên (đất Cần Bột (Kampot), Vũng Thơm) trả về cho nước Cao Miên.
Phủ An Biên (thời Tự Đức), gồm:
- Huyện Hà Châu nguyên có tên là Hà Tiên, gồm 5 tổng (tổng Hà Nhuận, tổng Nhuận Đức, tổng Hà Thanh, tổng Thanh Di, tổng Phú Quốc[20]) với 63 làng xã, phía Tây giáp biển Tây, phía Nam giáp huyện Kiên Giang (Rạch Giá), phía Đông giáp huyện Hà Âm, tỉnh An Giang, phía Bắc giáp nước Cao Miên.[21] Đất huyện Hà Châu (phần các tổng Hà Thanh, Thanh Di) nay là phần đất thuộc các huyện, thành phố phía Bắc của tỉnh Kiên Giang: Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đất, Giang Thành, và (có thể phần các tổng Hà Nhuận, Nhuận Đức) là phần đất Campuchia ngày nay ở giáp biên giới: (tại các huyện Banteay Meas, Kampong Trach của tỉnh Kampot), huyện Kiri Vong của tỉnh Takeo và thành phố Kep.
- Huyện Kiên Giang nguyên là đất Rạch Giá (được Mạc Cửu mở mang), gồm 4 tổng (Kiên Định, Giang Ninh, Kiên Hảo, Thanh Giang) với 66 làng xã, phía Tây giáp biển Tây (qua núi Tật Lệ); phía Nam giáp lâm phận rừng huyện Long Xuyên, phía Đông giáp huyện Phong Phú, tỉnh An Giang; phía Bắc giáp huyện Hà Châu.[21] Đất huyện Kiên Giang nay có thể là phần đất thuộc thành phố Rạch Giá và các huyện phía Nam của tỉnh Kiên Giang.
- Huyện Long Xuyên nguyên là đất Cà Mau (được Mạc Cửu mở mang), gồm 2 tổng (là Long Thủy và Quảng Xuyên[22]) với 55 làng xã, phía Tây giáp biển Tây (qua núi Bạch Thạch (Đá Bạc)), phía Nam (đến cửa Hàu (Gành Hào)) giáp biển Đông, phía Đông giáp huyện Phong Thịnh, tỉnh An Giang, phía Bắc giáp lâm phận rừng huyện Kiên Giang.[21] Đất huyện Long Xuyên có thể nay là phần đất thuộc các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu, nhưng cũng có thể bao gồm thành phố Long Xuyên của tỉnh An Giang, vì theo lời chú thích trong Đại Nam nhất thống chí (bản quốc ngữ) thì: Thời Pháp thuộc, tỉnh Hà Tiên chia cho 4 tỉnh: tỉnh Hà Tiên thời Pháp (đất huyện Hà Châu cũ), tỉnh Rạch Giá (huyện Kiên Giang cũ), tỉnh Long Xuyên (tức huyện Long Xuyên cũ), tỉnh Bạc Liêu (cũng đất huyện Long Xuyên) (có lẽ lời chú này lầm với tỉnh An Xuyên, tức Cà Mau ngày nay).
Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì vào thời vua Tự Đức, cương vực tỉnh Hà Tiên như sau:"...Đông–Tây cách nhau 37 dặm, Nam-Bắc cách nhau 25 dặm, phía Đông đến địa giới huyện Hà Dương tỉnh An Giang (35 dặm), phía Tây đến biển (2 dặm), phía Nam vượt qua núi Tô Châu đến biển (5 dặm), phía Bắc đến địa giới Cao Miên (25 dặm), phía Đông Nam đến địa giới huyện Phong Thịnh, tỉnh An Giang (150 dặm linh), phía Tây Nam đến biển (chừng 1 dặm), phía Đông Bắc đến địa giới Cao Miên (25 dặm), phía Tây Bắc vượt qua núi Bạch Ô đến biển (20 dặm). Từ tỉnh lỵ đi về phía Đông đến Kinh 1.325 dặm..."
Như vậy, tỉnh Hà Tiên nhà Nguyễn nằm kéo dài bên bờ vịnh Thái Lan (biển Tây), suốt từ Cà Mau đến Hà Tiên, có thời kỳ tới tận tỉnh Kampot và thành phố Sihanoukville (Preah Sihanouk|Kompong Som) của Campuchia, phía Đông giáp với tỉnh An Giang nhà Nguyễn, phía Tây Bắc, phía Bắc và phía Đông Bắc tiếp giáp Cao Miên.
Trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, xem xét về các địa danh trấn Hà Tiên, Đào Duy Anh viết:"...Chúng ta đã biết Vũng Thơm, Cần Bọt, Sài Mạt là dải đất từ lỵ sở Hà Tiên đến Sài Mít. Tức dải đất bờ biển phía tây nam nước Cao Miên. Còn Chân Sum thì Nhất thống chí (An Giang) chép là núi ở phía nam huyện Hà Âm cách 10 dặm, cách bờ sông Vĩnh Tế ở phía Nam 10 dặm. Huyện Hà Âm là huyện ở phía bắc sông Vĩnh Tế (phía âm của sông) nên gọi tên là thế, đối với huyện Hà Dương là huyện ở phía nam (phía dương của sông). Có thể đất Chân Sum là đất Sóc Sum của tỉnh Kampot. Về Linh Quỳnh thì Nhất thống chí chép rằng núi Linh Quỳnh thuộc huyện Hà Châu cách 120 dặm và ở phía bắc sông Giang Thành, sông này có hai nguồn ra từ núi Linh Quỳnh. Linh Quỳnh tức địa điểm Linh Quỳnh của tỉnh Kampot nước Cao Miên. (Xem thế thì thấy rằng năm phủ Vũng Thơm, Cần Bọt, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh ở đời Nguyễn còn là đất của huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên và của huyện Hà Âm, tỉnh An Giang, đến đời Tự Đức triều Nguyễn mới trả về nước Cao Miên)."[23]
Ngày 15 tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp đặt hạt Thanh tra Kiên Giang. Ngày 16 tháng 8 năm 1967, đổi tên thành hạt Kiên Giang tỉnh Rạch Giá.
Tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc thời Pháp thuộc
[sửa | sửa mã nguồn]



Năm 1868, thực dân Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ là An Giang, Vĩnh Long và Hà Tiên. Lúc này, thực dân Pháp dần xóa bỏ tên gọi tỉnh An Giang cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn ở khu vực này, đồng thời cũng đặt ra các hạt Thanh tra. Theo đó, tỉnh An Giang bị đổi tên thành tỉnh Châu Đốc, do lấy theo tên gọi nơi đặt lỵ sở của tỉnh là thành Châu Đốc. Tỉnh Châu Đốc khi đó gồm các hạt Thanh tra, vốn lấy tên gọi theo địa điểm nơi đặt lỵ sở như: hạt Châu Đốc (phủ Tuy Biên cũ), hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành cũ) và hạt Ba Xuyên (phủ Ba Xuyên cũ):
- Hạt Châu Đốc (phủ Tuy Biên cũ), đặt lỵ sở tại Châu Đốc và có 2 huyện: Đông Xuyên, Hà Dương.
- Hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành cũ), đặt lỵ sở tại Sa Đéc và có 3 huyện: An Xuyên, Phong Phú, Vĩnh An.
- Hạt Ba Xuyên (phủ Ba Xuyên cũ), đặt lỵ sở tại Sóc Trăng và có 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh, Vĩnh Định.
Sau này, hạt Thanh tra Ba Xuyên cũng được đổi tên thành hạt Thanh tra Sóc Trăng. Về sau, hạt Thanh tra Châu Đốc cũng tách ra để thành lập thêm hạt Thanh tra Long Xuyên; hạt Thanh tra Sa Đéc tách ra hợp với một phần đất thuộc tỉnh Vĩnh Long trước đây để thành lập hạt Thanh tra Trà Ôn. Một năm sau, Tòa Bố chính từ Trà Ôn lại dời về Cái Răng.
Ngày 5 tháng 6 năm 1871, hạt Thanh tra Long Xuyên và hạt Thanh tra Châu Đốc nhận thêm phần đất đai thuộc địa bàn tổng Phong Thạnh vốn thuộc huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường vào thời nhà Nguyễn độc lập như sau:
- Hạt Châu Đốc: lấy phần đất 3 làng An Bình, An Long và Tân Thạnh thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong. Phần đất này nằm ở phía tây bắc Đồng Tháp Mười, sau gọi là tổng An Phước thuộc hạt Châu Đốc.
- Hạt Long Xuyên: lấy địa phận các làng Tân Phú, Tân Thạnh của tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong để lập tổng mới gọi là tổng Phong Thạnh Thượng thuộc hạt Long Xuyên.
Ngày 5 tháng 1 năm 1876, thực dân Pháp ban hành Nghị định về việc bỏ hẳn hệ thống Nam Kỳ lục tỉnh thời nhà Nguyễn, đồng thời các hạt Thanh tra được thay bằng hạt tham biện (arrondissement), các thôn đổi thành làng. Vùng đất Nam Kỳ lúc này bị chia thành 4 khu vực hành chính (circonscription) do thực dân Pháp đặt ra, trong đó có khu vực Bassac (Hậu Giang) cai quản các hạt tham biện: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Ôn và Sóc Trăng. Tuy nhiên, hạt tham biện Sa Đéc lại thuộc về khu vực Vĩnh Long.
Ngày 23 tháng 2 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ban hành Nghị định mới về việc lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực Bassac (Hậu Giang).
Năm 1882, thiết lập hạt tham biện Bạc Liêu trên cơ sở tách 3 tổng Quảng Long, Quảng Xuyên và Long Hưng của hạt tham biện Rạch Giá hợp với 2 tổng Thạnh Hòa và Thạnh Hưng tách từ hạt tham biện Sóc Trăng chuyển sang. Lỵ sở Bạc Liêu thuộc địa bàn tổng Thạnh Hòa vốn trước đó thuộc hạt tham biện Sóc Trăng. Như vậy địa bàn tỉnh An Giang cũ gồm các hạt tham biện Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng và Bạc Liêu nằm trong 2 khu vực Vĩnh Long và Bassac (Hậu Giang).
Ngày 12 tháng 8 năm 1888, hạt tham biện Rạch Giá bị giải thể, nhập vào hạt tham biện Long Xuyên. Ngày 27 tháng 12 năm 1892, thực dân Pháp lại tái lập hạt tham biện Rạch Giá. Năm 1888, Hà Tiên cho thuộc về hạt tham biện Châu Đốc, đến cuối năm 1892 lại phục hồi hạt tham biện Hà Tiên.
Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, đổi tất cả các hạt ở Nam Kỳ thành tỉnh. Địa bàn tỉnh An Giang cũ chia ra thành 6 tỉnh giống như thời kỳ trước đây: Bạc Liêu, Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng. Tình hình đó kéo dài cho đến năm 1956.
Vào thời Pháp thuộc, vùng đất tỉnh An Giang ngày nay (thuộc Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) là phần đất thuộc Châu Đốc và Long Xuyên. Phần đất của hai tỉnh này khi đó còn bao gồm cả một phần đất thuộc về tỉnh Đồng Tháp ngày nay.
Năm 1903, tỉnh Châu Đốc ban đầu có 3 quận: Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn. Năm 1917, Châu Đốc thành lập thêm quận Châu Thành, đến năm 1919 thì đổi tên là quận Châu Phú. Tuy nhiên năm 1939, lại đổi về tên quận Châu Thành như cũ. Ngày 19 tháng 12 năm 1929, thực dân Pháp lập thêm quận Hồng Ngự thuộc do tách ra từ quận Tân Châu cùng tỉnh.
Tỉnh lỵ Châu Đốc đặt tại làng Châu Phú thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Thành. Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Hà Tiên bị giải thể, trở thành một quận thuộc tỉnh Châu Đốc. Sau đó, lại tách ra trở thành tỉnh Hà Tiên độc lập như trước.
Năm 1917, thực dân Pháp cho thành lập ở tỉnh Long Xuyên 3 quận trực thuộc: Châu Thành, Chợ Mới và Thốt Nốt.
Năm 1953, tỉnh Long Xuyên thành lập thêm hai quận mới là Núi Sập và Lấp Vò.
- Quận Thoại Sơn được thành lập do tách tổng Định Phú ra khỏi quận Châu Thành.
- Quận Lấp Vò được thành lập do tách tổng An Phú ra khỏi quận Thốt Nốt.
Tỉnh lỵ Long Xuyên thuộc khu vực hai làng Bình Đức và Mỹ Phước cùng thuộc tổng Định Phước, quận Châu Thành. Dựa theo các Sắc lệnh ngày 31 tháng 1 năm 1935 và 16 tháng 12 năm 1938, thị xã Long Xuyên trực thuộc tỉnh Long Xuyên được thành lập bao gồm phần đất nội ô tỉnh lỵ trước đó.
Ngày 29 tháng 12 năm 1952, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp quyết định công nhận đô thị tỉnh lỵ Long Xuyên trở thành thị xã hỗn hợp (commune mixte) trực thuộc tỉnh Long Xuyên.
Giai đoạn 1945–1954
[sửa | sửa mã nguồn]Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên nằm trong danh sách 21 tỉnh ở Nam Bộ. Lúc này, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975.
Ngày 19 tháng 5 năm 1947, Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ tự trị thân Pháp quyết định tách đất quận Thốt Nốt để lập thêm quận Lấp Vò ban đầu cùng thuộc tỉnh Long Xuyên; quận lỵ đặt tại Lấp Vò (thuộc làng Bình Đông).
Ngày 12 tháng 9 năm 1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) ban hành Chỉ thị số 50/CT về việc sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu.
- Tỉnh Long Châu Tiền nằm ở phía bờ trái (tả ngạn) sông Hậu, hai bên sông Tiền, thuộc khu 8 và có 5 huyện: Châu Phú B, Chợ Mới, Hồng Ngự, Lấp Vò, Tân Châu.
- Tỉnh Long Châu Hậu nằm ở phía bờ phải (hữu ngạn) sông Hậu và có 6 huyện: Châu Phú A, Châu Thành (bao gồm 2 tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc), Thoại Sơn, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn.
Ngày 14 tháng 5 năm 1949, Chính quyền Việt Minh lại quyết định:
- Tách quận Lấp Vò ra khỏi tỉnh Long Xuyên để nhập vào tỉnh Sa Đéc.
- Chia huyện Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền thành huyện Phú Châu và huyện Tân Châu.
Năm 1949, chính quyền Cách mạng giao huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh Long Xuyên về cho tỉnh Cần Thơ.
Tháng 10 năm 1950, tỉnh Long Châu Hậu hợp nhất với tỉnh Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà và có 8 huyện: Châu Phú A, Châu Thành, Giang Châu,[24] Phú Quốc, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn.
Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa và có 7 huyện: Cao Lãnh, Châu Thành,[25] Chợ Mới, Lai Vung, Phú Châu, Tân Châu, Tân Hồng.[26]
Tháng 7 năm 1951, Chính quyền Việt Minh lại quyết định:
- Hợp nhất huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn thuộc tỉnh Long Châu Hà thành huyện Tịnh Biên.
- Hợp nhất huyện Châu Thành và huyện Thoại Sơn thuộc tỉnh Long Châu Hà thành huyện Châu Thành.
- Sáp nhập huyện Lấp Vò thuộc tỉnh Long Châu Tiền vào tỉnh Long Châu Sa.
Tuy nhiên, tên các tỉnh Long Châu Tiền, Long Châu Hậu, Long Châu Sa và Long Châu Hà không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận.
Năm 1953, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp lại quyết định thành lập thêm tại tỉnh Long Xuyên một quận mới là quận Núi Sập, với quận lỵ đặt tại Núi Sập (thuộc làng Thoại Giang) do tách tổng Định Phú ra khỏi quận Châu Thành cùng tỉnh.
Năm 1954, chính quyền Việt Minh giải thể các tỉnh Long Châu Sa và Long Châu Hà, đồng thời khôi phục lại các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc và Hà Tiên như cũ.
Năm 1954, chính quyền Cách mạng trả huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh Cần Thơ về cho tỉnh Long Xuyên quản lý trở lại như trước.
Tỉnh Rạch Giá và tỉnh Hà Tiên thời Pháp thuộc
[sửa | sửa mã nguồn]Trước năm 1900
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Rạch Giá (tỉnh) và Hà Tiên (tỉnh)Ngày 24 tháng 6 năm 1867, tỉnh Hà Tiên bị thực dân Pháp chiếm. Sau nhiều năm do dự và phân thiết, địa bàn Hà Tiên được phân bổ ra các đơn vị hành chánh khá phức tạp, theo từng thời điểm khác nhau. Ngày 15 tháng 6 năm 1867, sau khi chiếm xong tỉnh Hà Tiên, thực dân Pháp cho thành lập hạt Thanh tra Kiên Giang bao gồm hai huyện Kiên Giang và Long Xuyên cũ. Ngày 16 tháng 8 năm 1867, hạt Thanh tra Rạch Giá được thành lập do đổi tên từ hạt Thanh tra Kiên Giang trước đó.
Năm 1868, tỉnh Hà Tiên cũ được chia ra làm hai hạt Thanh tra: Hà Tiên và Rạch Giá.
- Hạt Thanh tra Hà Tiên, nguyên là huyện Hà Châu với 5 tổng và 16 thôn: tổng Hà Thanh (5 thôn), tổng Thanh Di (3 thôn), tổng Nhuận Đức (1 thôn), tổng Hà Nhuận (5 thôn), tổng Phú Quốc (5 thôn).
- Hạt Thanh tra Rạch Giá, nguyên là hai huyện Kiên Giang và Long Xuyên với 7 tổng và 110 thôn: tổng Kiên Định (14 thôn), tổng Thanh Giang (11 thôn), tổng Kiên Hảo (26 thôn), tổng Giang Ninh (11 thôn), tổng Long Thủy (25 thôn), tổng Quảng Xuyên (13 thôn).
Ngày 5 tháng 6 năm 1871, Pháp tách vùng Cà Mau ra khỏi Rạch Giá. Ngày 18 tháng 12 năm 1871, Pháp lại nhập Cà Mau vào Rạch Giá. Năm 1874, hạt Thanh tra Phú Quốc được thành lập, nhưng vì kinh tế không phát triển được nên một năm sau phải giải thể.
Ngày 5 tháng 1 năm 1876, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực hành chính lại chia nhỏ thành các tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement administratif) thì tỉnh Hà Tiên cũ bị chia thành hai hạt tham biện là Hà Tiên và Rạch Giá, đồng thời các thôn cũng đổi thành các làng.
Năm 1882, thiết lập hạt tham biện Bạc Liêu trên cơ sở tách 3 tổng Quảng Long, Quảng Xuyên và Long Thủy của hạt tham biện Rạch Giá hợp với 2 tổng Thạnh Hòa và Thạnh Hưng tách từ hạt tham biện Sóc Trăng chuyển sang. Lỵ sở Bạc Liêu thuộc địa bàn tổng Thạnh Hòa vốn trước đó thuộc hạt tham biện Sóc Trăng. Ngày 12 tháng 8 năm 1888, hạt tham biện Rạch Giá bị giải thể, nhập vào hạt tham biện Long Xuyên. Ngày 27 tháng 12 năm 1892, thực dân Pháp lại tái lập hạt tham biện Rạch Giá.
Năm 1888, sáp nhập hạt tham biện Hà Tiên về hạt tham biện Châu Đốc, đến cuối năm 1892, hạt tham biện Hà Tiên được phục hồi. Hạt tham biện Hà Tiên thuộc khu vực Bát Xắc (Bassac) chỉ còn đất huyện Hà Châu của tỉnh Hà Tiên cũ.
Giai đoạn 1900–1945
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định về việc của đổi tên tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, hai hạt tham biện Rạch Giá và Hà Tiên trở thành tỉnh Rạch Giá và tỉnh Hà Tiên. Năm 1903, đảo Phú Quốc được đặt dưới quyền của đại diện chủ tỉnh Hà Tiên.
Ngày 20 tháng 5 năm 1920, thực dân Pháp cho thành lập ở tỉnh Rạch Giá 5 quận trực thuộc: Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Long Mỹ, Phước Long.
Tỉnh lỵ Rạch Giá đặt tại làng Vĩnh Thanh Vân thuộc quận Châu Thành.
Ngày 18 tháng 12 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập thị xã hỗn hợp Rạch Giá trực thuộc tỉnh Rạch Giá trên cơ sở cải biến khu đô thị Rạch Giá, trụ sở tại làng Vĩnh Thanh Vân dưới quyền một viên Thị trưởng và một Hội đồng thị xã. Ngày 16 tháng 1 năm 1930, Pháp chia địa bàn thị xã Rạch Giá thành 5 khu vực để đánh thuế. Ngày 30 tháng 4 năm 1934, Pháp nâng thị xã Rạch Giá lên thành thành phố Rạch Giá và chia thành 3 khu phố trực thuộc.
Ngày 1 tháng 1 năm 1936, thực dân Pháp lập đại lý hành chánh An Biên thuộc tỉnh Rạch Giá, trụ sở đặt tại chợ Thứ Ba trên cơ sở tách ra từ quận Phước Long. Đến ngày 1 tháng 8 năm 1939, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định về việc nâng lên thành quận An Biên, đặt dưới quyền một quan chức người Pháp.
Năm 1913–1924, giải thể tỉnh Hà Tiên sáp nhập vào tỉnh Châu Đốc. Ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Hà Tiên lại trở thành một tỉnh độc lập. Từ năm 1924, tỉnh Hà Tiên gồm 4 quận: Châu Thành, Giang Thành, Hòn Chông và Phú Quốc. Tỉnh lỵ Hà Tiên đặt tại làng Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành.
Giai đoạn 1945–1954
[sửa | sửa mã nguồn]Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975. Lúc bấy giờ, tỉnh Rạch Giá và tỉnh Hà Tiên nằm trong danh sách 21 tỉnh ở Nam Bộ.
Năm 1947, quận Phước Long được chính quyền thực dân Pháp giao cho tỉnh Bạc Liêu. Cũng trong năm này, chính quyền kháng chiến của lực lượng Việt Minh quyết định đổi tên huyện Phước Long thành huyện Hồng Dân, ban đầu thuộc tỉnh Rạch Giá, do lấy theo tên người chiến sĩ cộng sản Trần Hồng Dân (1916–1946) đã hy sinh tại địa phương trước đó. Năm 1951, huyện Hồng Dân được chính quyền Việt Minh giao về cho tỉnh Bạc Liêu.
Năm 1951, chính quyền Việt Minh quyết định giải thể tỉnh Rạch Giá, sáp nhập địa bàn vào các tỉnh Bạc Liêu, Cần Thơ và Sóc Trăng. Trong đó, thị xã Rạch Giá và các huyện Châu Thành, Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng được giao về cho tỉnh Cần Thơ, các huyện Hồng Dân, An Biên được giao về cho tỉnh Bạc Liêu. Bên cạnh đó, một phần nhỏ đất đai tỉnh Rạch Giá cũng được giao về cho tỉnh Sóc Trăng quản lý.
Tuy nhiên, việc giải thể tỉnh Rạch Giá, cũng như đổi tên gọi huyện Phước Long thành huyện Hồng Dân lại không được phía chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp của Bảo Đại và sau này là chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận. Đến năm 1954, chính quyền Việt Minh lại quyết định tái lập tỉnh Rạch Giá. Tháng 10 năm 1954, các huyện Hồng Dân và Long Mỹ cũng trở lại thuộc tỉnh Rạch Giá. Sau năm 1956, chính quyền Cách mạng lại quyết định giao huyện Hồng Dân cho tỉnh Sóc Trăng và giao huyện Long Mỹ cho tỉnh Cần Thơ quản lý trở lại như cũ.
Ngày 29 tháng 12 năm 1952, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp quyết định công nhận đô thị tỉnh lỵ Rạch Giá trở thành thị xã hỗn hợp (commune mixte) Rạch Giá trực thuộc tỉnh Rạch Giá.
Song song đó, tỉnh Hà Tiên cũng bị giải thể giống như tỉnh Rạch Giá. Tháng 10 năm 1950, chính quyền Việt Minh quyết định thành lập tỉnh Long Châu Hà trên cơ sở hợp nhất tỉnh Hà Tiên với tỉnh Long Châu Hậu (bao gồm một phần tỉnh Châu Đốc và một phần tỉnh Long Xuyên cũ) trước đó. Tuy nhiên, tên gọi tỉnh Long Châu Hà cũng không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa công nhận. Tỉnh Long Châu Hà tồn tại cho đến năm 1954 thì cũng bị giải thể, phân chia lại cho các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc và Long Xuyên như cũ.
Như vậy, sau năm 1954, tỉnh Rạch Giá và tỉnh Hà Tiên đều được khôi phục trở lại như cũ.
Tỉnh An Giang giai đoạn 1956–1964
[sửa | sửa mã nguồn]Việt Nam Cộng hòa
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1955, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi Long Xuyên và Châu Đốc như thời Pháp thuộc.
- Tỉnh Châu Đốc có 5 quận: Châu Thành, Hồng Ngự, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn trong đó tất cả 70 xã.
- Tỉnh Long Xuyên có 4 quận: Châu Thành, Chợ Mới, Núi Sập, Thốt Nốt với tổng cộng 47 xã.
Sau năm 1956, các làng gọi là xã.
Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách quận Hồng Ngự (có cả cù lao Tây) ra khỏi tỉnh Châu Đốc và tổng Phong Thạnh Thượng ra khỏi quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên để cùng nhập vào tỉnh Phong Thạnh mới thành lập (sau đó lại đổi tên thành tỉnh Kiến Phong, ngày nay là tỉnh Đồng Tháp).
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 143/VN.[27] Theo đó, tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên được sáp nhập để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh An Giang. Tỉnh lỵ tỉnh An Giang đặt tại Long Xuyên và vẫn giữ nguyên tên là "Long Xuyên", về mặt hành chánh thuộc địa bàn xã Phước Đức, quận Châu Thành.
Ngày 14 tháng 1 năm 1959, xã Phước Đức bị giải thể, sáp nhập vào địa bàn hai xã Mỹ Phước và Bình Đức cùng thuộc quận Châu Thành.
Lúc này ở vùng đất cả hai tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên trước đó đều có quận Châu Thành cả. Tuy nhiên, do tỉnh lỵ tỉnh An Giang có tên là "Long Xuyên" và được đặt ở quận Châu Thành, cho nên quận Châu Thành, tỉnh Châu Đốc cũ được đổi tên là quận Châu Phú như ở giai đoạn 1919-1939.
Ngày 24 tháng 4 năm 1957, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh An Giang.
Tỉnh An Giang có 8 quận: Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Núi Sập, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn. Tỉnh lỵ đặt tại Long Xuyên.
Ngày 6 tháng 8 năm 1957, thành lập quận An Phú thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở tách 13 xã phía Bắc của quận Châu Phú.
Ngày 31 tháng 5 năm 1961, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên quận Núi Sập thành quận Huệ Đức.
| Danh sách các quận thuộc tỉnh An Giang | ||
|---|---|---|
| Tên | Tổng | Quận lỵ |
| An Phú |
| Phước Hưng |
| Châu Phú |
| Châu Phú |
| Châu Thành |
| Phước Đức |
| Chợ Mới |
| Long Điền |
| Huệ Đức | Định Phú có 6 xã | Vọng Thê |
| Tân Châu |
| Long Phú |
| Thốt Nốt | Định Mỹ có 9 xã | Thạnh Hòa Trung Nhứt |
| Tịnh Biên |
| An Phú |
| Tri Tôn |
| Tri Tôn |
Chính quyền Cách mạng
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1957, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng giải thể và sáp nhập hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc với nhau để thành lập một tỉnh mới, vẫn lấy tên là tỉnh An Giang như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện vào năm 1956.
Tỉnh An Giang có 2 thị xã: Long Xuyên (tỉnh lỵ), Châu Đốc và 9 huyện: An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Núi Sập, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt.
Chính quyền Cách mạng cũng trả huyện Hồng Ngự về tỉnh Kiến Phong và huyện Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc.
Năm 1963, lại giao huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Cần Thơ quản lý.
Tỉnh Kiên Giang (tỉnh Rạch Giá) giai đoạn 1956–1964
[sửa | sửa mã nguồn]Việt Nam Cộng hòa
[sửa | sửa mã nguồn]Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Rạch Giá và tỉnh Hà Tiên như thời Pháp thuộc.
Ngày 15 tháng 2 năm 1955, Thủ hiến Nam Việt của chính quyền Quốc gia Việt Nam quyết định tạm sáp nhập vùng Chắc Băng và quận An Biên thuộc tỉnh Rạch Giá vào tỉnh Sóc Trăng. Ngày 24 tháng 5 năm 1955, quyết định sáp nhập ba quận An Biên, Phước Long và vùng Chắc Băng để thành lập đặc khu An Phước thuộc tỉnh Sóc Trăng, nhưng không lâu sau lại cho giải thể đặc khu này. Sau đó, quận An Biên và vùng Chắc Băng lại trở về thuộc tỉnh Rạch Giá như cũ.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng hòa gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Hà Tiên bị bãi bỏ và 4 quận là Châu Thành, Hòn Chông, Giang Thành, Phú Quốc được sáp nhập vào tỉnh Rạch Giá để thành lập tỉnh Kiên Giang. Tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang đặt tại Rạch Giá và vẫn giữ nguyên tên là "Rạch Giá", về mặt hành chánh thuộc xã Vĩnh Thanh Vân, quận Kiên Thành.
Sau năm 1956, thành phố Rạch Giá bị giải thể, sáp nhập vào địa bàn xã Vĩnh Thanh Vân thuộc quận Kiên Thành của tỉnh Kiên Giang.
Năm 1957, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 281-BNV/HC/NĐ về việc ấn định các đơn vị hành chánh của tỉnh Kiên Giang có 6 quận: Hà Tiên, Kiên An, Kiên Bình, Kiên Tân, Kiên Thành, Phú Quốc. Ngày 27 tháng 12 năm 1957, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 368-BNV/HC/NĐ về việc bổ túc Nghị định số 281-BNV/HC/NĐ về việc ấn định các đơn vị hành chánh tỉnh Kiên Giang. Quận Kiên An gồm thêm xã Vĩnh Tuy. Trong đó, quận Kiên An đổi tên từ quận An Biên cũ, quận Kiên Thành đổi tên từ quận Châu Thành cũ, quận Kiên Tân tách ra từ quận Châu Thành cũ, quận Kiên Bình thành lập trên phần đất hai quận Giồng Riềng và Gò Quao.
Ngày 13 tháng 6 năm 1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành ban hành Nghị định 314-BNV/HC/NĐ về việc sửa đổi đơn vị hành chính tỉnh Kiên Giang. Trong đó, quận Kiên Bình được tách thành quận Kiên Bình và quận Kiên Hưng. Năm 1958, tỉnh Kiên Giang có 7 quận: Hà Tiên, Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên An, Kiên Bình, Kiên Hưng, Phú Quốc. Sau đó lại lập thêm quận Kiên Long.
Ngày 31 tháng 5 năm 1961, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập thêm quận Kiên Lương do tách đất từ hai quận Kiên Thành và Hà Tiên (địa bàn quận Kiên Lương lúc bấy giờ khác hẳn huyện Kiên Lương ngày nay). Ngày 24 tháng 12 năm 1961, lại giao hai quận Kiên Long và Kiên Hưng cho tỉnh Chương Thiện vừa mới thành lập.
Chính quyền Cách mạng
[sửa | sửa mã nguồn]Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn giữ nguyên tên gọi tỉnh Rạch Giá từ năm 1956 cho đến năm 1976, đồng thời vẫn duy trì thị xã Rạch Giá trực thuộc tỉnh Rạch Giá. Năm 1957, chính quyền Cách mạng quyết định giải thể tỉnh Hà Tiên, đổi thành huyện Hà Tiên và huyện Phú Quốc cùng trực thuộc tỉnh Rạch Giá. Tỉnh Rạch Giá khi đó gồm thị xã Rạch Giá và các huyện: An Biên, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Hà Tiên, Phú Quốc. Về sau, chính quyền Cách mạng lại cho thành lập thêm huyện Tân Hiệp trên cơ sở tách đất từ huyện Châu Thành và huyện Giồng Riềng. Bên cạnh đó, huyện Châu Thành cũng được chia thành huyện Châu Thành A và huyện Châu Thành B cùng thuộc tỉnh Rạch Giá.
Năm 1964, chính quyền Cách mạng thành lập huyện Vĩnh Thuận trên cơ sở tách ra từ huyện An Biên. Huyện Vĩnh Thuận thuộc tỉnh Rạch Giá có địa giới hành chính trùng với quận Kiên Long thuộc tỉnh Kiên Giang của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Tỉnh An Giang và tỉnh Châu Đốc giai đoạn 1964–1975
[sửa | sửa mã nguồn]Việt Nam Cộng hòa
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 8 tháng 9 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh số 246/NV về việc quy định kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Châu Đốc trên cơ sở tách đất từ tỉnh An Giang. Phần đất còn lại tương ứng tỉnh Long Xuyên trước năm 1956, tuy nhiên chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn giữ tên tỉnh An Giang cho vùng đất này đến năm 1975.
Tỉnh Châu Đốc có 5 quận: Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn. Tỉnh lỵ tỉnh Châu Đốc khi đó lại có tên là "Châu Phú", do nằm trong khu vực xã Châu Phú, quận Châu Phú.
| Dân số các quận thuộc tỉnh An Giang năm 1967[28] | |
|---|---|
| Quận | Dân số |
| Châu Thành | 165.298 |
| Chợ Mới | 157.359 |
| Huệ Đức | 29.986 |
| Thốt Nốt | 125.637 |
| Tổng số | 478.280 |
Phân chia hành chánh tỉnh Châu Đốc năm 1970 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa như sau:
- Quận An Phú có 11 xã: Đa Phước, Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội, Phú Hội, Phú Hữu, Phước Hưng (quận lỵ), Vĩnh Hậu, Vĩnh Hội Đông, Vĩnh Lộc, Vĩnh Tường.
- Quận Châu Phú có 15 xã: Bình Long, Bình Mỹ, Bình Thạnh Đông, Châu Giang, Châu Phong, Châu Phú (tỉnh – quận lỵ), Hiệp Xương, Hòa Lạc, Hưng Nhơn, Khánh Hòa, Mỹ Đức, Thạnh Mỹ Tây, Vĩnh Nguơn, Vĩnh Tế, Vĩnh Thạnh Trung.
- Quận Tân Châu có 9 xã: Hòa Hảo, Long Phú (quận lỵ), Long Sơn, Phú An, Phú Lâm, Phú Vinh, Tân An, Vĩnh Hòa, Vĩnh Xương.
- Quận Tịnh Biên có 10 xã: An Nông, An Phú (quận lỵ), Ba Chúc, Lạc Quới, Nhơn Hưng, Tân Khánh Hòa, Thới Sơn, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia, Xuân Tô;
- Quận Tri Tôn có 12 xã: An Cư, An Hảo, An Lạc, An Túc, Cô Tô, Lệ Tri, Lương Phi, Ô Lâm, Tri Tôn (quận lỵ), Tú Tề, Văn Giáo, Vĩnh Trung.
Tỉnh An Giang mới sau năm 1964 tức phần đất của tỉnh Long Xuyên trước đó. Cho đến năm 1975, tỉnh An Giang tỉnh lỵ có tên là "Long Xuyên", bao gồm 4 quận: Châu Thành, Chợ Mới, Huệ Đức, Thốt Nốt.
Phân chia hành chánh tỉnh An Giang năm 1970 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa như sau:
- Quận Châu Thành có 12 xã: Bình Đức, Bình Hòa, Bình Thủy, Cần Đăng, Hòa Bình Thạnh, Mỹ Hòa Hưng, Mỹ Phước (quận lỵ), Mỹ Thới, Phú Hòa, Vĩnh Chánh, Vĩnh Hanh, Vĩnh Trạch.
- Quận Chợ Mới có 12 xã: An Thạnh Trung, Bình Phước Xuân, Hòa Bình, Hội An, Kiến An, Long Điền (quận lỵ), Long Kiến, Mỹ Hiệp, Mỹ Hội Đông, Mỹ Luông, Nhơn Mỹ, Tấn Mỹ.
- Quận Huệ Đức có 5 xã: Định Mỹ, Phú Nhuận, Thoại Sơn (quận lỵ), Vĩnh Phú, Vọng Thê.
- Quận Thốt Nốt có 9 xã: Tân Lộc Đông, Tân Lộc Tây, Thạnh An, Thạnh Hòa Trung Nhứt (quận lỵ),[29] Thạnh Hòa Trung An, Thạnh Quới, Thới Thuận, Thuận Hưng, Vĩnh Trinh.
Chính quyền Cách mạng
[sửa | sửa mã nguồn]Trong giai đoạn 1964–1971, địa bàn tỉnh Châu Đốc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh An Giang của chính quyền Cách mạng quản lý. Năm 1965, chính quyền Cách mạng giao huyện Hà Tiên và huyện Phú Quốc (cùng thuộc tỉnh Rạch Giá) cho tỉnh An Giang quản lý. Đến năm 1967 lại trả hai huyện Hà Tiên và Phú Quốc về cho tỉnh Rạch Giá như trước. Tháng 12 năm 1965, huyện Chợ Mới cũng được giao về cho tỉnh Kiến Phong quản lý. Đến tháng 5 năm 1974, chính quyền Cách mạng đặt huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Sa Đéc.
Năm 1971, Trung ương Cục miền Nam ban hành Quyết định về việc thành lập tỉnh Châu Hà trên cơ sở tách ra từ một phần của tỉnh An Giang và một phần của tỉnh Rạch Giá (trên phần đất tỉnh Châu Đốc và tỉnh Hà Tiên trước năm 1956). Lúc này tỉnh Châu Hà còn có thêm các huyện Châu Thành A, Hà Tiên, Phú Quốc vốn cùng thuộc tỉnh Rạch Giá trước đó.
Tỉnh Châu Hà có 6 huyện: Châu Thành A (tỉnh lỵ), Hà Tiên, Huệ Đức, Phú Quốc, Tịnh Biên, Tri Tôn.
Tháng 5 năm 1974, Chính quyền Cách mạng lại ban hành Quyết định về việc giải thể các tỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong để tái lập các tỉnh Long Châu Hà, Long Châu Tiền và Sa Đéc.
- Tỉnh Long Châu Hà có 2 thị xã: Long Xuyên (tỉnh lỵ), Châu Đốc và 8 huyện: Châu Phú, Châu Thành A, Châu Thành X, Hà Tiên, Huệ Đức, Phú Quốc, Tịnh Biên, Tri Tôn.
- Tỉnh Long Châu Tiền có thị xã Tân Châu (tỉnh lỵ) và 5 huyện: An Phú, Phú Tân A, Phú Tân B, Hồng Ngự, Tam Nông.
- Tỉnh Sa Đéc có 2 thị xã: Sa Đéc (tỉnh lỵ), Cao Lãnh và 6 huyện: Cao Lãnh, Châu Thành, Chợ Mới, Lai Vung, Lấp Vò, Mỹ An.
Tuy nhiên, tên các tỉnh Châu Hà, Long Châu Hà và Long Châu Tiền cũng không được chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận, mà thay vào đó vẫn sử dụng tên gọi tỉnh Châu Đốc và tỉnh An Giang cho đến năm 1975.
Tỉnh Kiên Giang giai đoạn 1964–1975
[sửa | sửa mã nguồn]Việt Nam Cộng hòa
[sửa | sửa mã nguồn]| Dân số của các quận thuộc tỉnh Kiên Giang năm 1967[30] | |
|---|---|
| Quận | Dân số |
| Hà Tiên | 11.599 |
| Kiên An | 63.531 |
| Kiên Bình | 55.184 |
| Kiên Lương | 29.617 |
| Kiên Tân | 77.610 |
| Kiên Thành | 118.827 |
| Phú Quốc | 12.449 |
| Tổng số | 368.817 |
Năm 1968, tỉnh Kiên Giang có 7 quận: Hà Tiên, Kiên An, Kiên Bình, Kiên Lương, Kiên Tân, Kiên Thành, Phú Quốc. Sau năm 1968, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại lập thêm quận Hiếu Lễ do tách đất từ quận Kiên An.
Năm 1971, tỉnh Kiên Giang có 8 quận: Hà Tiên, Hiếu Lễ, Kiên An, Kiên Bình, Kiên Lương, Kiên Tân, Kiên Thành, Phú Quốc.
- Quận Hà Tiên có 3 xã: Mỹ Đức, Phú Mỹ, Thuận Yên.
- Quận Hiếu Lễ có 4 xã: Đông Hưng, Đông Thạnh, Tân Bằng, Vân Khánh Đông.
- Quận Kiên An có 4 xã: Đông Hòa, Đông Thái, Đông Yên, Tây Yên.
- Quận Kiên Bình có 8 xã: Bàn Tân Định, Hóa Quản, Long Thạnh, Ngọc Chúc, Thạnh Hòa, Thạnh Hưng, Thới An, Vĩnh Thạnh.
- Quận Kiên Tân có 5 xã: Giục Tượng, Mông Thọ, Tân Hiệp, Tân Hội, Thạnh Đông.
- Quận Kiên Thành gồm 7 xã: An Phước, Bình An, Lại Sơn, Minh Hòa, Mỹ Lâm, Sóc Sơn, Vĩnh Hòa Hiệp;
- Quận Kiên Lương có 6 xã: An Bình, An Hòa, Bình Trị, Dương Hòa, Đức Phương, Tín Đạo.
- Quận Phú Quốc có 3 xã: An Thới, Dương Đông, Hàm Ninh.
Ngày 20 tháng 11 năm 1970, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập thị xã Rạch Giá là thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, đồng thời kiêm tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang. Thị xã Rạch Giá được tái lập trên cơ sở các xã An Hòa, Vĩnh Thanh Vân thuộc quận Kiên Thành trước đó. Từ đó cho đến năm 1975, thị xã Rạch Giá và tỉnh Kiên Giang là hai đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau theo sự phân chia sắp xếp hành chính của Việt Nam Cộng hòa.
Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì các tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Tiền, Rạch Giá và thành phố Rạch Giá như trước đó. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).

Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 245-NQ/TW[31] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau và 2 huyện An Biên, Vĩnh Thuận (ngoại trừ 2 xã Đông Yên và Tây Yên) của tỉnh Rạch Giá thành một tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (ngoại trừ huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Long Châu Hà, tỉnh Rạch Giá và huyện Thốt Nốt của tỉnh Cần Thơ thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Long Châu Tiền, tỉnh Sa Đéc, tỉnh Kiến Tường thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
Ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 19/NQ[32] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (bao gồm cả huyện Thốt Nốt của tỉnh Long Xuyên), tỉnh Sóc Trăng thành một tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
- Hợp nhất tỉnh Long Châu Hậu (tỉnh An Giang cũ bao gồm tỉnh Long Xuyên (trừ huyện Thốt Nốt và tỉnh Châu Đốc) và phía Tây tỉnh Long Châu Tiền.
- Tỉnh Rạch Giá (bao gồm 3 huyện: Hà Tiên, Phú Quốc, huyện Châu Thành A của tỉnh Long Châu Hà) vẫn để thành tỉnh riêng.
Tỉnh An Giang từ năm 1976 đến nay
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Nghị định số 3/NQ/1976[33] về việc:
- Hợp nhất tỉnh Cần Thơ (bao gồm cả huyện Thốt Nốt), tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Hậu Giang.
- Hợp nhất tỉnh Kiến Phong và tỉnh Sa Đéc (trừ huyện Chợ Mới) thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Đồng Tháp.
- Hợp nhất 5 huyện: Châu Phú, Châu Thành X, Huệ Đức Tịnh Biên, Tri Tôn và 3 thị xã: Châu Đốc, Long Xuyên, Tân Châu của tỉnh Long Châu Hà; 2 huyện: An Phú, Phú Tân của tỉnh Long Châu Tiền; huyện Chợ Mới của tỉnh Sa Đéc và tỉnh An Giang (trừ huyện Thốt Nốt) thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh An Giang.
- Hợp tỉnh Rạch Giá cũ và 3 huyện: Châu Thành A, Hà Tiên, Phú Quốc thuộc tỉnh Long Châu Hà thành một tỉnh mới, lấy tên là tỉnh Kiên Giang.
Tỉnh An Giang chính thức được tái lập trở lại, ban đầu bao gồm 2 thị xã: Long Xuyên (tỉnh lỵ), Châu Đốc và 8 huyện: Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Huệ Đức, Phú Châu, Phú Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn.
Ngày 11 tháng 3 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành ban hành Quyết định số 56-CP[34] về việc:
- Hợp nhất huyện Châu Thành và huyện Huệ Đức thành huyện Châu Thành.
- Hợp nhất huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn thành huyện Bảy Núi.
Ngày 23 tháng 8 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 300-CP[35] về việc:
- Chia huyện Bảy Núi thành huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn.
- Chia huyện Châu Thành thành huyện Châu Thành và huyện Thoại Sơn.
Ngày 13 tháng 11 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 373-HĐBT[36] về việc chia huyện Phú Châu thành huyện An Phú và huyện Tân Châu.
Ngày 12 tháng 11 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 669/TTg[37] về việc xác định ranh giới giữa hai tỉnh An Giang và Kiên Giang.
Năm 1996, hoàn tất việc xác định ranh giới giữa tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận.
Ngày 1 tháng 3 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/1999/NĐ-CP[38] về việc thành phố Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Long Xuyên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 474/QĐ-TTg[39] về việc công nhận thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang.
Ngày 24 tháng 8 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 40/NQ-CP[40] về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân, thành lập thị xã Tân Châu thuộc tỉnh An Giang.
Ngày 19 tháng 7 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 86/NQ-CP[41] về việc thành lập thành phố Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị xã Châu Đốc.
Ngày 15 tháng 4 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 499/QĐ-TTg[42] về việc công nhận thành phố Châu Đốc là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang.
Ngày 5 tháng 12 năm 2019, Bộ Xây dựng Quyết định số 1060/QĐ-BXD[43] về việc công nhận thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang là đô thị loại III.
Ngày 23 tháng 7 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1078/QĐ-TTg[44] về việc công nhận thành phố Long Xuyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh An Giang.
Ngày 13 tháng 2 năm 2023, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 721/NQ-UBTVQH15[45] (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 10 tháng 4 năm 2023). Theo đó, thành lập thị xã Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ diện tịch tự nhiên và dân số của huyện Tịnh Biên.
Tỉnh An Giang có 2 thành phố, 2 thị xã và 7 huyện.
Tỉnh Kiên Giang từ năm 1976 đến năm 2025
[sửa | sửa mã nguồn]Tỉnh Kiên Giang có thị xã Rạch Giá (tỉnh lỵ) và 8 huyện: An Biên, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Hà Tiên, Phú Quốc, Tân Hiệp, Vĩnh Thuận.
Ngày 3 tháng 6 năm 1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 125-CP[46] về việc thành lập huyện Hòn Đất thuộc tỉnh Kiên Giang trên cơ sở một phần của huyện Châu Thành và một phần của huyện Hà Tiên.
Ngày 14 tháng 1 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 4-HĐBT[47] về việc thành lập huyện Kiên Hải thuộc tỉnh Kiên Giang.
Ngày 13 tháng 1 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 7-HĐBT[48] về việc chia huyện An Biên thuộc tỉnh Kiên Giang thành huyện An Biên và huyện An Minh.
Ngày 8 tháng 7 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 47/1998/NĐ-CP[49] về việc thành lập thị xã Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang trên cơ sở một phần của huyện Hà Tiên.
Ngày 21 tháng 4 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/1999/NĐ-CP[50] về việc đổi tên huyện Hà Tiên thành huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 29 tháng 10 năm 2004, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 1687/QĐ-BXD[51] về việc công nhận thị xã Rạch Giá là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Kiên Giang.
Ngày 26 tháng 7 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2005/NĐ-CP[52] về việc thành lập thành phố Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của thị xã Rạch Giá.
Ngày 6 tháng 4 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2007/NĐ-CP[53] về việc thành lập huyện U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang trên cơ sở một phần của các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận.
Sau khi điều chỉnh, tỉnh Kiên Giang có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên và 12 huyện: An Biên, An Minh, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Hòn Đất, Kiên Hải, Kiên Lương, Phú Quốc, Tân Hiệp, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận.
Ngày 29 tháng 6 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP[54] về việc thành lập huyện Giang Thành thuộc tỉnh Kiên Giang trên cơ sở một phần của huyện Kiên Lương.
Tỉnh Kiên Giang có 634.833,32 ha diện tích tự nhiên và 1.726.026 nhân khẩu, có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên và 13 huyện: An Biên, An Minh, Châu Thành, Giang Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Hòn Đất, Kiên Hải, Kiên Lương, Phú Quốc, Tân Hiệp, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận.
Ngày 17 tháng 9 năm 2012, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 839/QĐ-BXD[55] về việc công nhận thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang là đô thị loại III.
Ngày 18 tháng 2 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 268/QĐ-TTg[56] về việc công nhận thành phố Rạch Giá là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Kiên Giang.
Ngày 17 tháng 9 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1676/QĐ-TTg[57] về việc công nhận huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là đô thị loại II.
Ngày 11 tháng 9 năm 2018, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 573/NQ-UBTVQH14[58] về việc thành lập thành phố Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Hà Tiên (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 11 năm 2018).
Ngày 9 tháng 12 năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1109/NQ-UBTVQH14[59] về việc thành lập thành phố Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Phú Quốc (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021).
Ngày 21 tháng 1 năm 2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành:
- Quyết định số 195/QĐ-TTg[60] về việc công nhận thành phố Rạch Giá là đô thị loại I, trực thuộc tỉnh Kiên Giang.
- Quyết định số 199/QĐ-TTg[61] về việc công nhận thành phố Phú Quốc là đô thị loại I, trực thuộc tỉnh Kiên Giang.
Tỉnh Kiên Giang có 3 thành phố và 12 huyện.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[1] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 16 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Kiên Giang vào tỉnh An Giang.
Sau khi sáp nhập, tỉnh An Giang có 9.888,91 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 4.952.238 người.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025:
- Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15[62] về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước từ ngày 1 tháng 7 năm 2025.
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1654/NQ-UBTVQH15[6] về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh An Giang năm 2025 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 16 tháng 6 năm 2025).
Tỉnh An Giang có 102 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 14 phường, 85 xã và 3 đặc khu.
Kinh tế
[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDPBài chi tiết: Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu ngườiTheo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, An Giang có diện tích: 9.889 km², xếp thứ 13; dân số: 4.952.238 người, xếp thứ 3; GRDP 2024: 271.345.883 triệu VNĐ, xếp thứ 16; thu ngân sách 2024: 26.279.135 triệu VNĐ, xếp thứ 15; thu nhập bình quân: 55,22 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 20.[63] An Giang là tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Cư dân An Giang đã từ lâu sống bằng nghề làm ruộng, đánh bắt cá, tôm và các nghề thủ công như dệt, mộc, đan lát, gốm, chạm khắc đá...Tỉnh An Giang là đầu ngành về sản lượng lúa (trên 2 triệu tấn) và cũng trồng bắp, đậu nành, nuôi (trồng) cá, tôm...Nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa khá phổ biến, tập trung nhiều nhất ở vùng Tân Châu, Chợ Mới. Cho đến đầu thế kỷ XX, lụa Tân Châu đã nổi tiếng một thời vừa bền, vừa đẹp.[64] Ở Bảy Núi, Châu Giang (Châu Đốc), đồng bào Khơmer, Chăm đã cần cù dệt nên những chiếc "Xà Rong", khăn đội đầu, khăn choàng tắm, áo,... nhiều màu sặc sỡ.
Nghề mộc cũng sớm phát triển trên đất Chợ Mới. Ở An Giang và cả Miền Tây đều biết đến những người thợ mộc Chợ Thủ (Long Điền) qua những sản phẩm thủ công tinh xảo có tính nghệ thuật cao, từ đơn giản đến cầu kỳ, phức tạp.[65]
Ở núi Sam, núi Sập do nhu cầu tiêu dùng của xã hội, dần dần hình thành tầng lớp "thợ" chuyên khai thác đá. Ngoài đá xây dựng ra, họ còn làm ra những đồ dùng như cối giã gạo, chày đâm tiêu, cối xay bột, mặt bàn...và cả đồ trang sức bằng đá quý.
Tuy nghề thủ công có phát triển, nhưng cơ nghiệp của người dân An Giang dựng lên được hàng trăm năm nay chủ yếu là bắt nguồn từ cây lúa. Những người dân An Giang đầu tiên cũng chỉ biết làm ruộng cấy ở vùng Cù lao, Bảy Núi, còn ở vùng ngập nước thì đánh bắt cá, tôm hoặc trồng hoa màu phụ sinh sống qua ngày. Cảnh "phá sơn lâm, đâm hà bá" ngày càng không phù hợp với sự gia tăng dân số. Bản thân cây lúa cũng bị hạn chế về diện tích gieo trồng, không đối đầu được với mùa nước nổi hàng năm. Người dân An Giang trong quá trình lao động sau này đã tìm cho mình cây lúa nổi (Riz Flotlant) đủ sức vươn mình và tồn tại lên trên mặt nước mênh mông. Cây lúa nổi đối với cư dân An Giang là một biểu tượng tuyệt vời về sức sống mãnh liệt trong quá trình mở đất và giữ đất.
Năm 2018, An Giang là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ sáu về số dân, xếp thứ 26 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 56 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 59 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 1.908.352 người dân,[66] trong đó có 947.570 nam và 960.782 nữ, tỷ số giới tính 98,6 nam/100 nữ, diện tích bình quân đầu người là 612 người/km², tỷ lệ dân số trên 15 tuổi biết đọc, biết viết là 91,6%...GRDP đạt 74.297 tỉ Đồng (tương ứng với 3,2268 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 34,33 triệu đồng (tương ứng với 1.491 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 6,52%.[67]
An Giang là một tỉnh phát triển kinh tế mạnh mẽ và ổn định. Với tốc độ tăng trưởng ổn định, tỉnh đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP hai con số, đạt 13,36% vào năm 2007. An Giang có nền kinh tế xuất khẩu đáng kể, với tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 540 triệu USD vào năm 2007, chiếm 1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và 13% tổng kim ngạch xuất khẩu của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Nền kinh tế cũng đa dạng với nhiều ngành như thương mại, du lịch và chế biến.
An Giang có hệ thống giao thông thuận tiện, bao gồm các tuyến đường bộ, đường thủy và cảng. Quốc lộ 91 nối liền với cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và là tuyến giao thông chính của tỉnh. Sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao là các con sông quan trọng và hệ thống kênh đảm bảo giao thông thủy trong tỉnh. An Giang cũng có nhiều bến phà quan trọng trên các con sông này.
An Giang cũng đầu tư phát triển hạ tầng điện, nước, viễn thông và y tế để phục vụ nhu cầu dân sinh và kinh doanh. Nền giáo dục và y tế của tỉnh được đẩy mạnh, bao gồm các trường đại học, trường cao đẳng và bệnh viện đa khoa.
Tỉnh An Giang cũng có nhiều dự án phát triển kinh tế như chăn nuôi, chế biến sản phẩm nông nghiệp, cơ sở hạ tầng khu công nghiệp và du lịch sinh thái. Tất cả những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế bền vững của tỉnh.
An Giang có vùng biển rộng khoảng 63.290 km², thuộc ngư trường An Giang – Cà Mau (lớn nhất cả nước), với hơn 140 đảo, bờ biển dài trên 200 km, gồm các đô thị ven biển Rạch Giá, Hà Tiên, Tô Châu, Vĩnh Thông, các đặc khu Phú Quốc, Kiên Hải và nhiều xã ven biển, xã đảo. Năm 2020, tổng sản lượng thủy sản đạt 836.175 tấn, vượt kế hoạch 10,75%, trong đó khai thác hơn 572.000 tấn, nuôi trồng 264.105 tấn (tôm 92.490 tấn). Kinh tế biển phát triển mạnh, lấy du lịch, thủy sản và logistics làm trụ cột; Phú Quốc là đô thị biển đảo lớn nhất cả nước, trung tâm du lịch sinh thái quốc tế; Rạch Giá, Hà Tiên là trung tâm dịch vụ, thương mại, du lịch. Tỉnh dẫn đầu về khai thác, nuôi biển (cá bớp, cá mú), phát triển cảng biển, khu kinh tế ven biển Rạch Giá và cửa khẩu Hà Tiên – Giang Thành, gắn với nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo và bảo tồn đa dạng sinh học. Mục tiêu đến 2030 trở thành trung tâm kinh tế biển quốc gia; đến 2050 là trung tâm kinh tế biển mạnh, với hệ thống đô thị biển hiện đại, phát triển bền vững và xanh.
Xã hội
[sửa | sửa mã nguồn]Giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]Tỉnh An Giang có hệ thống giáo dục quy mô lớn và đa dạng, với hơn 640 đơn vị trường học thuộc ngành Giáo dục và Đào tạo, bao gồm các cấp mầm non, tiểu học, THCS, THPT, GDTX và GDNN-GDTX. Cơ cấu cơ bản gồm khoảng 160 trường mầm non, 262 trường tiểu học, 160–165 trường THCS và khoảng 130 cơ sở cấp THPT (gồm THPT công lập, THPT chuyên, trung tâm GDTX, trung tâm GDNN-GDTX và trường trung cấp).
Ở bậc giáo dục đại học và cao đẳng, tỉnh có Trường Đại học An Giang (thành viên Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, thành lập năm 1999) cùng hệ thống các trường cao đẳng chuyên ngành như sư phạm, y tế, nghề và đa ngành, giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho khu vực.
Dân cư
[sửa | sửa mã nguồn]
Theo thống kê năm 2024, tỉnh An Giang có diện tích 9.888,91 km², dân số năm là 4.952.328 người,[68] mật độ dân số đạt 500 người/km².
An Giang là tỉnh có dân số đông nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng là tỉnh có dân số đông thứ 3 tại Việt Nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội). Một phần diện tích của tỉnh ở bậc giáo dục đại học và cao đẳng, tỉnh có Trường Đại học An Giang (thành viên Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, thành lập năm 1999) cùng hệ thống các trường cao đẳng chuyên ngành như sư phạm, y tế, nghề và đa ngành, giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho khu vực. Tỉnh An Giang nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên.
Năm 2019, An Giang có khoảng 1,92–2,16 triệu người, là tỉnh đông dân nhất Đồng bằng sông Cửu Long; mật độ dân số 272–612 người/km². Dân số chủ yếu sống ở nông thôn (khoảng 68–72%), phân bố tập trung tại vùng đồng bằng và ven sông; Rạch Giá và Long Xuyên là các địa phương đông dân nhất. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 28,3% (2019) lên 35,6% (2022) và 42% (2023). Sau khi sáp nhập với Kiên Giang, đến 31/12/2024 dân số tỉnh An Giang đạt 4.952.238 người, mật độ khoảng 500 người/km², trở thành tỉnh có quy mô dân số lớn nhất Việt Nam, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế, nông nghiệp và du lịch.
An Giang là tỉnh có cơ cấu dân tộc đa dạng, với khoảng 29 thành phần dân tộc cùng sinh sống. Ngoài dân tộc Kinh, ba dân tộc thiểu số chính là Khmer, Hoa và Chăm, trong đó người Khmer đông nhất. Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 9–10% dân số toàn tỉnh (ước tính giai đoạn 2022–2025), tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn và khu vực biên giới. Tỉnh có trên 24.000 hộ dân tộc thiểu số, với hơn 100.000–260.000 người, và đang chú trọng phát triển kinh tế – xã hội, bảo tồn văn hóa cho các cộng đồng này, đặc biệt là người Khmer.
Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn cóRạch Giá hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Sau khi sáp nhập với Kiên Giang, đến 31/12/2024 dân số tỉnh An Giang đạt 4.952.238 người, mật độ khoảng 500 người/km², trở thành tỉnh có quy mô dân số lớn nhất Việt Nam, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế, nông nghiệp và du lịch. Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn. Hầu hết đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia. Nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào Khmer từ trồng trọt, chăn nuôi gia súc và làm thuê mướn theo thời vụ.
Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung khá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú và Châu Thành.[b] Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi, có mối quan hệ với tín đồ Hồi giáo các nước Ả Rập, Malaysia, Indonesia, Campuchia. Nguồn thu nhập chính bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống.
Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh. Đại bộ phận sống ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới. Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian. Một bộ phận lớn kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác.
Về tôn giáo, An Giang là nơi xuất phát của một số tôn giáo nội sinh như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo... An Giang hiện có 9 tôn giáo được Nhà nước công nhận, gồm: Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành, Tịnh Độ Cư sĩ, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hồi giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, với gần 1,8 triệu tín đồ (chiếm 78% dân số toàn tỉnh), 487 cơ sở thờ tự hợp pháp, 602 chức sắc và trên 3.400 chức việc.[69]
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 13 tôn giáo khác nhau đạt 1.733.332 người, nhiều nhất là Phật giáo Hòa Hảo có 956.720 người, tiếp theo là Phật giáo đạt 569.770 người, đạo Cao Đài có 105.220 người, Công giáo có 44.346 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa chiếm 34.821 người, Hồi giáo đạt 14.831 người, Bửu Sơn Kỳ Hương đạt 8.253 người, đạo Tin Lành đạt 5.226 người. Còn lại các tôn giáo khác như Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 321 người, Bà La Môn có 30 người, Minh Lý Đạo có 26 người, Minh Sư Đạo có 22 người và Baha'i giáo có hai người.[70]
Dân số tỉnh An Giang đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2024 là 1.938.198 người.[71]
Văn hóa
[sửa | sửa mã nguồn]An Giang nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên. An Giang sở hữu diện tích khá lớn ở miền Tây Nam Bộ, trong đó có nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, có sông nước mênh mông, có núi non kỳ vĩ, có rừng tràm, có đồng ruộng bát ngát,...
Đặc sản ẩm thực
[sửa | sửa mã nguồn]- Cơm tấm Long Xuyên: Để hài hòa với hạt cơm tấm bé xíu, các thành phần kèm theo cũng được cắt nhỏ. Miếng sườn nướng được cắt thành sợi nhỏ. Rồi đến sợi bì, cọng dưa chua. Thay cho miếng chả trứng hay chả cua như ở Sài Gòn là món trứng khìa cắt múi cau. Dĩ nhiên không thể thiếu một ít mỡ hành để tăng hương vị và chén nước mắm ớt chua ngọt.
- Gỏi sầu đâu: Một món ăn đơn giản và nhanh chóng được chế biến từ lá non và hoa sầu đâu, dưa leo, thơm và xoài.
- Cà na đập: Món ăn được làm từ quả cà na sau khi đập nát và vắt bớt nước, chà xát với đường. Ăn kèm với muối ớt.
- Tung lò mò: Món lạp xưởng bò đặc sản của người Chăm ở An Giang. Lạp xưởng bò được phơi khô và nướng trên bếp than hồng.
- Cốm dẹp: Hạt nếp trước khi thu hoạch được ngâm và rang để tạo ra cốm.
- Bò cạp Bảy Núi: Bò cạp được săn lùng trên núi và sau đó chế biến bằng cách chiên hoặc nướng. Ăn kèm với rau thơm và muối tiêu chanh.
- Mắm Châu Đốc: Mắm đa dạng về hình thức và chế biến từ các loại cá. Một số loại mắm phổ biến là mắm linh, mắm sặt, mắm lóc, mắm trèn, mắm rô, mắm chốt. Món lẩu cá linh non nấu với bông điên điển là một món ăn đặc sản nổi tiếng. Mắm thái cũng là một loại mắm phổ biến ở chợ Châu Đốc.
Truyền thông
[sửa | sửa mã nguồn]
Báo và Phát thanh-Truyền hình An Giang được thành lập ngày 02 tháng 9 năm 1977, là một Báo và Phát thanh-Truyền hình địa phương tại tỉnh An Giang của Việt Nam, Đài này trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang.
Du lịch
[sửa | sửa mã nguồn]An Giang cũng sở hữu một trong những hòn đảo đẹp nhất ở Việt Nam là đảo Phú Quốc, nơi hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách quốc tế.[72]
Danh lam thắng cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]An Giang là một trong 10 vùng du lịch trọng điểm quốc gia có một số thắng cảnh tiêu biểu như:
- Châu Đốc: nổi tiếng với Lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam (diễn ra hằng năm vào ngày 24, 25 tháng 4 Âm lịch là ngày vía chính) là địa điểm tâm linh thu hút rất đông khách du lịch cả trong và ngoài nước đến đây để hành hương. Năm 2001, Lễ hội vía Bà Chúa Xứ được Chính phủ công nhận là Lễ hội dân gian cấp Quốc gia. Quần thể di tích dưới chân núi Sam có nhiều di tích lịch sử, tôn giáo quan trọng như: Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, Chùa Phước Điền... Ngoài ra còn có các làng Chăm ven sông Hậu, làng bè Châu Đốc...
- Thất Sơn (Bảy Núi): gồm 1 quần thể 37 ngọn núi thuộc 2 huyện thị là Thị xã Tịnh Biên & Tri Tôn, nhưng có 7 ngọn tiêu biểu là: Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn) - ngọn núi cao nhất tỉnh An Giang cũng như cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, cao 716m; Núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn); Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn); Núi Dài (Ngọa Long Sơn); Núi Tượng (Liên Hoa Sơn); Núi Két (Anh Vũ Sơn); Núi Nước (Thủy Đài Sơn).
- Phú Tân: tại Chùa An Hòa và Tổ Đình Đức Giáo Chủ (Phật giáo Hòa Hảo) ở thị trấn Phú Mỹ hằng năm đều tổ chức hai đại lễ lớn. Là lễ 18/5 âl ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng đạo Phật giáo Hòa Hảo và lễ 25/11 âl ngày đản sinh Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH. Mỗi khi đến ngày lễ thì đồ ăn thức uống hoàn toàn miễn phí và có cả xe hoa diễu hành để kính mừng ngày đại lễ.
- Rừng tràm Trà Sư là điểm du lịch sinh thái rất đa dạng về hệ động thực vật rừng thiên nhiên hoang dã, rộng khoảng 845 ha diện tích vùng lõi và 643 ha diện tích vùng đệm, nằm giữa lòng tứ giác Long Xuyên và khu vực Thất Sơn, thuộc xã Văn Giáo, Thị xã Tịnh Biên.
- Hồ Thoại Sơn là một trong những hồ đẹp, cách thành phố Long Xuyên 29 km theo đường tỉnh lộ 943.
- Búng Bình Thiên (hay còn được gọi là Hồ Nước Trời) gồm 2 hồ nước là Búng Lớn và Búng Nhỏ. Búng Nhỏ còn khá ít nước nên người ta thường ám chỉ Búng Lớn khi nói về Búng Bình Thiên (gọi tắt là Búng). Búng Bình Thiên là một hồ nước lớn, thông với sông Bình Di ở một con rạch nhỏ, nhưng không thông với sông Hậu.
- Cù lao Giêng (Chợ Mới) nằm giữa sông Tiền với nhiều công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc. Cù lao Giêng, gồm 3 xã: Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân thuộc huyện Chợ Mới, từng được mệnh danh là "đệ nhất cù lao" với những kiến trúc cổ mang đậm nét văn hóa độc đáo, nhiều phong cảnh đẹp, lễ hội, khu sinh thái thuần Nam Bộ.
- Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (Long Xuyên) đã được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.
- Ngoài ra, An Giang còn có một số điểm du lịch về Văn hoá - lịch sử - tâm linh như: Dinh Ông Chưởng (Kiến An, Chợ Mới), Cột dây thép (Long Điền A, Chợ Mới), Trường dòng nhà thờ Cù lao Giêng (Tấn Mỹ, Chợ Mới), Đồi Tức Dụp (xã An Tức, Tri Tôn), chùa Linh Sơn (Thoại Sơn), chùa Tam Bửu (Tri Tôn), Bửu Hương tự (Châu Phú), chùa Ông Bắc (Long Xuyên), chùa Xà Tón (Tri Tôn), Tây An cổ tự (xã Long Giang, huyện Chợ Mới), Nhà Bưu điện Chợ Mới, Nhà mồ Ba Chúc (Tri Tôn), Lễ hội Đua bò Bảy Núi (Tri Tôn và Thị xã Tịnh Biên), Khu Di tích văn hoá Óc Eo ở xã Ba Thê (đây là Di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá Phù Nam) thuộc huyện Thoại Sơn, Dinh Sơn Trung - Dinh thờ Đức Cố Quản Trần Văn Thành thuộc huyện Châu Thành...
Giao thông
[sửa | sửa mã nguồn]Đường bộ
[sửa | sửa mã nguồn]An Giang có các tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ 91, Quốc lộ 91C, Quốc lộ N1, Quốc lộ 80B và đường cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng. Quốc lộ 91 là tuyến đường huyết mạch của tỉnh, nối cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Châu Đốc, Long Xuyên và Cần Thơ. Đây là tuyến đường có mật độ lưu lượng xe cao, thường xảy ra kẹt xe trong các đô thị như TP. Long Xuyên và TT. Cái Dầu vào các khung giờ cao điểm. Quốc lộ 91C nối cửa khẩu quốc tế Long Bình với TP. Châu Đốc. Quốc lộ N1 trên tuyến đường liên kết vùng nối từ thị xã Tân Châu đến thành phố Châu Đốc [73] và nối phường Nhà Bàng với ngã ba Cây Bàng thuộc huyện Giang Thành, Kiên Giang, chạy dọc theo kênh Vĩnh Tế. Quốc lộ 80B có điểm đầu kết nối với quốc lộ 80 thuộc địa bàn xã Tân Phú Đông, thành phố Sa Đéc và điểm cuối tại cửa khẩu Vĩnh Xương, thị xã Tân Châu.[74] Ngoài ra, tỉnh còn có nhiều tuyến đường Tỉnh lộ như 941, 943, 944, 945, 946, 947, 948, 949, 951, 952, 955A, 955B, 957, 958, 959, 960 và nhiều tuyến đường khác, kết nối các địa phương trong tỉnh.
Đường thủy (nội địa)
[sửa | sửa mã nguồn]An Giang phát triển mạnh về giao thông thủy nhờ hệ thống sông ngòi phong phú. Tỉnh là điểm đầu nguồn của hai con sông Tiền và sông Hậu, là tuyến giao thông thủy quan trọng của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, còn có các tuyến giao thông thủy khác như sông Vàm Nao, Kênh Vĩnh Tế, Kênh Tri Tôn, Kênh Thoại Hà, kênh Ba Thuê, Rạch Ông Chưởng và nhiều khác.
Với mạng lưới sông ngòi phong phú, An Giang có nhiều bến phà lớn qua sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao. Một số bến phà nổi tiếng là phà Vàm Cống (hiện đã hoạt động trở lại nhằm tạo thuận tiện cho người dân 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp đi lại dễ dàng hơn), phà An Hòa, phà Năng Gù, phà Châu Giang (đã được thay thế bằng cầu Châu Đốc), phà Thuận Giang, phà Tân Châu và nhiều bến phà khác. Các bến phà này đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa và người dân trên các tuyến sông chính của tỉnh.
Biển số xe cơ giới
[sửa | sửa mã nguồn]Biển kiểm soát xe mô tô
[sửa | sửa mã nguồn]Biển số xe của tỉnh An Giang là 67, biển số chi tiết của các huyện, thị xã, thành phố như sau:
- Thành phố Long Xuyên: 67-B1-B2-B3-AA
- Thành phố Châu Đốc: 67-E1-AE
- Thị xã Tân Châu: 67-H1-AH
- Huyện Châu Phú: 67-D1-D2-AD
- Huyện Châu Thành: 67-C1-C2-AC
- Thị xã Tịnh Biên:67-F1-AF
- Huyện An Phú: 67-G1-AG
- Huyện Phú Tân: 67-K1-K2-AK
- Huyện Chợ Mới: 67-L1-L2-L3-AL
- Huyện Thoại Sơn: 67-M1-AM
- Huyện Tri Tôn: 67-N1-AN
Hình ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]-
Thánh đường Hồi giáoMas Jid Khoy Ri Yah
-
Lăng Thoại Ngọc Hầu thuộc phường Núi Sam, Thành phố Châu Đốc
-
Phước Hội Tự(tục gọi chùa Bà Lê) -
Kênh Vĩnh Tếchảy qua Châu Đốc -
Hồ Soài So thuộc xã Núi Tô, huyện Tri Tôn -
Rừng tràm Trà Sư thuộc xã Văn Giáo, Thị xã Tịnh Biên
-
Búng Bình Thiên(Hồ nước ngọt)
-
Thu hoạch lúadưới chân Núi Cấm -
Chợ nổi Long Xuyên -
Mắm cá ở Châu Đốc -
Tượng Phật Di Lặc ngồi trên đỉnh núi cao nhất châu Á nằm trên đỉnh Núi Cấm, xã An Hảo, Thị xã Tịnh Biên -
Quảng trường TX.Tân Châu -
Đường Trần Hưng Đạo bờ kè Tân Châu -
Hồ Thủy Liêm (Núi Cấm) -
Tượng đài cá Ba Sa ở Châu Đốc
Danh nhân
[sửa | sửa mã nguồn]
Chính trị
[sửa | sửa mã nguồn]- Cố Chủ tịch nước CHXHCNVN Tôn Đức Thắng (Xã Mỹ Hoà Hưng)
- Cố thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Ngọc Thơ (Long Xuyên)
- Cố Bộ trưởng Bộ y tế Giáo sư.Tiến sĩ. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng (Chợ Mới)
- Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân (Chợ Mới)
- Cố Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Bộ Nội vụ, Đại biểu Quốc hội khoá I, II, III Ung Văn Khiêm (Chợ Mới)
- Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu (Chợ Mới)
- Lãnh tụ phong trào chống Pháp Trần Văn Thành (Châu Phú)
- Nguyễn Hoàng Việt - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương
- Bí thư liên Tỉnh ủy Long Xuyên (cũ) Lương Văn Cù (1915-1941) quê ở Chợ Mới
- Thành viên Uỷ ban khởi nghĩa tỉnh Long Xuyên (cũ) Huỳnh Văn Hây (1913-1941) quê ở Chợ Mới.
- Nguyễn Văn Cưng (1909-1935), quê ở xã Bình Thành Tây, tổng An Phú, quận Lấp Vò, tỉnh Long Xuyên (nay là xã Hội An)
- Bí thư Huyện uỷ Chợ Mới, Tỉnh ủy viên Long Châu Tiền, Bí thư Tỉnh ủy Long Châu Sa, kiêm Tỉnh đội trưởng và Trưởng Ty Công an, Phó Bí thư Đặc ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, kiêm Bí thư phân khu Sài Gòn - Gia Định Phan Thành Long (tên thật là Phan Văn Hân), sinh tại làng Nhơn Mỹ, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên (nay là tỉnh An Giang).
Nông nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Giáo sư, Tiến sĩ Nông học, Nhà giáo nhân dân: Võ Tòng Xuân (Tri Tôn)
Văn học - Nghệ thuật
[sửa | sửa mã nguồn]
|
|
|
|
Giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]
- Nhà giáo Trần Hữu Thường (Tân Châu).
- Phó giáo sư. Tiến sĩ. Trịnh Trung Hiếu (Tri Tôn).
Tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn]- Đoàn Minh Huyên Giáo chủ Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương (Đức Phật Thầy Tây An).
- Ngô Lợi Giáo chủ Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
- Huỳnh Phú Sổ (Đức Huỳnh Giáo Chủ), Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo
- Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.
Quân sự
[sửa | sửa mã nguồn]- Tướng nhà Nguyễn Nguyễn Văn Nhơn (Vĩnh An, An Giang xưa).
- Tướng nhà Nguyễn Thư Ngọc Hầu (Chợ Mới).
- Người cộng tác với Pháp Trần Bá Lộc (Chợ Mới).
- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thị Hưởng (Thị trấn Hội An, huyện Chợ Mới).
- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Néang Nghét (xã Ô Lâm, Tri Tôn).
- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lâm Thanh Hồng (1957-1984), quê ở ấp Trung Sơn, xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn.
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ a b c "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
- ^ a b "Vị trí địa lý và điền kiện tự nhiên của tỉnh Kiên Giang". www.vietrade.gov.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b "Lịch sử phát triển - Trang tin điện tử Hà Tiên - Kiên Giang". hatien.gov.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2026.
- ^ "Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương". Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê - Tổng Cục Thống kê. ngày 9 tháng 8 năm 2019.
- ^ a b "Nghị quyết số 1654/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh An Giang năm 2025". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- ^ Bản dịch của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học Quốc sử quán triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học phiên dịch (2007). Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục: Tập 05. NXB. Giáo Dục.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
- ^ Đệ nhị kỷ – quyển CCVIII – 208, Kỷ Hợi, Minh Mệnh năm thứ 20 [1839], mùa đông, tháng 12, Đổi đặt lại các phủ huyện ở An Giang, Hà Tiên. Trước đây, tập thỉnh an của thự Bố chính An Giang là Lê Quang Huyên nói: Những phủ huyện mới đặt trong hạt tỉnh ấy: như 2 phủ huyện Ba Xuyên, Ô Môn, địa giới ở lẫn vào các thôn Hoà Mỹ, An Thái thuộc huyện Vĩnh Định; 2 huyện Chân Thành, Ngọc Luật địa giới ở lẫn vào các thôn Toàn Thịnh, Vĩnh Nguơn thuộc Tây Xuyên. Dân Kinh, dân Thổ cùng ở lẫn lộn với nhau mà không cùng thuộc với nhau. Xin chiểu theo sự liên tiếp mà chia lệ thuộc lại để dễ xử trí. Vua nói: “Toàn hạt Trấn Tây đã lệ thuộc vào bản đồ [nước nhà], đã đặt phủ huyện, bổ lưu quan. Nếu Kinh riêng ra Kinh, Thổ riêng ra Thổ, thì sao cho thay đổi phong tục mà đồng hoá được ư? Bèn sai Trấn Tây thảo luận, uỷ cho một viên Tham tán hoặc Hiệp tán đến tận nơi hội khám, tuỳ theo địa thế mà thiết lập, rồi làm bảng đệ tâu. Đến nay tờ tâu dâng lên, vua chuẩn cho: Phủ Tuy Biên trích lấy huyện Ngọc Luật (huyện thổ cũ) hợp vào với huyện Tây Xuyên làm một huyện. Lại lấy huyện Ô Môn (huyện thổ cũ) đổi tên là huyện Phong Phú cho thuộc vào phủ ấy. Phủ nha kiêm lý huyện Tây Xuyên, thống hạt Phong Phú. Phủ Tân Thành trích lấy 3 tổng của huyện Vĩnh An đặt riêng làm huyện An Xuyên. Lại lấy huyện Đông Xuyên (trước thuộc phủ Tuy Biên), lệ thuộc vào phủ ấy. Phủ nha kiêm lý Vĩnh An, thống hạt An Xuyên, Ba Xuyên. Còn phủ Ba Xuyên nguyên là thổ phủ chia đặt làm 2 huyện Phong Nhiêu, Phong Thành. Lại lấy huyện Vĩnh Định (nguyên thuộc phủ Tân Thành) lệ thuộc vào phủ ấy. Phủ nha kiêm lý Phong Nhiêu, thống hạt Phong Thịnh, Vĩnh Định và lệ thuộc về quản hạt tỉnh An Giang. Huyện Chân Thành (nguyên huyện thổ), địa thế rộng xa, lấy 4 tổng về tả ngạn sông Vĩnh Tế (đinh số hơn 1.040 người, điền thổ hơn 1.150 mẫu) đặt làm huyện Hà Âm; 4 tổng về hữu ngạn sông ấy (đinh số hơn 1.480 người, điền thổ hơn 2.080 mẫu) đặt làm huyện Hà Dương. Đặt thêm phủ Tĩnh Biên để thống trị. Phủ nha kiêm lý huyện Hà Âm, thống hạt huyện Hà Dương và đổi thuộc về quản hạt Hà Tiên. Xuống dụ rằng: Phàm dân Kinh ở địa phận huyện hạt mới, cho phép được riêng xã thôn, thuộc lưu quan huyện mới quản trị. Dân Thổ ở địa phận huyện hạt người Kinh, cũng cấp cho tên họ, trích theo về huyện kinh quản trị để cho [Kinh, Thổ] nhà ở làm ăn cùng xen lẫn, trông nhau mà bắt chước lẫn nhau. Nhưng phải ngăn cấm dân Kinh không được khinh dân Thổ chất phác ngu đần mà có ý lấn áp. Duy có ngạch binh các cơ, đội, dồn lập từ trước đều có nơi sở thuộc, cứ để như cũ không thay đổi (2 cơ An Biên nhất nhị, nguyên quán ở huyện Chân Thành; cơ tam nguyên quán ở huyện Ngọc Luật, cơ bát Trấn Tây quán ở phủ Ba Xuyên). Lệ thuế dân Thổ cũng tạm theo tục cũ, chờ sau sẽ bàn.
- ^ Viện Sử Học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam phiên dịch và chú giải (2006). Đại Nam nhất thống chí: Quyển 30 – tỉnh An Giang. Huế: NXB. Thuận Hóa. tr. 151–191.
- ^ Bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo (1959). Đại Nam nhất thống chí: Quyển Hạ. NXB. Nha Văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục. tr. 40. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012.
- ^ Đại Nam thực lục: chính biên, đệ nhị kỷ, quyển CCVII, Thực lục về Thánh tổ Nhân hoàng đế, tập 5. tr. 617.
- ^ Đại Nam nhất thống chí: Quyển 30. tr. 173.
- ^ Đại Nam nhất thống chí: Quyển 30. tr. 178.
- ^ Đại Nam thực lục: Tập 5. tr. 299.
- ^ Đại Nam thực lục: Tập 5. tr. 785.
- ^ Đại Nam thực lục, chính biên, đệ tam kỷ, quyển 50, trang 765.
- ^ Đại Nam thực lục, chính biên, đệ tam kỷ, quyển 66, trang 992.
- ^ Đại Nam thực lục, Chính biên, đệ tứ kỷ, quyển 21, tập 7, trang 625.
- ^ Đại Nam thực lục, Chính biên, đệ tứ kỷ, quyển 24, tập 7, trang 708-720.
- ^ "Mục lục địa chí địa bạ tỉnh Hà Tiên" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
- ^ a b c Đại Nam nhất thống chí, quyển 26, tỉnh Hà Tiên, trang 8.
- ^ "Gia Định thành thông chí, quyển 5, trang 4/24 bản pdf" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
- ^ Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh, trang 238-239.
- ^ Hợp nhất hai huyện Giang Thành và Châu Thành của tỉnh Hà Tiên cũ.
- ^ Huyện Châu Thành của tỉnh Sa Đéc cũ.
- ^ Trong đó, hai huyện Tân Hồng và Tân Châu vốn là hai huyện Hồng Ngự và Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền trước đó.
- ^ Sắc lệnh số 143/VN để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam".
- ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia. 1967.
- ^ Đến năm 1972, đổi xã Thạnh Hòa Trung Nhứt thành xã Trung Nhứt.
- ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chánh. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.
- ^ "Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh". ngày 20 tháng 9 năm 1975. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Nghị quyết số 19/NQ về việc điều chỉnh việc hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 20 tháng 12 năm 1975. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Nghị định số 3/NQ/1976 về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam". Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. ngày 24 tháng 2 năm 1976. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ^ "Quyết định số 56-CP năm 1977 về việc hợp nhất một số huyện thuộc tỉnh An Giang". Thư viện pháp luật. ngày 11 tháng 3 năm 1977.
- ^ "Quyết định số 300-CP năm 1979 về việc điều chỉnh địa giới một số huyện và thị xã thuộc tỉnh An Giang". Thư viện pháp luật. ngày 23 tháng 8 năm 1979.
- ^ Quyết định số 373-HĐBT về việc chia huyện Phú Châu thuộc tỉnh An Giang thành hai huyện An Phú và Tân Châu.
- ^ "Quyết định số 669-TTg năm 1994 về việc xác định đường ranh giới hành chính giữa hai tỉnh Kiên Giang và An Giang". Thư viện pháp luật. ngày 12 tháng 11 năm 1994.
- ^ "Nghị định số 09/1999/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Long Xuyên, thuộc tỉnh An Giang". Thư viện pháp luật. ngày 1 tháng 3 năm 1999.
- ^ "Quyết định số 474/QĐ-TTg năm 2009 về việc công nhận thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang". Thư viện pháp luật. ngày 14 tháng 4 năm 2009.
- ^ "Nghị quyết số 40/NQ-CP về điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân, thành lập thị xã Tân Châu, thành lập các phường thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang". Thư viện pháp luật. ngày 24 tháng 8 năm 2009.
- ^ "Nghị quyết số 86/NQ-CP năm 2013 về việc thành lập phường Vĩnh Nguơn thuộc thị xã Châu Đốc và thành lập thành phố Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang". Thư viện pháp luật. ngày 19 tháng 7 năm 2013.
- ^ "Quyết định số 499/QĐ-TTg năm 2015 về việc công nhận thành phố Châu Đốc là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 15 tháng 4 năm 2015.
- ^ Quyết định số 1060/QĐ-BXD năm 2019 về việc công nhận thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang là đô thị loại III.
- ^ "Quyết định số 1078/QĐ-TTg năm 2020 về việc công nhận thành phố Long Xuyên là đô thị loại I". Luật Việt Nam. ngày 23 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Nghị quyết số 721/NQ-UBTVQH15 năm 2023 về việc thành lập thị xã Tịnh Biên, các phường thuộc thị xã Tịnh Biên, thị trấn Đa Phước thuộc huyện An Phú và thị trấn Hội An thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang". Thư viện pháp luật. ngày 13 tháng 2 năm 2023.
- ^ "Quyết định số 125-CP năm 1978 về việc chia huyện Châu Thành thuộc tỉnh Kiên Giang thành hai huyện lấy tên là huyện Hòn Đất và huyện châu Thành". Hệ thống pháp luật. ngày 3 tháng 6 năm 1978.
- ^ "Quyết định số 4-HĐBT năm 1983 về việc thành lập huyện Kiên Hải thuộc tỉnh Kiên Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 14 tháng 1 năm 1983.
- ^ "Quyết định số 7-HĐBT năm 1986 về việc chia huyện An Biên thuộc tỉnh Kiên Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 13 tháng 1 năm 1986.
- ^ "Nghị định số 47/1998/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang và thành lập các phường thuộc thị xã". Hệ thống pháp luật. ngày 8 tháng 7 năm 1998.
- ^ "Nghị định số 28/1999/NĐ-CP về việc đổi tên huyện Hà Tiên thành huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 21 tháng 4 năm 1999.
- ^ Quyết định số 1687/QĐ-BXD về việc công nhận thị xã Rạch Giá là đô thị loại III trực thuộc tỉnh [[Kiên Giang.
- ^ "Nghị định số 97/2005/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang; điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập xã thuộc các huyện Gò Quao, An Minh, Châu Thành, Kiên Hải và Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 26 tháng 7 năm 2005.
- ^ "Nghị định số 58/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận để thành lập huyện U Minh Thượng; thành lập xã thuộc các huyện Vĩnh Thuận, Kiên Lương, Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 6 tháng 4 năm 2007.
- ^ "Nghị quyết số 29/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường, thành lập xã thuộc thị xã Hà Tiên và các huyện: Kiên Lương, Tân Hiệp, Giồng Riềng, Vĩnh Thuận; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Kiên Lương để thành lập huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 29 tháng 6 năm 2009.
- ^ "Quyết định số 839/QĐ-BXD năm 2012 về việc công nhận thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang là đô thị loại III". Hệ thống pháp luật. ngày 17 tháng 9 năm 2012.
- ^ "Quyết định số 268/QĐ-TTg năm 2014 về việc công nhận thành phố Rạch Giá là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Kiên Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 18 tháng 2 năm 2014.
- ^ "Quyết định số 1676/QĐ-TTg năm 2014 về việc công nhận huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là đô thị loại II". Hệ thống pháp luật. ngày 17 tháng 9 năm 2014.
- ^ "Nghị quyết số 573/NQ-UBTVQH14 năm 2018 về việc thành lập phường Mỹ Đức thuộc thị xã Hà Tiên và thành phố Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 11 tháng 9 năm 2018.
- ^ "Nghị quyết số 1109/NQ-UBTVQH14 năm 2020 về việc thành lập thành phố Phú Quốc và các phường thuộc thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang". Hệ thống pháp luật. ngày 9 tháng 12 năm 2020.
- ^ "Quyết định số 195/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Rạch Giá là đô thị loại I, trực thuộc tỉnh Kiên Giang" (PDF). Cổng thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam. ngày 21 tháng 1 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Quyết định số 199/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Phú Quốc là đô thị loại I, trực thuộc tỉnh Kiên Giang" (PDF). Cổng thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam. ngày 21 tháng 1 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Nghị quyết số 203/2025/QH15 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- ^ "Làng nghề lụa Tân Châu". dulich.vnexpress.net. ngày 22 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2017.
- ^ "Tinh hoa nghề mộc Chợ Thủ". ngày 8 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2017.
- ^ "Dân số các tỉnh Việt Nam năm 2018". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2019.
- ^ "Tình hình kinh tế, xã hội Đồng Tháp năm 2018". Đài truyền hình tỉnh Đồng Tháp. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2019.
- ^ "Niên giám tổ chức ngành Thống kê năm 2021 (57 – CỤC THỐNG KÊ TỈNH AN GIANG/ Dân số và diện tích của tỉnh An Giang đến ngày 31/12/2020 trang 397)" (PDF). Tổng cục Thống kê. ngày 5 tháng 5 năm 2021.
- ^ "An Giang thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng, tôn giáo". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2022.
- ^ Tổng cục Thống kê Việt Nam, Biểu 7: Dân số chia theo thành thị/nông thôn, giới tính, tôn giáo, các vùng kinh tế - xã hội và tỉnh/thành phố, 1/4/2009
- ^ "Chi cục Dân số- Kế hoạch hóa Gia đình An Giang triển khai nhiều nhiệm vụ nâng cao chất lượng dân số". baoangiang.com.vn. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2024.
- ^ "Phú Quốc trở thành 1 trong 3 đặc khu của tỉnh An Giang sau sắp xếp". laodong.vn. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2025.
- ^ "Tuyến đường liên vùng hơn 2.100 tỷ ở An Giang sẽ vượt tiến độ 2 tháng - Vietnam.vn". ngày 8 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Điều chỉnh 4 tuyến đường tỉnh ở An Giang thành QL 80B dài hơn 90km". vovgiaothong.vn. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2024.
- ^ Ngữ nguyên: មាត់ [moat]: cái miệng, ជ្រូក [cruuk]: con heo, lợn. Theo Vương Hồng Sển, xứ này theo tiếng Khmer là xứ Miệng Heo. Thời Nguyễn, địa danh này được phiên âm là Mật Luật (hoặc Ngọc Luật), dùng để chỉ khu vực xung quanh Châu Đốc. An Giang phiên âm theo tiếng Khmer là អាងយ៉ាង (phiên âm អាង [ʔaaŋ], យ៉ាង [yaaŋ]), được sử dụng phổ biến tại Việt Nam.
- ^ Người Chăm tập trung đông nhất ở An Phú và Tân Châu. Huyện Phú Tân đã tách một phần xã Phú Hiệp (nơi có người Chăm cư trú) cho thị xã Tân Châu nên có lẽ không tính là huyện có người Chăm sinh sống nữa.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Phạm Thị Tuyết Nga (2009). "Kinh tế - Xã hội tỉnh An Giang từ năm 1986 đến năm 2005" (Tài liệu). Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. {{Chú thích tài liệu}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |url= (trợ giúp)
- An Giang: điều kiện tự nhiên Lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2022 tại Wayback Machine.
- Tổng quan An Giang
| ||
|---|---|---|
| Trung du và miền núi phía Bắc |
| |
| Đồng bằng sông Hồng |
| |
| Bắc Trung Bộ |
| |
| Nam Trung Bộ |
| |
| Đông Nam Bộ |
| |
| Đồng bằng sông Cửu Long |
| |
| ||
Việt Nam
Từ khóa » Dân Số An Giang Trên 18 Tuổi
-
An Giang: Dân Số đứng Thứ 8 Trong Cả Nước Và đứng Nhất Khu Vực ...
-
Phấn đấu đến Cuối Tháng 4/2022, Trên 95% Dân Số Từ 18 Tuổi Trở Lên ...
-
Y Tế - Dân Số Và Phát Triển - Đảng Bộ Tỉnh An Giang
-
Xã Hội - An Giang Triển Khai Chiến Dịch “95% Dân Số...
-
An Giang Triển Khai Chiến Dịch “95% Dân Số Từ 18 Tuổi Trở Lên được ...
-
CỤC THỐNG KÊ AN GIANG
-
Tin Trong Tỉnh - Tuyên Giáo An Giang
-
Dân Số An Giang Năm 2022 Mới Nhất Là Bao Nhiêu?
-
TỈNH AN GIANG - Trang Tin điện Tử Của Ủy Ban Dân Tộc
-
Dân Số - Hậu Giang Portal - UBND Tỉnh Hậu Giang
-
Xổ Số An Giang Ngày 1 Tháng 7
-
Hiện Trạng Dân Số, Lao động - UBND Thành Phố Đà Nẵng
-
Số Liệu Về Diện Tích Và Dân Số Của Các Xã Trên địa Bàn Tỉnh Tiền Giang
-
Xổ Số An Giang Chiều Nay
Bản đồ tỉnh An Giang 