An Nam đô Hộ Phủ – Wikipedia Tiếng Việt

An Nam đô hộ phủ
Tên bản ngữ
  • 安南都護府 (Ānnán Dūhùfǔ)
679–866
Bản đồ biểu thị sáu đô hộ phủ của nhà Đường với tông màu be; An Nam đô hộ phủ nằm ở phía nam.Bản đồ biểu thị sáu đô hộ phủ của nhà Đường với tông màu be; An Nam đô hộ phủ nằm ở phía nam.
Vị thếĐô hộ phủ trực thuộc nhà Đường
Thủ đôTống Bình (La Thành, sau là Đại La)
Ngôn ngữ thông dụng
  • Tiếng Nam Á
  • Tiếng Kra-Dai
  • Tiếng Tạng-Miến
  • Tiếng Hán trung cổ sơ kỳ
Tôn giáo
  • Phật giáo Đại thừa
  • Đạo giáo
  • Vật linh giáo
Chính trị
Chính phủQuân chủ chuyên chế
Hoàng đế nhà Đường 
• 649–683 Đường Cao Tông
• 859–873 Đường Ý Tông
Đô đốc/Đô hộ/Kinh lược sứ 
• 684–687 Lưu Diên Hựu
• 862–863 Sái Tập
Lịch sử
Lịch sử 
• Thành lập 679
• Khởi nghĩa Lý Tự Tiên 687
• Khởi nghĩa Mai Thúc Loan 722
• Khởi nghĩa Phùng Hưng/Đỗ Anh Hàn 791
• Nam Chiếu xâm lược 864–866
• Giải thể 866
Tiền thân Kế tục
Giao Châu
Tĩnh Hải quân
An Nam đô hộ phủ
Tên tiếng Trung
Phồn thể安南都護府
Giản thể安南都护府
Phiên âm
Tiếng Hán tiêu chuẩn
Bính âm Hán ngữĀnnán Dūhùfǔ
Wade–GilesAn1-nam1 Tu1-hu4-fu3
Tên tiếng Việt
Chữ Quốc ngữAn Nam đô hộ phủ
Chữ Hán安南都護府
Đừng nhầm với An Nam trưởng quan ti.

An Nam đô hộ phủ (chữ Hán: 安南都護府) là tên gọi một vùng lãnh thổ nằm dưới quyền kiểm soát của nhà Đường giai đoạn 679–866, tương ứng với một phần tây nam Quảng Tây (Trung Quốc), miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay, có địa bàn từ Hà Tĩnh trở ra.

Hành chính

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Hành chính Việt Nam thời Bắc thuộc lần 3

Tháng 8 năm Điều Lộ thứ nhất (679), nhà Đường đổi Giao Châu đô đốc phủ (lập năm 624) thành An Nam đô hộ phủ, bao gồm 12 châu với 59 huyện:

  • Giao Châu
  • Lục Châu
  • Phong Châu
  • Ái Châu
  • Hoan Châu
  • Trường Châu
  • Phúc Lộc Châu
  • Thang Châu
  • Chi Châu
  • Vũ Nga Châu
  • Diễn Châu
  • Vũ An Châu
  • Các châu kimi

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 757, nhà Đường đổi là An Nam đô hộ phủ, chín năm sau lấy lại tên cũ. Năm 825, lị sở An Nam đô hộ phủ đặt tại Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Chức quan đứng đầu An Nam đô hộ phủ là Kinh lược sứ. An Nam đô hộ phủ không được xem ngang hàng như các "quân" - đơn vị hành chính ở Trung Quốc đương thời. Cho tới năm 866, Đường Ý Tông theo thỉnh cầu của Cao Biền, thăng An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 687, các thủ lĩnh bản địa là Lý Tự Tiên và Đinh Kiến nổi dậy, giết chết vị quan nhà Đường là Lưu Diên Hựu. Nhà Đường phái Tào Huyền Tĩnh sang trấn áp.

Cuối thế kỷ 7, đạo Hồi và người Ả rập đã có mặt tại Giao Châu.

Năm 713, Mai Thúc Loan lãnh đạo một cuộc nổi dậy của bản địa, chiếm được lị sở Tống Bình, giữ được độc lập trong vòng 10 năm. Nhà Đường phải huy động 10 vạn quân mới tái chiếm được.

Năm 757 - 758, các thương nhân người Ba Tư và Ả Rập nổi dậy làm loạn ở thành Tống Bình.

Năm 761 -767, Abe no Nakamaro (阿倍仲麻呂, tức là Triều Hành) người Nhật Bản du học và làm quan cho nhà Đường được cử làm người đứng đầu An Nam đô hộ phủ.

Năm 767, các thế lực quân sự Srivijaya từ đảo Java (các tư liệu lịch sử cũ gọi là Chà Và) tấn công vào Chu Diên.

Năm 791, hào trưởng bản địa là Phùng Hưng, đánh chiếm được thành Tống Bình, giữ độc lập được một thời gian.

Cuối thế kỷ 8, Cảnh giáo đã xuất hiện tại Giao Châu.

Đầu thế kỷ 9, Hoàn vương quốc (tiền thân là Lâm Ấp) tấn công biên giới phía Nam. Năm 808, tiết độ sứ là Trương Chu tấn công Hoàn vương quốc và giành thắng lợi.

Năm 819, thủ lĩnh bản địa là Dương Thanh nổi dậy giết quan nhà Đường là Lý Tượng Cổ, giữ được 2 năm thì bị dẹp.

Từ năm 846, Nam Chiếu nhiều lần tấn công An Nam đô hộ phủ. Mãi đến năm 866, Cao Biền mới đánh lui được hoàn toàn quân Nam Chiếu.

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu Đường thư cho biết:

AN NAM ĐÔ ĐỐC PHỦ

An Nam đô đốc phủ, thời Tùy là quận Giao Chỉ. Năm Vũ Đức thứ 5, đổi thành Giao Châu tổng quản phủ, quản lý 10 châu: Giao, Phong, Ái, Tiên, Diên, Tống, Từ, Hiểm, Đạo, Long. Trong đó Giao Châu lĩnh 4 huyện: Giao Chỉ, Hoài Đức, Nam Định, Tống Bình. Năm thứ 6, các châu Trừng, Từ, Đạo, Tống đều thêm chữ "Nam" vào trước tên. Năm thứ 7, lại đặt thêm Ngọc Châu, lệ thuộc Giao phủ.

Năm Trinh Quán thứ nhất, bãi bỏ Nam Tống Châu để lấy huyện Tống Bình, bỏ Long Châu lấy huyện Lục Bình, bỏ Diên Châu lấy huyện Chu Diên, bỏ Long Châu lấy huyện Long Biên, tất cả đều cho lệ thuộc Giao phủ. Đồng thời bãi bỏ huyện Hoài Đức và Nam Từ Châu. Năm thứ 2, phế Ngọc Châu nhập vào Khâm Châu. Năm thứ 6, đổi Nam Đạo Châu thành Tiên Châu. Năm thứ 11, phế Tiên Châu, lấy huyện Bình Đạo cho lệ thuộc vào. Nay (thời Đường) đốc thúc 4 châu: Giao, Phong, Ái, Hoan.

Tháng 8 năm Điều Lộ thứ nhất, đổi Giao Châu đô đốc phủ thành An Nam đô hộ phủ. Tháng 4 năm Đại Túc thứ nhất, đặt hai châu Vũ An và Nam Đăng, đều lệ thuộc An Nam phủ. Tháng 9 năm Chí Đức thứ 2, đổi thành Trấn Nam đô hộ phủ, sau lại là An Nam phủ. Thứ sử kiêm chức Đô hộ, quản lý 4.200 binh lính.

Sổ hộ khẩu cũ: 8 huyện, 17.523 hộ, 88.788 khẩu.

Thời Thiên Bảo: 7 huyện, 24.230 hộ, 99.652 khẩu.

Khoảng cách địa lý: Cách kinh sư (Trường An) 7.253 dặm, cách Đông Đô (Lạc Dương) 7.225 dặm. Phía Tây đến cửa sông Tiểu Hoàng giới hạn Ái Châu đi đường thủy 416 dặm. Phía Tây Nam đến trấn Tĩnh Giang huyện Văn Dương giới hạn Trường Châu 150 dặm. Phía Tây Bắc đến cửa sông Luận Giang huyện Gia Ninh thuộc Phong Châu đi đường thủy 150 dặm. Phía Đông đến cửa sông Tiểu Hoàng giới hạn huyện Chu Diên đi đường thủy 500 dặm. Phía Bắc đến cửa sông A Lao thuộc Chu Diên Châu đi đường thủy 549 dặm. Phía Bắc đến sông Vũ Định giới hạn huyện Vũ Bình 252 dặm. Phía Đông Bắc đến Phúc Sinh giới hạn huyện Giao Chỉ là 10 dặm.

CÁC HUYỆN TRỰC THUỘC

Tống Bình: Đất huyện Tây Quyển thời Hán, thuộc quận Nhật Nam. Từ Hán đến Tấn vẫn là huyện Tây Quyển. Nhà Tống (Nam triều) đặt quận Tống Bình và huyện Tống Bình. Đời Tùy bình định nhà Trần, đặt Giao Châu. Tùy Dương Đế đổi thành Giao Chỉ, Thứ sử trị vì tại Long Biên, An Nam đô hộ chế ngự các bộ tộc vùng biên (chư Man). Các nước hải ngoại phương Nam phần lớn nằm ở phía Nam và Tây Nam Giao Châu, cư ngụ trên các đảo giữa biển lớn, cách nhau từ vài trăm đến vài ngàn dặm, xa nhất tới hai ba vạn dặm. Thuyền bè giương buồm đi lại, đường sá khó lòng biết chi tiết. Từ thời Hán Vũ Đế đến nay, việc triều cống đều phải qua con đường Giao Chỉ. Năm Vũ Đức thứ 4, tại Tống Bình đặt Tống Châu, lĩnh 3 huyện: Tống Bình, Hoằng Giáo, Nam Định. Năm thứ 5 lại chia Tống Bình để đặt thêm huyện Giao Chỉ và Hoài Đức. Năm Trinh Quán thứ nhất phế Nam Tống Châu, nhập các huyện Hoằng Giáo, Hoài Đức, Giao Chỉ vào huyện Tống Bình; dời tên huyện Giao Chỉ về đặt tại thành Giao Chỉ cũ thời Hán. Lấy hai huyện Tống Bình, Nam Định thuộc về Giao Châu.

Giao Chỉ: Đất huyện Luy Lâu quận Giao Chỉ thời Hán. Đời Tùy là huyện Giao Chỉ, lấy theo tên quận thời Hán. Năm Vũ Đức thứ 4 đặt 3 huyện Từ Liêm, Ô Diên, Vũ Lập. Năm thứ 6 đổi thành Nam Từ Châu. Đầu năm Trinh Quán, bãi bỏ châu và 3 huyện này, nhập cả vào Giao Chỉ.

Chu Diên: Tên huyện thời Hán, thuộc quận Giao Chỉ. Huyện nay là đất huyện Quân Bình thời Ngô, cũ đặt là quận Vũ Bình.

Long Biên: Thời Hán là nơi Thái thú quận Giao Chỉ trị vì tại Luy Lâu. Thời Hậu Hán, Chu Xướng làm Thái thú Giao Chỉ mới dời trị sở về Long Biên. Tương truyền khi mới lập thành, có rồng cuộn (giao long bàn biên) nơi bến nước, nên lấy đó làm tên thành. Năm Vũ Đức thứ 4 đặt Long Châu tại huyện, lĩnh 3 huyện: Long Biên, Vũ Ninh, Bình Lạc. Đầu năm Trinh Quán phế Long Châu, nhập Vũ Ninh và Bình Lạc vào Long Biên, cắt cho lệ thuộc Tiên Châu. Năm thứ 10 phế Tiên Châu, lấy Long Biên thuộc về Giao Châu.

Bình Đạo: Đất huyện Phong Khê thời Hán, nhà Nam Tề đặt huyện Xương Quốc. Sách Nam Việt Chí chép: Đất Giao Chỉ cực kỳ màu mỡ. Xưa có vị thủ lĩnh gọi là Hùng Vương, phụ tá là Hùng Hầu. Sau có vua Thục đem ba vạn binh đánh diệt Hùng Vương. Vua Thục cho con làm An Dương Vương, trị vì Giao Chỉ. Nước đó nằm ở phía Đông huyện Bình Đạo ngày nay. Thành có chín vòng (thành Cổ Loa), chu vi chín dặm, dân cư đông đúc. Úy Đà ở Phiên Ngung đem quân đánh, vua có nỏ thần, bắn một phát giết vạn quân Việt. Triệu Đà bèn cầu hòa, cho con là Thủy (Trọng Thủy) làm con tin. An Dương Vương đem con gái là Mỵ Châu gả cho, Thủy lấy được nỏ rồi phá hủy đi. Quân Việt (Triệu Đà) kéo đến, giết An Dương Vương, chiếm lấy đất ấy. Năm Vũ Đức thứ 4 đặt Đạo Châu tại huyện, lĩnh 3 huyện: Bình Đạo, Xương Quốc, Vũ Bình. Năm thứ 6 đổi thành Nam Đạo Châu, lại đổi thành Tiên Châu. Năm Trinh Quán thứ 10 phế Tiên Châu, nhập Xương Quốc vào Bình Đạo, lệ thuộc Giao Châu.

Vũ Bình: Nhà Ngô đặt quận Vũ Bình. Đời Tùy là huyện. Vốn là huyện Phong Khê thời Hán. Đầu thời Hậu Hán, người con gái huyện Mê Linh là Trưng Trắc làm phản, đánh chiếm Giao Chỉ, Mã Viện đem quân thảo phạt, ba năm mới dẹp yên. Quang Vũ Đế bèn đặt thêm hai huyện Vọng Hải, Phong Khê, chính là đất này. Đời Tùy gọi là Long Bình. Năm Vũ Đức thứ 4 đổi thành Vũ Bình.

Thái Bình.

— Lưu Hú, Cựu Đường thư

Tân Đường thư ghi có chút khác biệt:

AN NAM TRUNG ĐÔ HỘ PHỦ

An Nam Trung đô hộ phủ, vốn là quận Giao Chỉ. Năm Vũ Đức thứ 5 gọi là Giao Châu, trị sở tại Giao Chỉ. Năm Điều Lộ thứ nhất gọi là An Nam đô hộ phủ, năm Chí Đức thứ 2 gọi là Trấn Nam đô hộ phủ, năm Đại Lịch thứ 3 phục hồi tên An Nam. Năm Bảo Lịch thứ nhất dời trị sở đến Tống Bình.

Thổ sản cống nạp: Chuối, cau, da cá mập, mật trăn, lông chim trả. Số hộ: 24.230. Số khẩu: 99.652. Số huyện: 8. (Có Kinh Lược quân).

Tống Bình: (Hạng thượng). Năm Vũ Đức thứ 4 đặt Tống Châu, đồng thời đặt hai huyện Hoằng Giáo, Nam Định. Năm thứ 5 tách ra đặt hai huyện Giao Chỉ, Hoài Đức, lệ thuộc Giao Châu. Năm thứ 6 gọi là Nam Tống Châu. Năm Trinh Quán thứ nhất bãi bỏ châu, lược bớt Hoằng Giáo và Hoài Đức, dời huyện Giao Chỉ đến Nam Cừ Châu cũ, cho lệ thuộc vào đây.

Nam Định: (Vốn lệ thuộc Tống Châu). Năm Vũ Đức thứ 4 tách từ Tống Bình mà đặt ra, năm thứ 5 lệ thuộc Giao Châu. Năm Đại Lịch thứ 5 bãi bỏ, năm Trinh Nguyên thứ 8 đặt lại.

Thái Bình: (Hạng trung hạ). Vốn là Long Bình, đặt năm Vũ Đức thứ 4; lấy huyện này đặt làm Long Châu, đồng thời đặt hai huyện Nghĩa Liêm, Phong Khê, trị sở tại Nghĩa Liêm. Năm thứ 6 gọi là Nam Long Châu. Năm Trinh Quán thứ nhất bãi bỏ châu, lược bớt Nghĩa Liêm, lấy Phong Khê lệ thuộc Phong Châu, còn Long Bình cho lệ thuộc vào đây. Năm Tiên Thiên thứ nhất đổi tên (thành Thái Bình).

Giao Chỉ: (Hạng trung hạ). Năm Vũ Đức thứ 4 đặt Từ Châu, đồng thời đặt ba huyện Từ Liêm, Ô Diên, Vũ Lập; lấy tên nước Từ Liêm mà đặt. Năm thứ 6 gọi là Nam Từ Châu. Năm Trinh Quán thứ nhất bãi bỏ châu, lược bớt ba huyện để đặt lại huyện này.

Chu Diên: (Hạng thượng). Năm Vũ Đức thứ 4 đặt Diên Châu, đồng thời đặt hai huyện Cao Lăng, Định An. Năm Trinh Quán thứ nhất bãi bỏ châu, lược bớt Cao Lăng, Định An, lấy Chu Diên cho lệ thuộc vào đây.

Long Biên: (Hạng trung hạ). Năm Vũ Đức thứ 4 đặt Long Châu, đồng thời đặt hai huyện Vũ Ninh, Bình Lạc. Năm Trinh Quán thứ nhất bãi bỏ châu, lược bớt Vũ Ninh, Bình Lạc, lấy Long Biên lệ thuộc Tiên Châu; khi Tiên Châu bị bãi bỏ thì lệ thuộc vào đây.

Bình Đạo: (Hạng trung hạ). Năm Vũ Đức thứ 4 đặt Đạo Châu, đồng thời đặt huyện Xương Quốc. Năm thứ 6 gọi là Nam Đạo Châu, cùng năm đó đổi tên thành Tiên Châu. Năm Trinh Quán thứ 10 bãi bỏ châu, lược bớt Xương Quốc, lấy Bình Đạo cho lệ thuộc vào đây.

Vũ Bình: (Hạng trung hạ). Vốn lệ thuộc Đạo Châu, năm Vũ Đức thứ 5 cho lệ thuộc vào đây.

— Âu Dương Tu, Tân Đường thư

Trong quan hệ ngoại giao đời sau

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: An Nam

Khác với tên gọi Tĩnh Hải quân sau đó chỉ được các triều đình phương Bắc dùng làm một tên gọi Việt Nam trong vòng 50 năm sau khi tên gọi này chấm dứt (968), tên gọi An Nam được các triều đình phương Bắc dùng gần như suốt thời kỳ quân chủ để gọi Việt Nam.

Dù không còn là "đô hộ phủ" khi Việt Nam đã chính thức độc lập, có quốc hiệu và niên hiệu riêng, tên gọi "An Nam" vẫn được dùng trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Nhiều vua Việt Nam từ thời Lý tới thời Tây Sơn đã nhận danh hiệu An Nam quốc vương do vua Trung Quốc phong.

Những người đứng đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian tồn tại từ năm 679 đến 866, An Nam đô hộ phủ gồm có những người đứng đầu (với chức danh khác nhau) sau đây (danh sách không đầy đủ, những người chết vì cuộc chiến tại An Nam đô hộ phủ có tên in nghiêng):[1]

Thứ tự Thời vua Chức danh Tên họ Niên đại
1 Đường Cao Tông đô đốc Lưu Diên Hựu 681-687
2 Đường Huyền Tông Đô hộ Quang Sở Khách 722-?
3 Đường Huyền Tông Đô hộ Triều Hành 761-767
4 Đường Đại Tông Kinh lược sứ Trương Bá Nghi 767-777
5 Đường Đại Tông, Đường Đức Tông Đô hộ Ô Sùng Phúc 777-787
6 Đường Đức Tông Đô hộ Trương Đình 788-789
7 Đường Đức Tông Đô hộ Bàng Phục 789-790
8 Đường Đức Tông Đô hộ Cao Chính Bình 790-791
9 Đường Đức Tông Đô hộ Triệu Xương 792-802
10 Đường Đức Tông Đô hộ Bùi Thái 802-803
11 Đường Đức Tông, Đường Thuận Tông, Đường Hiến Tông Đô hộ Triệu Xương 804-806
12 Đường Hiến Tông Đô hộ Trương Chu 806-810
13 Đường Hiến Tông Đô hộ Mã Tống 810-813
14 Đường Hiến Tông Đô hộ Trương Lệ 813
15 Đường Hiến Tông Đô hộ Bùi Hành Lập 813-817
16 Đường Hiến Tông Đô hộ Lý Tượng Cổ 818-819
17 Đường Hiến Tông Đô hộ Quế Trọng Vũ 820
18 Đường Hiến Tông Đô hộ Bùi Hành Lập 820
19 Đường Mục Tông Đô hộ Vương Thừa Điển 822
20 Đường Mục Tông, Đường Kính Tông Đô hộ Lý Nguyên Hỷ 822-826
21 Đường Văn Tông Đô hộ Hàn Ước 827-828
22 Đường Văn Tông Đô hộ Trịnh Xước 831-832
23 Đường Văn Tông Đô hộ Lưu Mân 833
24 Đường Văn Tông Đô hộ Hàn Hy 834-835
25 Đường Văn Tông Đô hộ Điền Tảo 835
26 Đường Văn Tông Đô hộ Mã Thực 836-840
27 Đường Vũ Tông Kinh lược sứ Vũ Hồn 841-843
28 Đường Tuyên Tông Đô hộ Bùi Nguyên Dụ 846-848
29 Đường Tuyên Tông Đô hộ Điền Tại Hựu 849-850
30 Đường Tuyên Tông Đô hộ Thôi Cảnh 851-852
31 Đường Tuyên Tông Đô hộ Lý Trác 853-855
32 Đường Tuyên Tông Đô hộ Lý Hoàng Phủ 856-857
33 Đường Tuyên Tông Đô hộ Tống Nhai 857
34 Đường Tuyên Tông Kinh lược sứ Vương Thức 858-859
35 Đường Ý Tông Đô hộ Lý Hộ 859-860
36 Đường Ý Tông Kinh lược sứ Vương Khoan 861
37 Đường Ý Tông Kinh lược sứ Sái Tập 862-863
38 Đường Ý Tông Kinh lược sứ Tống Nhung 863
39 Đường Ý Tông Kinh lược sứ (từ 866 là Tiết độ sứ) Cao Biền 864-866

Xem thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Tĩnh Hải quân
  • An Đông đô hộ phủ
  • Bắc thuộc lần 3
  • Hành chính Việt Nam thời Bắc thuộc lần 3

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Viện Sử học (2001), sách đã dẫn, tr 381-382

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược.
  • Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
  • Viện Sử học (2001), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
  • Lưu, Hú (945). "An Nam đô đốc phủ". Cựu Đường Thư (舊唐書) (bằng tiếng Trung). Quyển Quyển 41: Chí đệ 21 - Địa lý 4. Hậu Tấn.
  • Âu Dương, Tu (1060). "An Nam trung đô hộ phủ". Tân Đường Thư (新唐書) (bằng tiếng Trung). Quyển Quyển 43 hạ: Chí đệ 33 hạ - Địa lý 7 hạ. Bắc Tống.
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn Sửa dữ liệu tại Wikidata
  • IdRef

Từ khóa » Trụ Sở Phủ đô Hộ Nước Ta Dưới Thời đường đặt ở đâu