Ấn Triện đồng Triều Nguyễn

Chất liệu của ấn triện chính là thể hiện vai trò, quyền lực, uy tín… của chủ nhân, vì vậy tùy theo khả năng, tùy theo nhu cầu, tùy theo chức vụ hoặc theo quy định mà ấn triện được chế tạo bằng đá ngọc, bằng kim loại: đồng, vàng, bạc…; bằng ngà, bằng xương, bằng gỗ… thậm chí bằng gốm. Chất liệu vàng, ngọc làm ấn triện dường như chỉ riêng dành cho hoàng gia (hoàng đế, hoàng hậu, hoàng thái hậu, hoàng thái tử…), hầu như không có nhà quyền thế nào làm cho mình ấn triện bằng hai loại chất liệu này. Vua Nguyễn đã chế tạo nhiều loại ấn triện với chất liệu như vàng, bạc mạ vàng, bạc, ngà, ngọc… để cấp cho người trong hoàng gia và hoàng tộc khi phong chức, tước cho họ. Tuy nhiên vào cuối thời Nguyễn, do gặp khó khăn về tài chính, một số quy định về chất liệu chế tác ấn triện đã được nới rộng: năm 1869, Tự Đức đã phê chuẩn quy định: “Các loại ngân sách, ấn, quan, quan phòng của các hoàng thân, công chúa phải nộp và nấu chảy thành thỏi để dùng. Nhưng theo mẫu đổi đúc lại bằng đồng để tiện cho đời đời lưu giữ”.

Vì vậy tất cả ấn triện thuộc hoàng tộc triều Nguyễn làm bằng đồng đều có niên đại từ năm 1869 trở về sau. Với những phát hiện về ấn triện thời Nguyễn cho đến nay có thể tạm kết luận như sau: chỉ có nhà vua và một số nhân vật quan trọng của hoàng gia Nguyễn (gia đình riêng của vua) mới sử dụng ấn triện bằng vàng, một số người trong hoàng tộc (tộc họ Nguyễn Phúc) được sử dụng ấn triện bằng bạc, một số người trong hoàng tộc, các quan cấp cao xuống cấp huyện sử dụng ấn triện bằng đồng, một số quan lại khác và cấp xã sử dụng ấn triện bằng gỗ…

Ấn hành chính huyện Thất Khê (Cao Bằng), đúc năm Thiệu Trị 1, 1841.

(Hiện vật tại BTLSQG).

Cùng với chất liệu chế tạo, dưới thời Nguyễn, tên gọi, hình núm, kích thước to nhỏ cũng là các tiêu chí xác định đẳng cấp của các ấn triện. Chẳng hạn như trên đã đề cập tên gọi Tỷ, Bảo là dành cho ấn triện của hoàng đế, hoàng hậu, hoàng thái hậu, hoàng thái tử… núm tỷ, bảo có hình con rồng to nhỏ khác nhau theo thứ tự trên. Núm ấn hình rồng non (trên ấn triện bằng bạc mạ vàng) là dành hoàng tử công, hoàng thân công, hầu tước được tập phong thì núm ấn hình con kỳ lân. Còn về kích thước thì bao giờ ấn triện của vua (tỷ bảo) cũng lớn hơn ấn triện của quan chức (ấn, quan phòng…), ngay cả ấn triện của quan chức cũng to nhỏ khác nhau, quan lại cao cấp thường có ấn triện kích thước lớn hơn quan cấp thấp…

Ấn triện bằng đồng có nhiều tên gọi như ấn, quan phòng, chương, tín chương, đồ ký, kiềm ký và núm thì có hình kỳ lân, hình sư tử, hình thẳng, hình vòng… đều là của quan chức phẩm hàm cấp bậc cao thấp khác nhau và tuyệt nhiên không thể có hình rồng.

Do gọi chung tất cả các loại là ấn triện nên tên của ấn triện có hai loại: loại tên nhóm như ấn, quan phòng, đồ ký…, loại tên riêng là các chức vụ, vị trí mà ấn triện được khắc.

Do các loại ấn triện có hình dạng khá đồng nhất là một khối hình học (có hoặc không có tay cầm) nên cách mô tả thống nhất như sau:

Thân ấn: tức khối hình học của ấn triện.

Núm ấn: chỗ tay cầm để ấn triện xuống văn bản. Trường hợp ấn triện có dạng hình tháp đầu bằng thì không có núm.

Mặt ấn: nơi khắc nội dung chính của ấn triện (ký hiệu hoặc chữ…) thường ở vị trí úp xuống. Mặt ấn thường được sử dụng hết diện tích để khắc chữ hoặc hình vẽ.

Lưng ấn: mặt đối của mặt ấn, nơi khắc các thông tin khác về ấn triện, thường ở vị trí ngửa. Trường hợp ấn triện hình tháp đầu bằng thì đầu bằng chính là lưng ấn.

Hình ấn: từ để chỉ mặt ấn đã được đóng trên văn bản (từ này hầu như không sử dụng vì sách này chỉ mô tả hiện vật)

Ấn triện bằng đồng thời Nguyễn

Ấn triện chất liệu đồng là loại được đúc nhiều nhất cho các quan chức từ cấp cao cho đến cấp thấp thuộc thời Nguyễn, thậm chí còn dùng cho cả hoàng thân công chúa theo quy định năm 1869 thời Tự Đức. Từ thời Nguyễn Ánh chiến đấu chống Tây Sơn cho đến thời Khải Định nhà Nguyễn đã có nhiều thay đổi trong việc gọi tên các ấn triện bằng đồng. Tuy nhiên, tiêu chí chung để phân biệt đẳng cấp của các loại ấn triện đồng cũng là tên gọi, hình dạng núm và kích thước. Ấn triện bằng đồng thuộc các chức vụ cao thời Nguyễn thường được gọi với các tên sau: chương, tín chương (chỉ đến năm 1832), ấn, quan phòng. Các loại này thường có thêm một ấn triện nhỏ dự bị gọi là dấu kiềm, tạo với ấn triện chính thành một cặp, chữ khắc trong dấu kiềm có nội dung như ấn triện lớn cùng cặp nhưng được rút gọn ít chữ hơn. Ấn của các quan chức cấp trung và cấp thấp được gọi là đồ ký, kiềm ký và được làm bằng đồng hoặc bằng gỗ. Nơi đúc các loại ấn triện đồng là cục chế tạo thuộc Vũ Khố. Tất cả các ấn triện của triều Nguyễn thuộc quân đội, chính quyền trung ương và địa phương đều do nơi đây thực hiện. Trong các thời vua Nguyễn thường có những thay đổi về tên riêng của ấn triện, phần sau đây giới thiệu chung về tên các loại ấn triện bằng động chủ yếu quy định từ thời Minh Mạng:

Các loại ấn triện

+ Tên nhóm là Ấn – triều Nguyễn quy định các chức quan hoặc cơ quan sau đây thì ấn triện bằng đồng của họ là ấn: Thần sách giám quân, 5 (ngũ) quân: Trung quân, Tiền quân, Tả quân, Hữu quân, Hậu quân; phủ Thừa Thiên, Bảo hộ Cao Miên, Thống chế các dinh thị trung, thị nội, tả hữu dực quân Vũ lâm, 5 (ngũ) dinh: Thần cơ, Tiền phong, Long vũ, Hổ oai, Hùng nhuệ; Thống chế thủy sư, phó tướng ngũ quân, Đô sát viện, khoa đạo, Đại lý tự, Thái thường tự, Quang Lộc tự, Thái lộc tự, Hồng lô tự, Khâm thiên giám, bố chính, án sát các tỉnh, trường thi tuyển sinh, thi Hương, thi Hội, các phủ, huyện châu; tả, hữu thống chế quân thị trung, thống chế các dinh Thân cơ, Long vũ, Huyền vũ quân thị nội, các dinh, trấn đạo, phủ, huyện, châu, “quân nô hội chí”, con cháu công thần tập phong tước, kinh kỳ thủy sư đô thống, kinh kỳ thủy sư đề đốc; phủ huyện của hạt Trấn Tây (Campuchia), thống quản… Thí dụ: ấn triện của Trung quân tên là Trung quân chi ấn… Ấn triện (ấn) của các chực vụ hoặc cơ quan trên có kích thước to nhỏ khác nhau, núm các loại khác nhau và có loại được kèm theo các dấu kiềm bằng ngà, đồng hoặc gỗ. Cũng có quy định về các loại ấn triện nào được đóng bằng son, ấn nào đóng bằng mực đen… Chẳng hạn như ấn của Hàn Lâm viện, các trường thi được đóng son đỏ. Năm 1878, Tự Đức đặt thêm cục Thuyền Chính và cấp cho cục này ấn triện “thuyền chính chi ấn” được đóng mực đỏ.

+ Tên nhóm là Quan phòng – nghĩa là giữ gìn chỗ quan ải. Những việc hệ trọng nơi quan ải, thường có liên quan đến việc phân bổ quan chức mang tính chất khâm sai, lâm thời biệt phái. Từ ý nghĩa chức vụ được điều hành đó, "Quan phòng" đã được chuyển thành 2 chữ cuối cùng khắc trên quả ấn. Ngay từ đời Gia Long, bên cạnh những ấn lớn và kiềm nhỏ, một số quan lớn đã được cấp ấn Quan phòng nhỏ, dùng với ý nghĩa chức vụ của mình. Phải đến năm Minh Mệnh 13 (1832) với việc thay đổi cơ cấu quan chức, việc thành lập cấp tỉnh và bổ nhiệm những chức quan mới như Tổng đốc, Tuần phủ, Lãnh binh v.v... đồng thời, bỏ không dùng Chương, thì ấn Quan phòng mới được định hình hoàn toàn. Triều Nguyễn quy định các chức quan hoặc cơ quan sau đây thì ấn triện bằng đồng của họ gọi là quan phòng:Nhà kho Vũ khố, phủ Nội Vụ, quản lý tàu buôn, tào chính, đê chính, đề đốc kinh thành, lãnh binh các tỉnh, kinh tượng, xứ thị vệ, Quốc tử giám, học chính, Bang biện phủ Trấn Ninh, Thái y viện, sung biện nội các sự vụ, thủy sư thống chế, phòng văn thư, tả hữu tham tri 6 (lục) bộ: Binh Hình Công Lễ Hộ Lại, phó thần sách 5 (ngũ) dinh: Trung Tiền Tả Hữu Hậu; quản lý thương quyền, tào chính các tào của 6 bộ ở Gia Định và Bắc thành, học chính các dinh trấn, chánh quản cơ tứ dực thủy quân, quản lý Thuận Thành, hùng cự ngũ kích, thị tượng các vệ, dũng thịnh hùng tượng, tri tâm tượng cơ, an định kiện binh trung tượng, đề đốc kinh thành, các nơi quan tân (bến sông, bến đò được đánh thuế hàng hóa), tỉnh hạt, nhà kho, phó lãnh binh, an phủ sứ, đề đốc, thị vệ xứ… Thí dụ: ấn triện của xứ Thị vệ có tên là Thị vệ xứ chi quan phòng. Ấn triện (quan phòng) của các chức vụ hoặc cơ quan trên có kích thước to nhỏ khác nhau, núm các loại khác nhau và có loại được kèm theo các dấu kiềm bằng ngà, đồng hoặc gỗ. Các loại này chủ yếu được đóng mực đen.

Như vậy “quan phòng” của triều Nguyễn cấp cho nhiều đối tượng hơn so với nhà Thanh (nhà Thanh cấp “quan phòng” cho các quan khâm sai).

+ Tên nhóm là Đồ ký – Đồ ký được dùng cho các quan dưới chức quan lớn chính ngạch, thường là các quan nhỏ: quan phụ trách phân Phủ, Huyện thừa, Giáo thụ, Huấn đạo. Trưởng quan các Ty. Chức quan đứng đầu các Vệ, Thuyền bên quân đội...

+ Tên nhóm là Kiềm ký – triều Nguyễn quy định các chức quan hoặc cơ quan sau đây thì ấn triện của họ gọi là kiềm ký: các tấn, thủ, vịnh, sở, thủ hộ Ngọ môn, thủ hộ cửa Đại cung, sở Tuần ty 6 (lục) tỉnh Nam Kỳ và thành Trấn Tây.

Ấn triện (đồ ký, kiềm ký) của các chức vụ hoặc cơ quan trên có kích thước to nhỏ khác nhau, núm các loại khác nhau và có loại được kèm theo các dấu kiềm bằng gỗ. Các loại này chủ yếu được đóng mực đen; riêng các vệ, cơ (đơn vị quan đội) được đóng mực đỏ.

Ngoài ra, ấn triện của quan chức thấp nhất là cai tổng, lý trưởng các xã được gọi là triện và chỉ được làm bằng chất liệu gỗ. Ấn triện của chức sắc giáo dục cấp huyện như: giáo thụ, huấn đạo được xếp vào loại đồ ký và được làm bằng gốc, được đóng dấu mực tím.

Núm của ấn triện

Dưới đây là một số loại núm được quy định cho các chức vụ hoặc cơ quan sau:

Núm có hình kỳ lân: ấn triện của thần sách giám quân, ngũ quân (trung, tiền, tả, hữu, hậu quân). Ấn triện có núm hình kỳ lân của ngũ quân hiện nay còn một chiếc là Tả quân chi ấn của Lê Văn Duyệt.

Núm có hình con hổ: ấn triện bảo hộ Cao Miên, phó tướng ngũ quân, trường thi Hương, các dinh, trấn, đạo, phủ, huyện, châu.

Núm có hình sư tử: ấn triện của tả hữu thống chế các dinh Thị Trung, Thị Nội, Thần Cơ, Tiền Phong, Long Vũ, Hổ Oai, Hùng Nhuệ, Huyền Vũ, Thống Chế Thủy Sư, Tả Hữu Dực Quân Vũ Lâm, Trường thi tuyển sinh các tỉnh, ấn triện (quan phòng) quản lý tàu buôn, Tào Chính, Đê Chính, các tào Binh, Hình, Công, Hộ ở Gia Định và Bắc Thành, Quốc Tử Giám.

Núm thẳng: ấn triện của Đô Sát viện, Khoa Đạo, Đại Lý tự, Thái Thường tự, Quang Lộc tự, Thái Lộc tự, Hàn Lâm viện, Khâm Thiên giám, Bố chính, Án sát các tỉnh, các phủ, huyện, châu, ấn triện (quan phòng) nhà kho thuộc Vũ Khố, phủ Nội vụ, Đề Đốc kinh thành, Lãnh binh các tỉnh và kinh tượng, Xứ thị vệ, học chính các tỉnh, Chính quản cơ tứ dực thủy quân, quản lý Thuận Thành…

Núm khắc rau tảo: ấn triện (quan phòng) của Thái Y viện, phòng văn thư.

Núm tròn dài: ấn triện (quan phòng) bang biện phủ Trấn Ninh.

Núm vòng bán cầu: ấn triện (quan phòng) sung biện Nội các sự vụ, ấn triện (đồ ký) các vệ, cơ, các thổ huyện, các đồn trại.

Hình dạng của thân ấn

Bên cạnh quy định về núm, những loại ấn triện nói trên còn được quy định nhiều kích cỡ, hình dạng mặt ấn vuông hoặc chữ nhật khác nhau tùy theo tầm quan trọng của các cơ quan.

Dấu của quan phó lãnh binh tỉnh Hưng Hóa, đúc năm Minh Mệnh 16 (1835).( Hiện vật tại BTLSQG)

Có lẽ ấn triện được gọi là ấn thì có hình khối vuông dẹt: như các ấn triện của Hoài Đức quận công, Tả quân, Lương tài hầu. Bình Thuận Án sát sứ ty, Tiên Yên Châu, Quang Hóa châu… còn các ấn triện gọi là quan phòng và ấn triện gọi là đồ ký thì có khối hình chữ nhật dẹt: như các ấn triện (quan phòng) của Quản lý tàu buôn, Tào chính, Đê chính, Đề đốc kinh thành, Lãnh binh các tỉnh và kinh tượng, Quốc tử giám, học chính các tỉnh, bang biện phủ Trấn Ninh, sung biện nội các sự vụ, thủy sư thống chếm phòng văn thư, các tào Binh, Hình, Công, Hộ ở Gia Định và Bắc Thành, Quốc Tử giám, học chính các dinh trấn, quản lý Thuận Thành (tức quản lý người Chăm – khu vực Bình Thuận hiện nay), ấn triện (đồ ký) phân phủ, vệ, cơ, thổ huyện, đồn trại, cửa biển, vịnh biển, giám đốc kho kinh, túc trực, thường trực, trường trực ở quan Cẩm ý, cục thông bảo: Thông bảo cục chú trường, Thông bảo cục tiền khố, Thông bảo cục duyên khố… Đặc biệt, ấn triện có hình khối và mặt ấn hình chữ nhật thời Nguyễn thường được đóng với kiểu đứng, hoàn toàn khác kiểu Tây Sơn là dấu đống nằm ngang, như hình ấn Thần Sách hữu doanh quan phòng (ấn triện quan phòng của dinh phía phải quan Thần sách). Dấu có cỡ 2,5 x 3,8cm, 6 chữ triện chia 3 hàng dọc đóng trong Châu bản triều Nguyễn quyển 18, Minh Mạng thứ 7, tr.15-16 hoặc Hình ấn Ninh Bình tuần phủ quan phòng cỡ 6x9,3cm năm 1832 thuộc thời Minh Mạng 6 chữ triện chia 2 hàng dọc đóng trong sách Công văn cựu chỉ của thư viện Hán Nôm, ký hiệu A.3326, quyển 2 tr.71.

Ngoài các chức quan nói trên được cấp phát ấn triện bằng đồng với quy định cụ thể về núm và thân ấn, còn có các chức quan sau đây được cấp ấn triện bằng đồng nhưng không thấy quy định về núm và thân ấn: ấn triện Thương trường quan phòng và dấu kiềm, Mộc thương quan phòng, Thái y viện quan phòng, ấn triện (đồ ký) của 10 cơ trung quan, 50 cơ hậu quân, 20 vệ các dinh, 56 vệ cơ, viện Thượng tứ (chăm sóc ngựa) và ty Hộ thành binh mãm kho súng, kho thuốc súng, ấn triện kiềm thủ hộ Ngọ môn, kiềm ký của các sở tuần ty ở 6 tỉnh Nam Kỳ, thành Trấn Tây.

Chữ khắc trên mặt ấn triện bằng đồng: có 3 loại

Chữ triện: phần lớn mặt ấn triện được khắc chữ triện với nhiều kiểu viết

Chữ khải (còn gọi là chữ chân): có những mặt ấn của nhóm quan phòng và kiềm ký được khắc loại chữ khải (chân) như ấn triện Thị vệ xứ chi quan phòng (ấn triện quan phòng của sở thị Vệ), ấn triện Đại Quan môn thủ hộ kiềm ký (Ấn triện kiềm ký của quan giữ cửa Đại Quan), Cần giờ hải khẩu tấn thủ kiềm ký (ấn triện kiềm ký của đồn binh giữ cửa biển Cần Giờ)… Bố cục chữ của ấn triện Đại quan môn thủ hộ kiềm ký là mặt ấn được chia hai phần: phần hẹp phía trên bằng 1/5 diện tích cách phần dưới bằng một đường vạch băng ngang khắc 3 chữ khải theo chiều ngang từ phải sang trái, phần dưới rộng 4/5 khắc 4 chữ khải mỗi hàng 2 chữ theo chiều dọc. Còn ấn triện Cần Giờ hải khẩu tấn thủ kiềm ký thì chia 2 hàng dọc mỗi hàng 4 chữ. Hai ấn triện này còn Hình ấn trong Châu bản triều Nguyễn, quyển 67, Minh Mạng thứ 19, tr.6, 144.

Cả hai loại chữ triện và chữ khải: cũng có một số ấn triện mặt được khắc cả chữ triện và chữ khải, chẳng hạn như đồ ký của các vệ thuộc Kinh Tượng: Kinh Tượng nhất vệ đồ ký cỡ 4x5,4cm, chiều dài được chia hai phần bằng một đường ngang phần trên nhỏ hơn phần dưới với chiều rộng là 1,2cm trong khắc hai chữ khải theo hàng ngang (Kinh Tượng) phần dưới còn lịa 4cm khắc bốn chữ triện theo hai hàng dọc mỗi hàng hai chữ: “nhất vệ - đồ ký” và các ban Túc Trực, Thường trực, Trường trực của Cẩm Y vệ: ấn triện Cẩm Y túc trực đồ ký cũng có bố cục tương tự như ấn triện Kinh Tượng nhất vệ đồ ký. Tiếc rằng hai ấn triện nói trên hiện nay chỉ còn Hình ấn trong Châu bản triều Nguyễn quyển 53, Minh Mạng thứ 19.

Một số quy định về việc dùng ấn triện thời Nguyễn

Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ ghi chép riêng một quyển về quy định việc dùng ấn triện của các quan cũng như luật về việc coi giữ ấn tín. Xin trích để tham khảo:

Ấn triện phải được đóng trên chỗ ghi tháng thuộc dòng niên hiệu của văn bản, ấn triện kiềm chỉ đóng ở chỗ dập xóa, sửa chữa chỗ giáp trang của văn bản.

Các quan chức không được sử dụng ấn triện vào việc riêng. Dụ của Minh Mạng năm 1823: “… đến như việc riêng của mình, không được đem ấn triện, dấu kiềm được ban cấp tự tiện mà dùng, ai vi phàm sẽ xử tội “trái lệnh”.

Các báo cáo đều phải có tên nha môn (tức tên cơ quan), người đứng đầu chính tay viết chữ ký và kê tên những người thực hiện, nếu việc do nhiều cơ quan cùng làm thì theo thứ tự đống dấy kiềm của từng cơ quan ở bên trái và phải chỗ ghi tháng của dòng niên hiệu. Các tờ tâu quan hệ đến đinh điền (tức dân trong tuổi lao động, ruộng đất), tiền lương, ngạch quan… phải viết thành 2 bản giáp, ất, tức 1 bản chính và 1 bản sao giống nhau. Riêng hai cơ quan là Tào chính và Thương bạc thì phải viết 2 bản giáp, ất, bính giống nhau (tức 1 bản chính và 2 bản sao), bản thứ 3, tức là bản bính, thì nộp cho bộ Hộ lưu để kiểm tra.

Vì có lệ phong ấn vào cuối năm để mọi người nghỉ ngơi ăn Tết nên triều Nguyễn ra một quy định cho phép “đóng sẵn ấn trước vào giấy để trắng” phòng khi có việc phải dùng. Đến ngày khai ấn sau Tết, còn lại bao nhiêu tờ đã đóng sẵn dấu, đều phải tự kiểm tra mà đốt đi.

Từ thời Minh Mạng, nhà Nguyễn cho phép các quan tứ phẩm văn võ trở lên được dùng ấn triện tên riêng dạng vuông: nhất thị phẩm kích thước 1 tấc 3 phân x 1 tấc 4 phân, tam tứ phẩm kích thước 1 tấc 2 phân x 1 tấc 1 phân và cho đóng dấu son.

Về việc giữ ấn triện: có những trường hợp quan viên được mang theo khi đi công việc và cũng có trường hợp phải để lại tại nha môn, chẳng hạn ấn triện của khoa đạo (tức quan thuộc Viên Đô sát) nếu được khâm sai đi công việc ở địa phương gần thì được mang theo, còn đi ra tỉnh ngoài công cán thì giao lại quan đứng đầu Viện tạm giữ.

Do tầm quan trọng của các ấn triện, thể thức cấp phát và sử dụng ấn triện đã được nhà Nguyễn ban hành thành quy định rất chặt chẽ trong đó những ấn triện mà triều đình thu hồi sẽ bị hủy ngay.

Luật thời Nguyễn cũng quy định về tội lấy trộm ấn tín: “Phàm kẻ nào lấy trộm ấn tín của nha môn không chia ra tội thủ, tội tòng (tức là không phân biệt chủ mưu và tòng phạm) đều phải tội trảm (giam hậu).

Có thể nói ấn triện triều Nguyễn rất phong phú, đa dạng và có số lượng lớn, lên đến hàng ngàn chiếc cấp theo các chức quan, phẩm trật, mặc dù đã qua nhiều đợt đổi, cấp và bị phủ Nội Vụ phá hủy theo quy định. Tiếc rằng những ấn triện triều Nguyễn được giới thiệu trong những năm qua vẫn còn rất ít và chưa được thống kê đầy đủ.

Lan Phương (Tổng hợp)

Tài liệu tham khảo:

- Đặng Văn Thắng, Phạm Hữu Công (2015), Đồ đồng thời Nguyễn, Nxb Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh.

- Nguyễn Công Việt, Giới thiệu sơ lược một số loại hình ấn triện triều Nguyễn, http://honguyen.vnweblogs.com/post/13608/164291 (truy cập ngày 8/10/2015).

Từ khóa » Có ấn Triện Là Gì