Ánh Sáng Và Phù Sa | Tuệ Lãng
Có thể bạn quan tâm
Chế Lan Viên là một trong những người suy tư và viết về lao động thơ nhiều nhất, ông thể hiện tất cả điều đó thành thơ:
Thơ, thơ đong từng ngao nhưng tát bể
Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời
Hiểu giá trị của thơ, ông là người trong suốt hành trình sáng tạo đã luôn tìm cách tốt nhất để chuyển hóa chất liệu đời sống thành chất liệu tâm hồn bằng cách thầm lặng đánh vật với câu chữ, ý tưởng. Như người phu chữ, ông luôn tuân theo những hình luật khắc nghiệt của sáng tạo nhưng bao giờ cũng biết vượt qua để hướng tới bến bờ nghệ thuật: thơ phải có ích cho tư tưởng và phải mới lạ cho xúc cảm:
Đừng làm nhũng câu thơ khuôn mình theo văn phạm
Như cây xanh quá thẳng chim không về
Cả nghĩ như thế nên Chế Lan Viên luôn trung thực là mình, thơ ông thể hiện rất rõ cách tư duy sâu sắc, cách cảm nhận tinh tế và cách thể hiện độc đáo hiếm thấy. Trước sau trong sáng tạo, tiếng thơ của ông luôn đậm chất chính luận, triết lý và đầy sáng tạo. Ông luôn hướng thơ về những vấn đề trung tâm của đời sống, những vấn đề ở tầm dân tộc, thời đại. Tư duy thơ ông sắc sảo, đa diện, ông không bao giờ nhìn sự vật một phía một chiều, ông xoay trở, quan sát ở nhiều bình diện, góc độ, tự nâng mình lên một tầm cao bao quát về văn hóa, tư tưởng, luôn đặt sự kiện, vấn đề trong mối tương quan nhiều sự vật khác để so sánh đối chọi, liên hệ, tổng hợp. Chính vì thế ý tưởng thơ của ông sắc sảo; lời thơ tân kỳ, sáng tạo; nhịp thơ cuồn cuộn; mạch thơ căng, nâng cao và gợi nhiều suy tưởng cho người đọc. Chúng ta cảm thấy rất rõ tâm hồn nhà thơ, đã yêu thương thì yêu thương da diết, điên dại và căm ghét thì cũng đến độ “từ bỏ, loại trừ”. Cho nên trong Điêu tàn cảm xúc thơ có lúc bị xô lệch nghiêng ngửa về phía buồn đau, tuyệt vọng, đó là một nỗi đau khổ thống thiết của một tâm hồn bị vong nô:
Trời hỡi trời ! Hôm nay ta chán hết
Những sắc màu hình ảnh của trần gian
Trong Ánh sáng và phù sa lại là những câu thơ gieo lửa vào lòng người, thúc giục tiến lên, hăm hở, hào sảng, vang vọng về hiện tại và tràn đầy niềm tin. Nhưng đối với kẻ thù nhân dân, ý tưởng thơ cứ gân guốc, thô thiển, sần sùi chạy trên câu thơ. Những câu thơ không có “trang phục thơ” ấy là do lòng phẫn nộ mãnh liệt. Ở Di cảo thơ II, nhà thơ dường như “kê biên” tài sản suy nghiệm của mình, ông lật trái mình một cách thành thật, trần trụi, vừa thể hiện, vừa lý giải; tứ thơ, mạch thơ, nhịp thơ cuộn lên liên tục, dằn xoáy dữ dội để đi đến được tận cùng lý lẽ, chân lý. Thơ Chế Lan Viên vì thế là đại diện cho một hồn thơ thời đại, một hồn thơ đã vận động đi theo những bước tiến của lịch sử. Với Điêu tàn, thế giới thơ Chế Lan Viên đứng riêng một cõi “giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ XX. Nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật” (Hoài Thanh). Đó là một cõi âm giới với xương sọ đầu lâu, với mồ không huyệt lạnh, với tha ma pháp trường, đó là một dòng sông Linh hư ảo được dựng lên giữa tà dương nắng xế, trong những đêm mờ sương tàn lạnh, với những hồn ma vất vưởng, những thành quách đổ nát trong một sắc màu tàn lụi, kinh dị. Và Điêu tàn vì thế là một thế giới hư linh, ma quái, chìm đắm trong bóng tối cô đơn lạnh lẽo với những cơn mê sảng của một tâm hồn giá lạnh bị vong nô. Bằng một lòng tin đau đớn, ông dựng lên một thế giới hoang tưởng, hư ngụy và ông tin là nó có thật. Rồi ông bị hút theo xác tín siêu hình đó. Nhưng sau đó, xác tín bị đánh vỡ, lúc ấy ông trở nên cô độc và câm lặng. Và thế là nhà thơ kêu lên hốt hoảng, một tiếng kêu khắc khoải về nỗi đau bị biến chất, về việc mất lòng tin và chỉ còn lại sự cô đơn. Thực ra đó là cách nhà thơ cố tạo ra một sự ngăn cách giả định giữa nhà thơ và cuộc đời. Khác với Hàn Mặc Tử, nỗi đau đời được diễn đạt bằng nỗi đau người, nỗi đau trải nghiệm của “thịt da tôi sượng sần và tê điếng”, Chế Lan Viên nhức nhối một nỗi đau trí tuệ sâu sắc. Đó là cơn vật vã của suy tưởng, chiêm nghiệm về xác tín, về niềm tin, về sự tồn tại của con người trên mặt đất. Tiếng thơ ấy là tiếng thơ của một thế hệ bị mất nước luôn bất hòa với thực tại và mong đòi trốn thoát. Vì thế, có thể nói với Điêu tàn Chế Lan Viên là một nhà thơ lãng mạn.
Sau 1945, đi theo cách mạng, đất nước được độc lập, tự do, thế giới Điêu tàn hư ngụy bị sụp đổ. Lòng tin trở lại sinh thành và có căn cứ. Từ đó, người ta thấy tâm hồn ấy đã “giã từ thung lũng đau thương để bước ra cánh đồng vui, từ chân trời một người để đến chân trời của tất cả”. Nhà thơ chia tay cái gia tài đồ sộ hàng triệu nỗi buồn để đến với tố quốc và nhân dân. Thoát khỏi cái tôi siêu hình, tâm hồn nhà thơ tràn ngập một vẫy gọi yêu thương mới, một mê đắm tin tưởng mới. Ánh sáng và phù sa vì thế chứa đựng nhiều chất liệu hiện thực của cuộc đời, giàu ý nghĩa xã hội và chan hòa tình cảm cộng đồng. Chính ở đây, Chế Lan Viên là nhà thơ cách mạng.
Song cần phải thấy rõ rằng, trong Ánh sáng và phù sa, khi lịch sử đi những bước khổng lồ thì cái “tinh tế nở hoa” tạm thời chưa nghĩ đến. Nhà thơ vì thế chỉ biết hướng ngoại với tư cách công dân hay nhà sử học. Đó là nhà thơ cách mạng hành động. Còn ở Di cảo thơ II, con người đứng trước sự đòi gọi của thiên mệnh bó buộc, nhà thơ phải trở về với mình để chân thành phản tỉnh. Nhà thơ cách mạng vì thế hướng nội trong cách thế của một triết nhân đầy suy tư, chiêm nghiệm. Giọng thơ trở nên đằm thắm, sâu lắng, trầm tĩnh, đầy tự vấn “Anh phải tự làm hoa tiêu lấy chính mình”. Ông lật trái mình qua giông bão “sấm chớp”. Và cứ thế, nhà thơ mải miết săn lùng sự thật về cuộc đời, con người, về nghệ thuật và chính mình. Trong cơn mặc khải suy tưởng, đôi lúc ông trở nên hoài nghi, mặc cảm, chua chát, sắc lạnh, hóm hỉnh, đùa cợt. Ông suy tư về những vấn đề bản thể, song vẫn nhìn thấy cả một nền triết học sẵn sàng nảy lộc của cây bàng. Đấy là một thứ minh triết tự nhiên của đời, vượt lên mọi “lý thuyết màu xám”. Ở Di cảo thơ II, Chế Lan Viên là nhà thơ cách mạng suy tưởng.
Trong nền thơ ca Việt Nam ở vào thế kỷ XX vừa khép lại, sự nghiệp thơ ca đồ sộ đầy ý nghĩa thời đại của Chế Lan Viên là một hiện tượng thơ mang tầm thế kỷ. Gương mặt nghệ thuật đa diện của ông là gương mặt tiêu biểu cho nhiều thế hệ nhà thơ đã gắn bó và sáng tạo suốt chiều dài một thế kỷ văn học chứa nhiều canh tân về mặt thi pháp của một nền văn học hiện đại có gia tốc lớn. Ở chặng đường nào, dù là Thơ Mới lãng mạn (1932 – 1945), thơ Cách mạng (1945 – 1975) hay thơ thời kỳ Đổi mới (1986 – 2000), ông vẫn ở hàng đỉnh cao tiêu biểu với những tập thơ biết gây sôi động thi đàn: Điêu tàn, Ánh sáng và phù sa, Di cảo thơ II. Có thể nói, đấy là một cuộc chạy maratông văn học bền bỉ nhất và cũng sung sức nhất trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại thế kỷ XX mà ông là người duy nhất đến chót cuộc hành trình. Không chỉ thế, dường như bước chạy bằng thơ ấy vẫn còn mải miết ở về phía trước bởi những giá trị hằng cửu của cái Đẹp thi ca trong thơ của ông. Thật quá lời nhưng cũng không có gì miễn cưỡng và e dè để nói rằng: mỗi bài thơ của Chế Lan Viên là một bậc thềm của ngôi đền suy tưởng độc đáo mà người đọc có thể từ đó bước tới được nơi cao đẹp sang trọng, để từ đó chúng ta có thể khởi hành một cuộc lãng du luôn luôn mới mẻ trong việc suy tư về con người, cuộc đời và thơ ca.
———————————————————————-
(*) “Tháp bayon bốn mặt” là tên một bài thơ của Chế Lan Viên.
Ghi chép suy nghĩ về Chế Lan Viên
0.000000 0.000000Read Full Post »
Từ khóa » Nội Dung Tập ánh Sáng Và Phù Sa
-
Ánh Sáng Và Phù Sa (1960) (Chế Lan Viên - Phan Ngọc Hoan)
-
Trọn Bộ Tập Thơ “Ánh Sáng Và Phù Sa” – Chế Lan Viên (P1)
-
Giọng điệu Của Tập Thơ ánh Sáng Và Phù Sa - Tài Liệu Text - 123doc
-
Tập Thơ ánh Sáng Và Phù Sa - Bài Giảng Khác - Lê Thị Linh
-
"Ánh Sáng Và Phù Sa" - Tập Thơ Hay Nhất Của đời Thơ Chế Lan Viên
-
Trọn Bộ Tập Thơ “Ánh Sáng Và Phù Sa” – Chế Lan Viên (P3)
-
Top 10 Bài Văn Phân Tích Tác Phẩm Tiếng Hát Con Tàu Của Chế Lan ...
-
Tu Từ Nghệ Thuật Trong ánh Sáng Và Phù Sa Của Chế Lan Viên Luận ...
-
Phân Tích đặc Trưng Thơ Của Chế Lan Viên - Các Bài Văn Hay Lớp 12
-
Trọn Bộ Tập Thơ “Ánh Sáng Và Phù Sa” – Chế Lan Viên (P4)
-
Trọn Bộ Tập Thơ “Ánh Sáng Và Phù Sa” – Chế Lan Viên (P2)
-
Bình Giảng 4 Câu Thơ đề Từ Trong Bài Tiếng Hát Con Tàu Của Chế Lan ...
-
Ánh Sáng Và Phù Sa (1960) - Hami's Sky
-
Tìm Hiểu Về Cuộc đời Và Phong Cách Thơ Chế Lan Viên