Azerbaijan – Wikipedia Tiếng Việt

Cộng hòa Azerbaijan
Tên bản ngữ
  • Azərbaycan Respublikası (tiếng Azerbaijani)
Ba dải ngang có kích thước bằng nhau màu xanh lam, đỏ và xanh lục, với một hình lưỡi liềm trắng và một ngôi sao tám cánh ở giữa Quốc kỳ Quốc huy Azerbaijan Quốc huy
Quốc ca: Azərbaycan marşı(tiếng Việt: "Hành khúc Azerbaijan")
Vị trí Azerbaijan (xanh) trên thế giớiVị trí Azerbaijan (xanh) trên thế giới
Vị trí Azerbaijan (đỏ) trong khu vựcVị trí Azerbaijan (đỏ) trong khu vực
Tổng quan
Thủ đôvà thành phố lớn nhất Baku40°23′43″B 49°52′56″Đ / 40,39528°B 49,88222°Đ / 40.39528; 49.88222
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Azerbaijan[1]
Ngôn ngữ thiểu sốXem danh sách đầy đủ
Sắc tộc (2009[3])
  • 91,6% Azerbaijan
  • 2,0% Talysh
  • 2,0% Lezgin
  • 1,4% Armenia
  • 1,3% Nga
  • 2,4% khác
Tôn giáo
  • 96,9% Hồi giáo
  • 3,0% Kitô giáo
  • 0,1% khác[2]
Tên dân cưNgười Azerbaijan
Chính trị
Chính phủCộng hòa bán tổng thống chế đơn nhất dưới một chế độ độc tài thế tập[4]
• Tổng thống Ilham Aliyev
• Phó Tổng thống Mehriban Aliyeva
• Thủ tướng Ali Asadov
• Chủ tịch Quốc hội Sahiba Gafarova
Lập phápQuốc hội
Lịch sử
Thành lập
• Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan 28 tháng 5 năm 1918
• Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan 28 tháng 4 năm 1920
• Độc lập từ Liên Xô
  • 30 tháng 8 năm 1991 (tuyên bố)
  • 18 tháng 10 năm 1991 (độc lập)
  • 25 tháng 12 năm 1991 (được công nhận)
• Thành viên đầy đủ của SNG 21 tháng 12 năm 1991
• Gia nhập Liên Hợp Quốc 2 tháng 3 năm 1992
• Phê chuẩn hiến pháp 12 tháng 11 năm 1995
Địa lý
Diện tích  
• Tổng cộng86.600 km2 (hạng 112)33.436 mi2
• Mặt nước (%)1,6
Dân số 
• Ước lượng 202210,353,296[5] (hạng 90)
• Mật độ117/km2 (hạng 99)293/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2024
• Tổng sốTăng 272 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 78)
• Bình quân đầu ngườiTăng 26,235 đô la Mỹ[6] (hạng 88)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2024
• Tổng sốTăng 79 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 82)
• Bình quân đầu ngườiTăng 7,604 đô la Mỹ[6] (hạng 90)
Đơn vị tiền tệManat (₼) (AZN)
Thông tin khác
Gini? (2008)Tăng theo hướng tiêu cực 33.7[7]trung bình
HDI? (2023)Tăng 0.789[8]cao · hạng 81
Múi giờUTC+4 (AZT)
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+994
Mã ISO 3166AZ
Tên miền Internet.az
Location of Azerbaijan

Azerbaijan,[a] quốc hiệu là Cộng hòa Azerbaijan,[b] là một quốc gia nằm tại khu vực Tây Á và thuộc vùng Kavkaz của lục địa Á-Âu, Azerbaijan giáp với biển Caspi ở phía đông, Nga ở phía bắc, Gruzia ở phía tây bắc, Armenia ở phía tây và Iran ở phía Nam. Ngoài ra, Azerbaijan có Cộng hoà Tự trị Nakhchivan, là một vùng lãnh thổ tách rời. Nakhchivan giáp với Armenia ở phía bắc và phía đông, Iran ở phía nam và phía tây cùng Thổ Nhĩ Kỳ ở phía tây bắc. Nagorno-Karabakh ở phía tây nam bị Armenia chiếm đóng vào năm 1991 nhưng được Azerbaijan giành lại quyền kiểm soát vào năm 2023.

Azerbaijan là một trong sáu quốc gia Turk độc lập và là một thành viên tích cực của Tổ chức các quốc gia Turk và Tổ chức Văn hóa Turk Quốc tế. Azerbaijan có quan hệ ngoại giao với 182 quốc gia và là thành viên của 38 tổ chức quốc tế,[10] bao gồm Liên Hợp Quốc, Ủy hội châu Âu, Phong trào không liên kết, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu và chương trình Đối tác vì Hòa bình của NATO, đồng thời là một là một quan sát viên của Tổ chức Thương mại Thế giới. Azerbaijan là một thành viên sáng lập của Tổ chức GUAM vì Dân chủ và Phát triển Kinh tế, Cộng đồng các Quốc gia Độc lập[11] và Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học.

Azerbaijan là một nước đang phát triển và xếp hạng thứ 81 về Chỉ số phát triển con người. Azerbaijan là một nước cộng hòa bán tổng thống chế đơn nhất.[4] Đảng Azerbaijan Mới là đảng cầm quyền từ năm 1993, do gia tộc Aliyev của Heydar Aliyev và con trai Ilham Aliyev kiểm soát. Chính phủ Azerbaijan đã bị chỉ trích là một chế độ chuyên chế và vi phạm nhân quyền, bao gồm việc hạn chế tự do truyền thông và đàn áp cộng đồng Hồi giáo Shia.[12]

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Lịch sử tên gọi Azerbaijan

Địa danh Azerbaijan được cho là bắt nguồn từ Atropates,[13] tên của vị Satrap (tổng trấn) Media dưới thời đế chế Achaemenid, người đã cai trị một vùng tại Iran Azarbaijan hiện đại được gọi là Atropatene.[14] Cái tên Atropate có lẽ bắt nguồn từ tiếng Ba Tư cũ, có ý nghĩa là "được bảo hộ bởi lửa [thiêng]."[15] Cái tên này cũng được đề cập trong Frawardin Yasht Avesta: âterepâtahe ashaonô fravashîm ýazamaide dịch nghĩa là: Chúng ta thờ cúng Fravashi của Atare-pata linh thiêng.[16]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Lịch sử Azerbaijan

Những người dân định cư sớm nhất được biết tại Azerbaijan ngày nay là người Albania Kavkaz, một tộc người nói ngôn ngữ Kavkaz có lẽ đã tới vùng này trước những sắc tộc cuối cùng sẽ chinh phục vùng Kavkaz. Theo lịch sử Azerbaijan từng là nơi sinh sống của nhiều bộ tộc, gồm Ba Tư, Armenia, Hy Lạp, La Mã, Ả Rập, Turk, Mông Cổ và Nga.

Ngôn ngữ Turkic xuất hiện ở vùng Azerbaijan như kết quả của cuộc di cư vĩ đại của người Turk tới Tiểu Á ở thế kỷ 11.[17]

Vương quốc đầu tiên xuất hiện trên lãnh thổ ngày nay là Cộng hoà Azerbaijan là Mannae ở thế kỷ 9 TCN, tồn tại đến tận năm 616 TCN khi nó trở thành một phần của Đế quốc Median, sau này sẽ trở thành một phần của Đế quốc Ba Tư năm 549 TCN. Lãnh thổ phó vương Albania Kavkaz được thành lập ở thế kỷ 4 TCN và gồm xấp xỉ những lãnh thổ ngày nay là quốc gia Azerbaijan cùng những phần phía nam Dagestan.

Hồi giáo nhanh chóng phát triển trong vùng Azerbaijan sau những cuộc chinh phục của người Ả Rập trong thế kỷ thứ bảy và thứ tám. Sau khi quyền lực của Khalifate Ả Rập suy tàn, nhiều quốc gia bán độc lập được thành lập, vương quốc Shirvanshah là một trong số đó. Ở thế kỷ 11, lực lượng chinh phục Seljuk Turks trở thành lực lượng hùng mạnh tại Kavkaz và dẫn tới việc thành lập một Azerbaijanis tạm thời theo ngôn ngữ. Ở thế kỷ 13 và 14, đất nước này phải chịu những cuộc xâm lược Mông Cổ-Tatar.

Sau nhà Safavid, Azerbaijan trải qua một giai đoạn phân chia phong kiến ngắn ở giữa thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 19, và gồm các vương quốc độc lập dưới quyền các khan. Sau hai cuộc chiến giữa Đế quốc Iran Qajar, cũng như Ganja, Guba, Baku và các vương quốc Khan độc lập khác cùng Đế quốc Nga, vùng Kavkaz bị người Nga chiếm đóng theo Hiệp ước Gulistan năm 1813, và Hiệp ước Turkmenchay năm 1828, và nhiều hiệp ước khác trước đó giữa các Sa hoàng Nga và các Khan trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 19. Năm 1873, dầu mỏ được tìm thấy tại thành phố Baku, thủ đô tương lai của Azerbaijan. Tới đầu thế kỷ 20 hầu như một nửa lượng dầu cung cấp trên thế giới bắt nguồn từ Azerbaijan.[18]

Sau sự sụp đổ của Đế quốc Nga trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Azerbaijan cùng Armenia và Georgia trở thành một phần của Cộng hòa Dân chủ Liên bang Zakavkaz có thời gian tồn tại ngắn ngủi. Khi nước Cộng hòa giải tán tháng 5 năm 1918, Azerbaijan tuyên bố độc lập với cái tên Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan. Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan là chế độc Cộng hòa Hồi giáo nghị viện đầu tiên trên thế giới và chỉ tồn tại trong 2 năm, từ 1918 tới 1920, khi các lực lượng Hồng quân xâm chiếm Azerbaijan. Tháng 3 năm 1922, Azerbaijan, cùng Armenia và Gruzia, trở thành một phần của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz bên trong Liên Xô mới được thành lập. Năm 1936, TSFSR bị giải tán và Azerbaijan trở thành một nước Cộng hòa thuộc Liên Xô với cái tên Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức Quốc Xã xâm lược Liên Xô. Mục tiêu chủ yếu trong Chiến dịch Edelweiss của Adolf Hitler là chiếm thủ đô Baku giàu dầu mỏ của Azerbaijan. Vì nỗ lực chiến tranh, những người thợ dầu khí Xô viết bị buộc làm việc không nghỉ còn các công dân khác đi đào hầm hào cùng các vật cản chống tăng nhằm ngăn cản nguy cơ một cuộc tấn công của quân thù. Tuy nhiên, chiến dịch Edelweiss đã không thành công. Quân đội Đức ban đầu bị kìm chân tại những dãy núi vùng Kavkaz, sau đó bị đánh bại hoàn toàn trong Trận Stalingrad.

Năm 1990, người Azerbaijan tập hợp lực lượng phản đối quyền quản lý Xô viết và thúc đẩy giành độc lập. Những cuộc biểu tình đã bị người Xô viết can thiệp đàn áp dã man trong cái mà hiện họ gọi là Tháng 1 Đen. Năm 1991, Azerbaijan tái lập quyền độc lập sau sự sụp đổ của Liên Xô. Những năm đầu độc lập bị bao phủ bóng đen bởi một cuộc chiến tranh với Armenia và những người Armenia ly khai về vùng Nagorno-Karabakh. Dù đã có một thỏa thuận ngừng bắn từ năm 1994, Azerbaijan vẫn chưa giải quyết được cuộc xung đột này với Armenia. Từ khi cuộc chiến chấm dứt, Azerbaijan đã mất quyền kiểm soát 14% lãnh thổ gồm cả Nagorno-Karabakh.[19] Vì cuộc xung đột này, cả hai nước đều phải đối đầu với những vấn đề người tị nạn và tình trạng chuyển dịch chỗ ở trong nước cũng như các khó khăn kinh tế.

Thời kỳ cai trị của gia đình Aliyev (1993 - nay)

[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu lãnh đạo Xô viết người Azerbaijan Heydar Aliyev đã tìm cách khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú tại Baku. Dù Aliyev đã cố gắng giảm tối đa số lượng người thất nghiệp trong nước, nguồn thu từ dầu mỏ vẫn chủ yếu rơi vào tay tầng lớp trên.[cần dẫn nguồn] Aliyev dần tỏ ra độc tài và đã rạo ra sự sùng bái cá nhân chính ông. Những đối thủ chính trị bị giam giữ và tự do ngôn luận bị hạn chế. Tình hình chính trị Azerbaijan vẫn trong tình trạng căng thẳng, ngay cả sau khi Aliyev, khi gần chết, đã lựa chọn con trai là Ilham trở thành ứng cử viên tổng thống duy nhất của Đảng ông. Các lực lượng đối lập bất mãn với kiểu kế tục triều đình này và đang kêu gọi thành lập một chính phủ dân chủ hơn.

Ilham Aliyev, con trai của Heydar, trở thành chủ tịch Đảng New Azerbaijan đồng thời là Tổng thống Azerbaijan khi cha ông qua đời năm 2003. Ông tái đắc cử nhiệm kỳ tổng thống thứ ba vào tháng 10 năm 2013.[20] Vào tháng 4 năm 2018, Tổng thống Ilham Aliyev lại tiếp tục đắc cử nhiệm kỳ thứ tư liên tiếp của mình trong cuộc bầu cử bị các đảng đối lập chính tẩy chay vì cho là gian lận.[21] Vào ngày 27 tháng 9 năm 2020, các cuộc đụng độ mới trong cuộc xung đột Nagorno-Karabakh chưa được giải quyết tái diễn dọc theo Đường liên lạc Nagorno-Karabakh. Cả lực lượng vũ trang của Azerbaijan và Armenia đều báo cáo thương vong về quân sự và dân sự.[22] Thỏa thuận ngừng bắn Nagorno-Karabakh và sự kết thúc của cuộc chiến kéo dài sáu tuần giữa Azerbaijan và Armenia đã được ăn mừng rộng rãi ở Azerbaijan, vì quân đội quốc gia này đã giành được những lãnh thổ đáng kể..[23] Mặc dù nền kinh tế đã được cải thiện nhiều,[24] đặc biệt với việc khai thác mỏ dầu Azeri–Chirag–Guneshli và mỏ khí đốt Shah Deniz, sự cai trị của gia đình Aliyev vẫn bị chỉ trích do gian lận bầu cử,[25] trình độ kinh tế bất bình đẳng ở mức độ cao [26] và tham nhũng trong nước.[27] Vào tháng 9 năm 2023, Azerbaijan phát động một cuộc tấn công chống lại Cộng hòa Artsakh ly khai ở Nagorno-Karabakh, dẫn đến việc giải thể và tái nhập Artsakh vào ngày 1 tháng 1 năm 2024 và khiến gần như toàn bộ người dân tộc Armenia phải rời bỏ khu vực.[28]

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Địa lý Azerbaijan Xem thêm: Thiên nhiên Azerbaijan, Hệ động vật Azerbaijan, Các khu dự trữ quốc gia Azerbaijan, Khí hậu Azerbaijan, và Hệ thực vật Azerbaijan
Thiên nhiên Azerbaijan
Ảnh vệ tinh Azerbaijan của NASA.

Azerbaijan nằm ở nơi Tây Á giáp với Đông Âu. Khu vực phía Bắc Kavkaz của nước này, chiếm khoảng 15% diện tích đất nước thường được xem là thuộc châu Âu trong khi phần còn lại ở phía Nam Kavkaz thuộc châu Á. Nước này có tới chín trong mười một vùng khí hậu. Đây là quốc gia khô cằn, khô và khí hậu cận nhiệt đới với mùa hè nóng và mùa đông ôn hoà. Nhiệt độ thay đổi theo mùa và theo vùng. Ở vùng đất thấp phía tây nam, nhiệt độ trung bình là 6 °C (43 °F) vào mùa đông và 26 °C (79 °F) vào mùa hè — dù nhiệt độ tối đa thông thường ban ngày có thể tới 32 °C (90 °F). Ở những rặng núi phía bắc và phía tây nhiệt độ trung bình 12 °C (54 °F) vào mùa hè và −9 °C (16 °F) vào mùa đông.

Lượng mưa hàng năm trên hầu hết đất nước thay đổi trong khoảng từ 200 mm (8 in) tới 400 mm (16 in) và nói chung ở mức thấp nhất phía đông bắc. Tuy nhiên, ở vùng viễn đông nam khí hậu ẩm hơn và lượng mưa hàng năm có thể cao tới 1.300 mm (51 in). Trên hầu hết đất nước, những giai đoạn ẩm nhất là vào mùa xuân và mùa thu, mùa hè khô nhất.

Chính trị

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Chính trị Azerbaijan Xem thêm: Bầu cử tại Azerbaijan, Quan hệ nước ngoài Azerbaijan, và Nhân quyền tại AzerbaijanIlham AliyevTổng thống Mehriban AliyevaPhó Tổng thống Ali AsadovThủ tướng

Azerbaijan chính thức là một nước cộng hòa bán tổng thống chế, nhưng trên thực tế là một nhà nước chuyên chế;[29][30][31][32] bầu cử tại Azerbaijan bị chỉ trích vì gian lận bầu cử và những thủ đoạn thao túng khác.[33][34][35][36][37][38][39] Từ năm 1993, gia tộc Aliyev và Đảng Azerbaijan Mới do Heydar Aliyev thành lập đã liên tục nắm quyền tại Azerbaijan.[40] Tổ chức Freedom House phân loại nhà nước Azerbaijan là "không tự do"[41][42] với Số điểm tự do toàn cầu 7/100 vào năm 2024.[43]

Sau cuộc bầu cử tổng thống ngày 15 tháng 10 năm 2003, một thông báo chính thức của Ủy ban Bầu cử Trung ương (CEC) cho thấy İsa Qambar — lãnh đạo khối đối lập lớn nhất, Bizim Azərbaycan ("Azerbaijan của chúng ta") — được 14% số phiếu bầu đứng thứ hai. Thứ ba với 3.6% là Lala Shevket, lãnh đạo Phong trào Thống nhất Quốc gia, người phụ nữ đầu tiên ra ứng cử trong một cuộc bầu cử tổng thống tại Azerbaijan. Tuy nhiên, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, Hội đồng châu Âu, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền và các tổ chức quốc tế khác, cũng như các tổ chức chính trị độc lập trong nước và các tổ chức phi chính phủ đã lên tiếng lo ngại về sự gian lận quan sát thấy trong cuộc bầu cử và quá trình kiểm phiếu nhiều thiếu sót.[44][45]

Nhiều tổ chức độc lập trong nước và quốc tế từng quan sát và giám sát trực tiếp hay gián tiếp cuộc bầu cử đã tuyên bố Isa Gambar là người chiến thắng trong cuộc bầu cử ngày 15 tháng 10. Một quan điểm khác được nhiều tổ chức quốc tế tán thành cho rằng thực tế một cuộc bầu cử vòng hai đáng lẽ đã phải diễn ra giữa hai ứng cử viên đối lập chính là Isa Gambar và Lala Shevket.

Quan hệ ngoại giao

[sửa | sửa mã nguồn]

Azerbaijan có quan hệ ngoại giao với 186 quốc gia và là thành viên của 38 tổ chức quốc tế,[46] đồng thời là quan sát viên của Phong trào không liên kết và Tổ chức Thương mại Thế giới.[46] Azerbaijan được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc bầu vào Hội đồng Nhân quyền mới được thành lập vào ngày 9 tháng 5 năm 2006 và bắt đầu nhiệm kỳ vào ngày 19 tháng 6 năm 2006.[47]

Quân đội

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Quân đội Azerbaijan

Lực lượng Vũ trang Azerbaijan được thành lập vào tháng 10 năm 1991, gồm bốn quân chủng: lục quân, không quân, hải quân, lực lượng phòng không và bốn tiểu nhánh vệ binh quốc gia, vệ binh nội vụ, biên phòng và bảo vệ bờ biển.

Ngân sách quốc phòng của Azerbaijan là 2,24 tỷ đô la Mỹ tính đến năm 2020[cập nhật],[48] tương đương 5,4% GDP[49] và chiếm 12,7% tổng ngân sách nhà nước.[50] Ngành công nghiệp quốc phòng của Azerbaijan sản xuất vũ khí cá nhân, hệ thống pháo binh, xe tăng, xe bọc thép và thiết bị nhìn đêm, bom hàng không, UAV/máy bay không người lái, các loại xe quân sự và máy bay trực thăng quân sự.[51][52][53][54]

Phân cấp hành chính

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Phân cấp hành chính Azerbaijan
14 vùng kinh tế của Azerbaijan.

Về mặt hành chính, Azerbaijan được chia thành 66 quận (rayonlar, số ít rayon), 11 thành phố (şəhərlər, số ít şəhər) và 14 vùng kinh tế.[55] Ngoài ra, Cộng hòa tự trị Nakhchivan là một lãnh thổ tách rời và là khu tự trị duy nhất của Azerbaijan.[56]

Kinh tế

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Kinh tế Azerbaijan

Kinh tế Azerbaijan chủ yếu dựa vào công nghiệp. Các ngành công nghiệp gồm chế tạo máy, dầu mỏ và các ngành khai mỏ khác, lọc dầu, các sản phẩm dệt may và chế biến hóa chất. Nông nghiệp chiếm một phần ba nền kinh tế Azerbaijan. Đa số các nông trang nhà nước đã được tưới tiêu. Tại các vùng đất thấp, nông dân chủ yếu canh tác các loại cây bông, cây ăn quả, lúa gạo, chè, thuốc lá, và nhiều loại rau. Tằm được nuôi để sản xuất tơ tự nhiên cho ngành may mặc. Những người chăn thả gia súc Azerbaijan nuôi gia súc, cừu và dê gần các rặng núi. Hải sản, gồm trứng cá muối và cá khai thác từ Biển Caspia. Azerbaijan có nền kinh tế rất năng động, chủ yếu nhờ dầu khí, và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nước này tăng vọt 34.5% để đạt tới 20.6 tỷ dollar năm 2006, biến nước này thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong hai năm liên tục. GDP trên đầu người tăng 33% đạt $5,739.[57] Tăng trưởng GDP năm 2007 được dự đoán trong khoảng 18% tới 22%.[58][59]

Tính đến năm 2016, GDP của Azerbaijan đạt 35.686 USD, đứng thứ 96 thế giới và đứng thứ 32 châu Âu.

Nhân khẩu

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Nhân khẩu Azerbaijan

Tính đến tháng 3 năm 2022, dân số của Azerbaijan là 10.164.464 người, trong đó 52,9% sinh sống tại thành thị, 47.1% sinh sống tại nông thôn.[60] Tháng 1 năm 2019, tỷ lệ giới tính là 0,99 nam trên một nữ.[61] Năm 2011, mức tăng trưởng dân số là 0,85% so với 1,09% trên thế giới.[62] Một yếu tố quan trọng hạn chế tăng trưởng dân số là mức di cư cao; tỷ lệ di cư là −1,14/1.000 người vào năm 2011.[62]

Dân tộc

[sửa | sửa mã nguồn] Thành phần dân tộc tại Azerbaijan (điều tra dân số năm 2019)[63][64]
  1. Người Azerbaijan (94,8%)
  2. Người Lezgin (1,70%)
  3. Người Talysh (0,90%)
  4. Người Nga (0,70%)
  5. Người Avar (0,50%)
  6. Người Thổ Nhĩ Kỳ (0,30%)
  7. Người Tat (0,30%)
  8. Người Tatar (0,20%)
  9. Người Ukraina (0,10%)
  10. Người Tsakhur (0,10%)
  11. Dân tộc khác (0,40%)

91,6% dân số của Azerbaijan là người Azerbaijan. Sắc tộc đứng thứ hai là người Nga, chiếm khoảng 1.8% dân số, đa số người Nga đã di cư khỏi nước này từ khi độc lập. Nhiều người Dagestan sống quanh biên giới với Dagestan. Các sắc tộc chính là Lezgis, Avar và Tsakhur. Các nhóm nhỏ hơn gồm Budukh, Udi, Kryts và Khinalug hay Ketsh quanh làng Xinalıq.

Tại Azerbaijan cũng có nhiều nhóm sắc tộc nhỏ hơn khác như Georgians, Kurds, Talysh, Tatars và Ukraina. Một số người cho rằng số lượng người Talysh lớn hơn con số chính thức, bởi nhiều người trong số họ bị coi là người Azerbaijan.[cần dẫn nguồn] Người Do Thái miền núi (Mountain Jews) sống quanh thị trấn Quba ở miền bắc, cũng có mặt tại Dagestan. Nhiều người Do Thái đã di cư về Israel trong những năm gần đây, dù khuynh hướng này đã giảm bớt và thậm chí đảo ngược. Số lượng người Armenia khá lớn ở nước này đã di cư về Armenia và các nước khác với sự bùng nổ của cuộc xung đột Armenian-Azeri về vùng Nagorno-Karabakh. Trong giai đoạn này, Azerbaijan cũng tiếp nhận số lượng lớn người Azerbaijan bỏ chạy khỏi Armenia và Nagorno-Karabakh cũng như các tỉnh bị chiếm đóng Armenia. Rõ ràng tất cả người Armenia tại Azerbaijan hiện sống trong vùng ly khai Nagorno-Karabakh.

Ngôn ngữ

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ chính thức của Azerbaijan là tiếng Azerbaijan, một thành viên trong phân nhánh Oghuz của ngữ hệ Turk, và được khoảng 95% dân số sử dụng, cũng như khoảng một phần tư dân số Iran. Những ngôn ngữ có quan hệ gần nhất với tiếng Azerbaijan là tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Turkmen, và Gagauz. Vì chính sách ngôn ngữ của Liên Xô, tiếng Nga cũng được sử dụng nhiều như một ngôn ngữ thứ hai đối với dân cư thành thị.

Tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Tôn giáo Azerbaijan
Tôn giáo tại Azerbaijan[65]
Hồi giáo    97.4%
Kitô giáo    1.1%
Không tôn giáo    1.0%
Khác    0.5%

93,4% dân số Azerbaijan theo Hồi giáo và đa số họ thuộc dòng Twelver Shia. Số người này chiếm hơn 85% tín đồ Hồi giáo.[66] Các tôn giáo khác được nhiều người theo là Hồi giáo Sunni, Giáo hội Tông truyền Armenia (tại Nagorno-Karabakh), Giáo hội Chính thống giáo Nga, và nhiều nhánh Kitô giáo cũng như Hồi giáo khác. Người Do Thái miền núi tại Quba, cũng như hàng ngàn người Do Thái Ashkenazim tại Baku, theo Do Thái giáo. Theo truyền thống, các làng quanh Baku và vùng Lenkoran được coi là cứ địa của dòng Shi'ism, và tại một số vùng phía bắc nơi sinh sống của người Dagestan Sunni, phái Salafi được nhiều người theo. Phong tục dân gian Hồi giáo rất phổ biến, nhưng chưa có một phong trào Sufi được tổ chức.

Văn hoá

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Văn hoá Azerbaijan

Azerbaijan đã nộp hồ sơ xin đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2016, với Baku sẽ là thành phố tổ chức, nhưng cuối cùng thất bại trước Rio de Janeiro của Brasil.

Các nhạc công Azeri truyền thống

Âm nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]

Ẩm thực

[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến trúc

[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ thuật

[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao

[sửa | sửa mã nguồn]

Azerbaijan là một trong những nước mạnh truyền thống về cờ vua,[67] là chủ nhà của nhiều giải cờ vua quốc tế và là nước đoạt Giải vô địch cờ vua đồng đội châu Âu vào năm 2009, 2013 và 2017.[68][69][70] Những kỳ thủ cờ vua nổi tiếng của Azerbaijan bao gồm Teimour Radjabov, Shahriyar Mammadyarov, Vladimir Makogonov, Vugar Gashimov và cựu nhà vô địch cờ vua thế giới Garry Kasparov. Giải Tưởng niệm Gashimov được tổ chức tại Azerbaijan, một trong những giải cờ vua được xếp hạng cao nhất.[71] Backgammon cũng là một trò chơi phổ biến tại Azerbaijan,[72][73] người Azerbaijan đã phát triển một số biến thể riêng.[74]

Văn học

[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Đội tuyển bóng đá quốc gia Azerbaijan
  • Dân tộc Azerbaijani
  • Thông tin liên lạc ở Azerbaijan
  • Đối ngoại của Azerbaijan
  • Tình hình quân sự của Azerbaijan
  • Nagorno-Karabakh
  • Du lịch ở Azerbaijan
  • Giao thông vận tải ở Azerbaijan

Ghi chú

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ UK: /ˌæzərbˈɑːn, -ˈæn/ AZ-ər-by-JA(H)N, US: /ˌɑːzərbˈɑːn, ˌæz-/ A(H)Z-ər-by-JAHN;[9] tiếng Azerbaijani: Azərbaycan [ɑːzæɾbɑjˈdʒɑn]
  2. ^ tiếng Azerbaijani: Azərbaycan Respublikası [ɑːzæɾbɑjˈdʒɑnɾespublikɑˈsɯ]; Azerbaijan Republic is sometimes used in an official capacity.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "The Constitution of the Republic of Azerbaijan" (PDF). President of the Republic of Azerbaijan. The Official Website of the President of the Republic of Azerbaijan. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2020.
  2. ^ "Central Intelligence Agency". The World Factbook. Central Intelligence Agency. ngày 13 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020.
  3. ^ The State Statistical Committee of the Azerbaijan Republic, The ethnic composition of the population according to the 2009 census. azstat.org
  4. ^ a b LaPorte, Jody (2016). "Semi-presidentialism in Azerbaijan". Trong Elgie, Robert; Moestrup, Sophia (biên tập). Semi-Presidentialism in the Caucasus and Central Asia. London: Palgrave Macmillan (xuất bản ngày 15 tháng 5 năm 2016). tr. 91–117. doi:10.1057/978-1-137-38781-3_4. ISBN 978-1-137-38780-6. LCCN 2016939393. OCLC 6039791976. LaPorte examines the dynamics of semi-presidentialism in Azerbaijan. Azerbaijan's regime is a curious hybrid, in which semi-presidential institutions operate in the larger context of authoritarianism. The author compares formal Constitutional provisions with the practice of politics in the country, suggesting that formal and informal sources of authority come together to enhance the effective powers of the presidency. In addition to the considerable formal powers laid out in the Constitution, Azerbaijan's president also benefits from the support of the ruling party and informal family and patronage networks. LaPorte concludes by discussing the theoretical implications of this symbiosis between formal and informal institutions in Azerbaijan's semi-presidential regime.
  5. ^ "Azerbaijan". The World Factbook (ấn bản thứ 2026). Cơ quan Tình báo Trung ương. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2022. (Archived 2022 edition.)
  6. ^ a b c d "World Economic Outlook Database, April 2025 Edition. (Azerbaijan)". Quỹ Tiền tệ Quốc tế. tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2025.
  7. ^ "Gini Index coefficient". CIA World Factbook. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2021.
  8. ^ "Human Development Report 2025" (PDF). Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc. ngày 6 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  9. ^ Wells, John C. (2008). Longman Pronunciation Dictionary (ấn bản thứ 3). Longman. ISBN 978-1-4058-8118-0.; Roach, Peter (2011). Cambridge English Pronouncing Dictionary (ấn bản thứ 18). Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-15253-2.
  10. ^ "Azerbaijan: Membership of international groupings/organisations". British Foreign & Commonwealth Office. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2007.
  11. ^ Europa Publications Limited (1998). Eastern Europe and the Commonwealth of Independent States. Routledge. tr. 154. ISBN 978-1-85743-058-5.
  12. ^ "Human Rights Watch: Azerbaijan". Human Rights Watch. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2014.
  13. ^ "Azerbaijan". Encyclopædia Iranica. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua văn bản “Schippman, K.” (trợ giúp)
  14. ^ Historical Dictionary of Azerbaijan bởi Tadeusz Swietochowski và Brian C. Collins, ISBN 0-8108-3550-9 (truy cập 07 June 2006).
  15. ^ The Azerbaijani Turks: Power and Identity under Russian Rule by Audrey Altstadt, ISBN 0-8179-9182-4 (truy cập 07 June 2006).
  16. ^ FRAWARDIN YASHT ("Hymn to the Guardian Angels"). Biên dịch sang tiếng Anh bởi James Darmesteter (From Sacred Books of the East, American Edition, 1898.).
  17. ^ Azerbaijan: ethnicity and the struggle for power in Iran By Touradj Atabaki - p. 9
  18. ^ "Country Profile Azerbaijan". BBC. 2006. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007.
  19. ^ Thomas De Waal. Black Garden: Armenia And Azerbaijan Through Peace and War. New York: New York University Press, p. 240. ISBN 0-8147-1945-7
  20. ^ "Nov 2013 – Action against opposition". Keesing's Record of World Events. tháng 11 năm 2013. tr. 53026.
  21. ^ Welle (www.dw.com), Deutsche (ngày 11 tháng 4 năm 2018). "Azerbaijan's strongman Ilham Aliyev re-elected for fourth consecutive term | DW | 11.04.2018". Deutsche Welle.
  22. ^ "Fighting over Nagorno-Karabakh goes on despite US mediation". Associated Press. ngày 24 tháng 10 năm 2020.
  23. ^ "Fury and celebrations as Russia brokers peace deal to end Nagorno-Karabakh war". The Independent. ngày 11 tháng 11 năm 2020.
  24. ^ "Strong economic performance in Caucasus amid geopolitical turmoil". www.ebrd.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2023.
  25. ^ "Azerbaijan: The veneer of democracy is peeling off Baku's authoritarian political structure".
  26. ^ Haas, Devin (ngày 14 tháng 8 năm 2023). "Rural Azerbaijan risks falling further behind wealthy Baku". Emerging Europe (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2023.
  27. ^ Stocks, Miranda Patrucic, Ilya Lozovsky, Kelly Bloss, and Tom. "Azerbaijan's Ruling Aliyev Family and Their Associates Acquired Dozens of Prime London Properties Worth Nearly $700 Million". OCCRP (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2023.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  28. ^ Demourian, Avet (ngày 29 tháng 9 năm 2023). "More than 80% of Nagorno-Karabakh's population flees as future uncertain for those who remain". AP News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  29. ^ Geybulla, Arzu (tháng 2 năm 2023). "Uncensored journalism in censored times: Challenges of reporting on Azerbaijan". Journalism (bằng tiếng Anh). 24 (2): 313–327. doi:10.1177/14648849211036872. ISSN 1464-8849. S2CID 238548904.
  30. ^ Rookwood, Joel (ngày 3 tháng 4 năm 2022). "From sport-for-development to sports mega-events: conflict, authoritarian modernisation and statecraft in Azerbaijan". Sport in Society. 25 (4): 847–866. doi:10.1080/17430437.2021.2019710. S2CID 245453904.
  31. ^ Toepfl, Florian; Litvinenko, Anna (ngày 12 tháng 3 năm 2021). "Critically Commenting Publics as Authoritarian Input Institutions: How Citizens Comment Beneath their News in Azerbaijan, Russia, and Turkmenistan". Journalism Studies. 22 (4): 475–495. doi:10.1080/1461670X.2021.1882877. S2CID 232081024. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2023.
  32. ^ Lebanidze, Bidzina (2020). "Introduction". Russia, EU and the Post-Soviet Democratic Failure. Vergleichende Politikwissenschaft (bằng tiếng Anh). Springer Fachmedien. tr. 1–16. doi:10.1007/978-3-658-26446-8_1. ISBN 978-3-658-26446-8. S2CID 242740253. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2023.
  33. ^ Umudov, Agshin (2019). "Europeanization of Azerbaijan: Assessment of Normative Principles and Pragmatic Cooperation". Politik und Gesellschaft im Kaukasus: Eine unruhige Region zwischen Tradition und Transformation (bằng tiếng Đức). Springer Fachmedien. tr. 67–68. ISBN 978-3-658-26374-4.
  34. ^ Goyushov, Altay; Huseynli, Ilkin (2019). "Halted Democracy: Government Hijacking of the New Opposition in Azerbaijan". Politik und Gesellschaft im Kaukasus: Eine unruhige Region zwischen Tradition und Transformation (bằng tiếng Đức). Springer Fachmedien. tr. 27–51. doi:10.1007/978-3-658-26374-4_2. ISBN 978-3-658-26374-4. S2CID 211343684.
  35. ^ Bedford, Sofie; Vinatier, Laurent (tháng 10 năm 2019). "Resisting the Irresistible: 'Failed Opposition' in Azerbaijan and Belarus Revisited". Government and Opposition (bằng tiếng Anh). 54 (4): 686–714. doi:10.1017/gov.2017.33. ISSN 0017-257X. S2CID 149006054.
  36. ^ Kamilsoy, Najmin (ngày 1 tháng 9 năm 2023). "Unintended transformation? Organizational responses to regulative crackdown on civil society in Azerbaijan". Southeast European and Black Sea Studies. 25 (2): 229–248. doi:10.1080/14683857.2023.2243698. S2CID 261468959.
  37. ^ Bajek, Mateusz (2020). "The meaning behind Azerbaijan's forged elections". New Eastern Europe (bằng tiếng English). tr. 107–113. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2023.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  38. ^ Synovitz, Ron (ngày 7 tháng 2 năm 2020). "Azerbaijan's 'Equal Coverage' Law Stifles Media Reports On Elections". Radio Free Europe/Radio Liberty (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2023.
  39. ^ Kramer, Richard Kauzlarich, David J. (ngày 11 tháng 4 năm 2018). "Azerbaijan's Election Is a Farce". Foreign Policy. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2023.{{Chú thích báo}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  40. ^ McCallion, Chris (ngày 22 tháng 9 năm 2022). "A small war in Central Asia is a big problem for Joe Biden's narrative about taking on Russia and China". Insider.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2022.
  41. ^ "Freedom House: Azerbaijan". Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
  42. ^ "freedomhouse.org: Combined Average Ratings: Independent Countries 2009". Freedom House. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2023.
  43. ^ "Azerbaijan: Freedom in the World 2024 Country Report". Freedom House (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2024.
  44. ^ "HRW: Azerbaijan: Presidential Elections 2003 (Human Rights Watch Briefing Paper, October 13, 2003)". Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2023.
  45. ^ OSCE’s final report Lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2011 tại Wayback Machine, (PDF) Lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2009 tại Wayback Machine
  46. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên FCO
  47. ^ "Elections & Appointments – Human Rights Council". United Nations. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2009.
  48. ^ "Military expenditure (current USD) – Azerbaijan". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2022.
  49. ^ "Military expenditure (% of GDP) – Azerbaijan". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2022.
  50. ^ "Military expenditure (% of general government expenditure) – Azerbaijan". World Bank. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2022.
  51. ^ "Azerbaijan to start manufacturing arms, military hardware in 2008". BBC Monitoring Service. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2008.
  52. ^ "Azerbaijan to produce tanks, aviation bombs and pilotless vehicles in 2009". panarmenian. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2008.
  53. ^ "Uzeir Jafarov: "Azerbaijan will be unable to produce competitive military technique in the next five years"". Today.Az. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2008.
  54. ^ "President Ilham Aliyev attends the openings of several defense-related facilities". Today.Az. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2011.
  55. ^ "The State Statistical Committee of the Republic of Azerbaijan, Administrative and territorial units of Azerbaijan Republic". Azstat.org. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  56. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cia2
  57. ^ "Azerbaijan reports 34.5% annual GDP growth". RIA Novosti. ngày 19 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007.
  58. ^ "UNDP Azerbaijan Development Bulletin". United Nations Development Programme. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |tháng= (trợ giúp)
  59. ^ "Oil and Gas Powering Double Digit Growth for Azerbaijan". Asian Development Bank. ngày 5 tháng 4 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2007.
  60. ^ "Population of Azerbaijan revealed". Report. ngày 15 tháng 4 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2022.
  61. ^ "Azərbaycanda demoqrafik vəziyyət". State Statistical Committee of Azerbaijan (bằng tiếng Azerbaijan). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2019.
  62. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cia
  63. ^ Samadov (www.anarsamadov.net), Anar. "Azərbaycanın əhalisi". Azərbaycan Respublikasının Dövlət Statistika Komitəsi.
  64. ^ "Ethnic composition of Azerbaijan 2019". pop-stat.mashke.org.
  65. ^ "Berkley Center for Religion Peace and World Affairs". Georgetown University. tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2015.
  66. ^ "Azerbaijan". Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015.
  67. ^ "Chess with Luke McShane". Daily Express. ngày 17 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014.
  68. ^ "Azerbaijan's chess team became European champion". Today.Az. ngày 31 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
  69. ^ "Azerbaijan, Russia take gold at the European Team Chess Championship". Chessdom. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
  70. ^ "World Chess Champion: Zeynab Mammadyarova". Azerbaijan International. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
  71. ^ Crowther, Mark (ngày 21 tháng 4 năm 2014). "Carlsen beats Nakamura for perfect 2/2 start in the Gashimov Memorial". The Week in Chess. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2014.
  72. ^ История нард (bằng tiếng Nga). 1-Kalyan. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2007.
  73. ^ "Нарды – игра, требующая сноровки и удачи". inforing.net (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2009.
  74. ^ История Нард (bằng tiếng Nga). Nards.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Forrest, Brett (28 tháng 11 năm 2005). "Over a Barrel in Baku". Fortune, pp. 54–60.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
Tìm hiểu thêm vềAzerbaijantại các dự án liên quan
Tìm kiếm Wiktionary Từ điển từ Wiktionary
Tìm kiếm Commons Tập tin phương tiện từ Commons
Tìm kiếm Wikinews Tin tức từ Wikinews
Tìm kiếm Wikiquote Danh ngôn từ Wikiquote
Tìm kiếm Wikisource Văn kiện từ Wikisource
Tìm kiếm Wikibooks Tủ sách giáo khoa từ Wikibooks
Tìm kiếm Wikiversity Tài nguyên học tập từ Wikiversity
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Azerbaijan.
  • Xem vị trí trên Google Maps.
  • Mục “Azerbaijan” trên trang của CIA World Factbook.
  • BBC Country Profile: Azerbaijan
  • Azerbaijan Portal
  • Library of Congress Portals to the World: Azerbaijan directory category
  • Azerbaijan from A to Z Lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2011 tại Wayback Machine
  • Azerbaijan International world's largest website about Azerbaijan
  • Virtual Azerbaijan Republic
  • Baku Today Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2019 tại Wayback Machine
  • Independent newspaper Azadliq
  • State Statistical Committee of the Azerbaijan Republic
  • United Nations Office in Azerbaijan with a country report Lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2007 tại Wayback Machine
  • IFEX: Press Freedom in Azerbaijan Lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2007 tại Wayback Machine
  • Amnesty International on Human Rights in Azerbaidjan
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn Sửa dữ liệu tại Wikidata
Quốc tế
  • ISNI
  • VIAF
  • GND
  • FAST
  • WorldCat
Quốc gia
  • Hoa Kỳ
  • Pháp
  • BnF data
  • Nhật Bản
  • Cộng hòa Séc
  • Tây Ban Nha
  • Israel
Địa lý
  • MusicBrainz area
Học thuật
  • CiNii
Nghệ sĩ
  • KulturNav
Nhân vật
  • UK Parliament
Khác
  • IdRef
  • Từ điển lịch sử Thụy Sĩ
  • NARA
  • Encyclopedia of Modern Ukraine
  • İslâm Ansiklopedisi
  • Yale LUX
  • x
  • t
  • s
Phân cấp hành chính Azerbaijan
Các quận (Raion)
Flag of Azerbaijan
Flag of Azerbaijan

Absheron · Agdam · Agdash · Aghjabadi · Agstafa · Agsu · Astara · Babek · Balakan · Barda · Beylagan · Bilasuvar · Dashkasan · Fizuli · Gadabay · Goranboy · Goychay · Goygol · Hajigabul · Imishli · Ismailli · Jabrayil · Jalilabad · Julfa · Kalbajar · Kangarli · Khachmaz · Khizi · Khojali · Khojavend · Kurdamir · Lachin · Lankaran · Lerik · Masally · Neftchala · Oghuz · Ordubad · Qabala · Qakh · Qazakh · Gobustan · Quba · Qubadli · Qusar · Saatly · Sabirabad · Sadarak · Salyan · Samukh · Shabran · Shakhbuz · Shaki · Shamakhi · Shamkir · Sharur · Shusha · Siazan · Tartar · Tovuz · Ujar · Yardymli · Yevlakh · Zangilan · Zaqatala · Zardab

Thành phố

Baku · Ganja · Khankendi · Lankaran · Mingachevir · Naftalan · Thành phố Nakhchivan · Shaki · Shirvan · Sumqayit · Shusha · Yevlakh

Tên in nghiêng là khu vực thuộc Cộng hòa tự trị Nakhchivan
 Vị trí địa lý
  • x
  • t
  • s
Quốc gia và lãnh thổ tại Châu Á
Quốc gia có chủ quyền
  • Afghanistan
  • Ai Cập
  • Ả Rập Xê Út
  • Armenia
  • Azerbaijan
  • Ấn Độ
  • Bahrain
  • Bangladesh
  • Bhutan
  • Brunei
  • Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
  • Campuchia
  • Đông Timor
  • Gruzia
  • Hàn Quốc
  • Indonesia
  • Iran
  • Iraq
  • Israel
  • Jordan
  • Kazakhstan
  • Kuwait
  • Kyrgyzstan
  • Lào
  • Liban
  • Malaysia
  • Maldives
  • Mông Cổ
  • Myanmar
  • Nepal
  • Nga
  • Nhật Bản
  • Oman
  • Pakistan
  • Philippines
  • Qatar
  • Singapore
  • Síp
  • Sri Lanka
  • Syria
  • Tajikistan
  • Thái Lan
  • Thổ Nhĩ Kỳ
  • Turkmenistan
  • Bắc Triều Tiên
  • Trung Quốc
  • Uzbekistan
  • Việt Nam
  • Yemen
Quốc gia được công nhận hạn chế
  • Abkhazia
  • Bắc Síp
  • Nam Ossetia
  • Palestine
  • Đài Loan
Lãnh thổ phụ thuộc và Đặc khu hành chính
Anh
  • Akrotiri và Dhekelia
  • Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh
Trung Quốc
  • Hồng Kông
  • Ma Cao
Úc
  • Đảo Giáng Sinh
  • Quần đảo Cocos (Keeling)
  • x
  • t
  • s
Các quốc gia có chủ quyền và lãnh thổ phụ thuộc tại Châu Âu
Quốc gia có chủ quyền
  • Albania
  • Andorra
  • Anh
  • Armenia
  • Áo
  • Azerbaijan
  • Ba Lan
  • Bắc Macedonia
  • Belarus
  • Bỉ
  • Bồ Đào Nha
  • Bosna và Hercegovina
  • Bulgaria
  • Croatia
  • Đan Mạch
  • Đức
  • Estonia
  • Gruzia
  • Hà Lan
  • Hungary
  • Hy Lạp
  • Iceland
  • Ireland
  • Kazakhstan
  • Latvia
  • Liechtenstein
  • Litva
  • Luxembourg
  • Malta
  • Moldova
  • Monaco
  • Montenegro
  • Na Uy
  • Nga
  • România
  • Pháp
  • Phần Lan
  • San Marino
  • Serbia
  • Séc
  • Síp
  • Slovakia
  • Slovenia
  • Tây Ban Nha
  • Thổ Nhĩ Kỳ
  • Thụy Điển
  • Thụy Sĩ
  • Ukraina
  • Vatican
  • Ý
Quốc gia được công nhận hạn chế
  • Abkhazia
  • Bắc Síp
  • Kosovo
  • Nam Ossetia
  • Transnistria
Lãnh thổ phụ thuộc
Đan Mạch
  • Quần đảo Faroe
Phần Lan
  • Åland
Anh
  • Akrotiri và Dhekelia
  • Đảo Man
  • Gibraltar
  • Guernsey
  • Jersey
Thành viên tổ chức quốc tế
  • x
  • t
  • s
Hội đồng châu Âu
  • List of meetings
    • '98
    • '99
    • '00
    • '01
    • '02
    • '03
    • '04 (Jan–Apr)
    • '04 (May–Dec)
    • '05
    • '06
    • '07
    • '08
    • '09
    • '10
    • '11
    • '12
    • '13 (Jan–Jun)
    • '13 (Jul–Dec)
    • '14
    • '15
    • '16
    • '17
    • '18
    • '19
    • '20
    • '21
  • Liên minh châu Âu Charles Michel, Chủ tịch Hội đồng châu Âu
  • Áo Nehammer
  • Bỉ De Croo
  • Bulgaria Yanev
  • Croatia Plenković
  • Síp Anastasiades
  • Séc Babiš
  • Đan Mạch Frederiksen
  • Estonia Kallas
  • Phần Lan Marin
  • Pháp Macron
  • Đức Scholz
  • Hy Lạp Mitsotakis
  • Hungary Orbán
  • Cộng hòa Ireland Martin
  • Ý Meloni
  • Latvia Siliņa
  • Litva Nausėda
  • Luxembourg Bettel
  • Malta Abela
  • Hà Lan Rutte
  • Ba Lan Tusk
  • Bồ Đào Nha Costa
  • România Iohannis
  • Slovakia Heger
  • Slovenia Janša
  • Tây Ban Nha Sánchez
  • Thụy Điển Andersson
Chủ đề * Thể loại * Hình ảnh
  • x
  • t
  • s
Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS)
Armenia • Azerbaijan • Belarus • Kazakhstan • Kyrgyzstan • Nga • Tajikistan • Uzbekistan • Moldova Thành viên liên kết: Turkmenistan • Cựu thành viên: Gruzia (1993-2009) • Ukraina (1994-2014)CIS flag
  • x
  • t
  • s
Tổ chức Hợp tác Hồi giáo
Thành viênAfghanistan • Albania • Algérie • Azerbaijan • Bahrain • Bangladesh • Bénin • Burkina Faso • Brunei • Cameroon • Tchad • Comoros • Bờ Biển Ngà • Djibouti • Ai Cập • Gabon • Gambia • Guinée • Guiné-Bissau • Guyana • Indonesia • Iran • Iraq • Jordan • Kuwait • Kazakhstan • Kyrgyzstan • Liban • Libya • Maldives • Malaysia • Mali • Maroc • Mauritanie • Mozambique • Niger • Nigeria • Oman • Pakistan • Palestine • Qatar • Ả Rập Xê Út • Sénégal • Sierra Leone • Somalia • Sudan • Suriname • Syria • Tajikistan • Thổ Nhĩ Kỳ • Tunisia • Togo • Turkmenistan • Uganda • Uzbekistan • Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất • Yemen
Quan sát viên
Quốc gia và vùng lãnh thổBosna và Hercegovina • Cộng hòa Trung Phi • Nga • Thái Lan • Bắc Síp
Cộng đồng Hồi giáoMặt trận Giải phóng Hồi giáo Moro
Tổ chức quốc tếTổ chức Hợp tác Kinh tế • Liên minh châu Phi • Liên đoàn Ả Rập • Phong trào không liên kết • Liên Hợp Quốc

Từ khóa » Cộng Hoà Azerbaijan