Bài Chòi - Thú Chơi đậm Chất Dân Gian ở Quảng Trị

Cứ mỗi độ xuân về, tiết trời mát mẻ, dễ chịu, cây cối đâm chồi, nảy lộc, nở hoa, nhịp sống con người như thăng hoa gấp bội phần. Bởi, mùa xuân - mùa lễ hội con người lại được tìm về cội nguồn, tổ tiên, tìm về lịch sử và truyền thống dân tộc qua những hình thức của lễ hội và sinh hoạt văn hóa dân gian.

Trong sâu thẳm kí ức của người miền Trung, thú chơi dân gian bài chòi là không thể thiếu trong những ngày “Xuân thu nhị kỳ”. Sức hấp dẫn của trò chơi mang đậm chất dân gian này đã thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân qua những nhịp trống giục giã, lời hô hát rộn ràng tạo nên không khí náo nhiệt, vui nhộn của tín hiệu năm mới đầy sức sống, thuận hòa. Qua lễ hội bài chòi, người dân các làng quê có dịp cùng nhau thưởng thức các làn điệu dân ca ngọt ngào, dí dỏm, mang đậm bản chất thôn quê mộc mạc. Mỗi con bài được họa tiết cách điệu theo phong cách dân gian.

Thú chơi bài chòi nghĩa là đánh bài trên chòi, hoặc nói một cách khác là ngồi trên chòi đánh bài. Một cách đánh bài rất văn nghệ, chỉ chú ý đến vui xuân, đầu năm lộc mới, việc ăn thua không màng đến nên thu hút nhiều người đến chơi và thể hiện tính quần chúng rõ nét.

Bài chòi sử dụng nguyên cả bộ bài tới 30 quân gồm: Nhất trò, nhị đấu, tam quăn, thái tử, trạng hai, trạng ba, ông ầm, con xe, con gà, con gối, sáu tiền, tám tiền, sáu giây, tám giây, lá liễu, cữu sại, bạch tuyết…

Nơi đánh bài chòi: Chọn nơi cao ráo, rộng rãi, ở gần trung tâm làng xóm, có cây cao bóng mát càng tốt.

Chòi thường làm bằng tre hay bằng gỗ và chia thành 11 cái (10 chòi quân và 1 chòi cái) hoặc 7 cái (6 chòi quân và 1 chòi cái).

Chòi còn có kích thước vuông cạnh 1,5 m, cao gần 3 m, có sàn lót ván hoặc sạp tre cách mặt đất khoảng 1,5 m, có thang lên xuống, có mái che được mưa nắng, được trang trí đẹp đẽ, gọn gàng. Mỗi chòi được trang bị một mõ tre (cưa ống tre để nguyên mắt tre 2 đầu, trổ rãnh để đánh vào phát ra âm thanh báo hiệu). Chòi nào cũng giống nhau từ trang trí đến hình dáng. Mặt chính là rạp Ban tổ chức, chính diện là chòi cái, 10 chòi con vây kín đều cách nhau. Tất cả mọi người trong ban tổ chức mặc trang phục đẹp: người chạy bài chòi như lính xưa trong các vở tuồng cổ, ông cái như vị tướng ra trận, nhạc công áo dài đen khăn xếp…

Người chơi: Bất kỳ đối tượng nào đàn ông hay đàn bà, trai gái đều có quyền chơi. Mỗi ván bài trên chòi có từ 1 đến 2 người chơi.

Thể lệ chơi: Ban tổ chức bán phiếu (số tiền tùy thuộc vào ban tổ chức quy định). Phần thưởng phát 10 suất, giữ lại một suất chi phí cho ban tổ chức.

Vào cuộc, một người trong ban tổ chức giữ chân chạy cờ, gióng một hồi trống, dõng dạc mời các chân bài lên chòi, cùng lúc phường bát âm gồm kèn, trống, đàn nhị, sênh,… cử một bản hòa tấu mở đầu cuộc chơi. Người chạy cờ buông dùi trống, vội vàng đem cờ ngân, lá cờ thay thế cho số tiền đặt cược trong một hội, đi bán cho các chân bài ở các chòi con. Bán xong cờ ngân đến lượt hai người phụ việc mang một ống tre đựng các con bài đến các chòi để mời chủ chòi lấy 5 con bài. Khi chơi bài chòi, người ta chỉ dùng 56 con trong bộ bài tới, không sử dụng 2 cặp bạch tuyếtnọc đượng. Một con bài được dán vào một thẻ tre có phần trên to và đẹp, phần dưới nhỏ và tròn. Mỗi chòi, kể cả chòi trung ương đều được 5 thẻ, còn một thẻ giao cho người chạy cờ dùng để “đi chợ”, mở đầu cuộc chơi. Các con bài đã phát xong, người chạy cờ đằng hắng một tiếng rồi hô: “Hai bên lằng lặng mà nghe con bài đi chợ: con…”. Anh ta xướng tên con bài “đi chợ” bằng tiếng ngân dài chen lẫn tiếng trống gõ, tiếng đàn cò réo rắt. Người có con bài “đi chợ” vội vã hô lên: “có đây”, rồi giao con bài ấy cho tay chạy cờ kèm với một con bài khác trong số năm con bài họ nhận được khi mua cờ ngân. Tay chạy cờ nhận hai con bài, rồi cất giọng hò về con bài mới. Trò chơi tiếp diễn và chân bài nào hết bài đầu tiên thì dành phần thắng. Họ vội vàng gõ lên cái mõ tre treo cạnh chòi để báo hiệu, đồng thời la lớn: “Tới rồi! Tới rồi!” Người chạy cờ vội vã mang đến cho chòi thắng một lá cờ đuôi nheo, dắt lên mái chòi, để cho nó phần phật bay trong làn gió xuân ấm áp.

Trong ngày đầu năm mới, ở ván đầu tiên, nếu chòi nào giành phần thắng thì được thưởng một bộ quần áo. Rồi lại có tiếng trống bắt đầu ván khác. Người ta chỉ chơi mười ván là xong một hội. Ván thứ mười là một phần thưởng cho ban tổ chức. Kết thúc một hội, các chân bài mang các lá cờ ngân đến bán lại cho chòi “trung ương” để lấy tiền. Được một lá cờ coi như huề vốn. Hai, ba cờ trở lên coi như vận đỏ đầu năm. Cái hấp dẫn của thú chơi bài chòi là giọng hò của tay chạy cờ. Khi hò bài thai thường sử dụng dân ca vùng đó như hò giã gạo, hò đập bắp, hò mái nhì, mái đẩy, hò ru con thậm chí có cả hò, vè hoặc sử dụng những câu chuyện cổ như Phạm Công - Cúc Hoa, Lưu Bình - Dương Lễ, Tống Trân - Cúc Hoa… và tài ứng khẩu của anh Hiệu khi bắt con bài. Đó phải là một người thật vui, thật tếu, giỏi ứng đối mới điều khiển nổi trò vui này. Anh ta là linh hồn của cuộc vui: vừa là người bày trò, kiêm luôn diễn viên hát tuồng để mua vui cho mọi người. Vì lẽ đó mà người đến dự bài chòi, không phải để ăn thua trong chuyện bài bạc mà cốt để vui chơi giải trí, để nghe tiếng hò dí dỏm làm không khí ngày tết thêm phần vui nhộn.

Theo nghiên cứu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, ở một số làng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị như: làng Tùng Luật - Vĩnh Giang và làng Đơn Duệ - Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Linh; làng Ngô Xá Tây - Triệu Trung, huyện Triệu Phong; làng Hà Thượng - thị trấn Gio Linh, huyện Gio Linh đều có 3 cách chơi cơ bản sau:

Cách thứ nhất: Tại làng Hà Thượng - Thị trấn Gio Linh - Huyện Gio Linh

Dựng 10 chòi con, chia làm 2 phía, 1 chòi ở chính giữa là chòi trung tâm hay còn gọi là chòi cái. Bộ bài chơi sơn 2 màu 30 quân xanh và 30 quân đỏ.

Theo quy định của ban tổ chức, hội chơi được chia làm 2 phe (mỗi phe 5 chòi ở cùng một phía). Sau đó người chơi mua vé để lên chòi chơi, trên vé có đánh số chòi, người chơi mua trúng chòi nào thì lên chòi đó. Khi người chơi đã lên đủ trên các chòi thì hai người chạy bài/ hô thai tiến hành phát bài cho 10 chòi quân, mỗi chòi được chọn ngẫu nhiên 3 con bài, 30 con bài còn lại dốc ngược chỉ chừa lại phần chân đặt trong ống tre ở chòi cái.

Sau khi các chòi đã chọn xong bài, người chạy bài/ hô bài thai bước đến ống tre đựng cờ ở chòi cái, xóc đi xóc lại rồi chậm rãi rút từng con bài. Mỗi lần rút bài người chạy bài/ hô câu thai tên con bài. Chòi nào có đúng quân bài đó thì người chơi cầm mõ gõ lên ba tiếng cắc, cắc, cắc hoặc xướng lên "ăn rồi" thì người chạy bài/ hô bài thai sẽ sai người phụ việc đến trao cho một cây cờ đuôi nheo nhỏ. Đến lúc chòi con nào ăn đủ 3 con (được 3 cờ) thì hô "tới" và gõ một hồi mõ kéo dài, lúc này âm thanh của các nhạc cụ vang lên báo hiệu có người thắng/tới. Thông thường cuộc chơi từ 8 đến 10 hiệp là hết một ván bài chòi, lưu lại một hiệp/ván cho ban tổ chức dùng để chi phí và sau đó tiếp tục kẻ bước xuống người bước lên chòi chơi ván khác.

Cách thứ hai:Tại làng Đơn Duệ - Vĩnh Hòa - Huyện Vĩnh Linh dựng 10 chòi và chia làm 2 phe.

Ban tổ chức phân bộ bài thành 2 phần, mỗi phần 30 con gọi là quân xanh - quân đỏ tương ứng với hai dãy chòi hai bên. Mỗi bên có một người chạy bài. Khi ban tổ chức xáo bài xong thì người chạy bài của mỗi bên cầm phần bài của mình đến các chòi, mỗi chòi được quyền rút ngẫu nhiên 5 con bài, riêng chòi trung tâm (chòi cái) được phát 6 con bài (mỗi người chạy bài phát 3 con) đội nào phát bài chậm thì con cuối cùng của đội đó làm con đi chợ. Bốn con còn lại được giữ ở chòi cái nhưng phải là 2 cặp bài bất kỳ. Các chòi con mỗi lần đi hai con, con cuối cùng dùng để "chực tới" (riêng 3 con bài tử, ầmmỏ đỏ không được “chực”). Khi chòi nào thắng cuộc thì dùng mõ để báo hiệu.

Cách thứ ba: Tại làng Ngô Xá Tây - Triệu Trung - huyện Triệu Phong.

Dựng 11 chòi con (chòi quân) được bố trí theo hình chữ U, 1 chòi cái (chòi chỉ huy giành cho ban tổ chức và ban nhạc cổ) nằm đối diện.

Ban tổ chức phân bộ bài thành 11 phần bất kỳ, mỗi phần 5 con gọi là tay bài, 01 con để người chạy bài/ người hô thai đi chợ, còn lại 4 con nhưng phải là 2 cặp do ban tổ chức giữ lại (có thể là 2 cặp bài bất kỳ trong bộ bài tới). Khi ban tổ chức thông báo vào cuộc chơi thì người chạy bài mang các tay bài đến các chòi, mỗi chòi được quyền rút ngẫu nhiên 1 tay bài và để lại một con làm con đi chợ. Các chòi con mỗi lần đi hai con, con cuối cùng dùng để "chực tới". Khi chòi nào thắng cuộc thì dùng mõ để báo hiệu (mỗi lần đi thì đánh một hồi 3 tiếng, nếu thắng thì đánh một hồi dài).

Điều đặc biệt khác với các làng quê có tục chơi bài chòi tại Quảng Trị, ở Ngô Xá Tây còn bảo tồn được những câu hò thai về các con bài trong bộ bài tới. Xin nêu lên đây một vài câu hò trong hội bài chòi ở làng Ngô Xá Tây.

Lời mời đi chợ:Đầu năm ta thử hên xui/ Leo lên chòi bắc ta thử vận may/ Cũng là góp tiếng pháo tay/ Cho hội bài chòi làng được rộn vang/ Mười một chòi đã sẵn sàng/ Để nghe con sáu tiền mở hàng đầu năm.

Lời mời chơi bài:Mai vàng nở rộ/ Báo hiệu Xuân sang/ Dân làng bè bạn/ Khán giả gần xa/ Vận may có sẵn đây mà/ Ghé vô nhận lấy chậm là tuột tay/ Nhanh chân chọn một chòi bài/ Vận may ta đến hái lộc đầu xuân.

Một số câu hò về các con bài

HAI (Trạng hai): Biết rằng ai có mong ai/ Sao trời lại n rẽ hai thế này?/ Có sao Hôm mà chẳng có sao Mai/ Hai đàng hai đứa, tình phai, hoa tàn.

BA (Trạng ba): Vợ đôi, chồng một là gì/ Một người một bụng ở thì sao nên.

XƠ: Giặc về ly tán đôi đàng (đường)/ Bom rơi đạn nổ xóm làng xác xơ. Hoặc: Một năm ông chú không lo/ Chỉ lo một chút mụ O dọn mồm.

DỌN: Mụ O dọn mỏ không chi/ Ông chú lằng lặng có khi mất chồng.

SÁU TIỀN: Sáu tiền mua một buồng cau/ Anh lo đem tới mau mau em chờ.

TÁM TIỀN: Thân em như dải lụa đào/ Nếu mà đem bán anh trao tám tiền.

GIÓNG: Anh đi đánh giặc ngoài biên/ Ở nhà triêng gióng vợ hiền lo toan.

NGỦ: Tham chi cờ bạc anh ơi/ Đêm đi ngày ngủ mọi người cười cho.

ÔNG ẦM: Hai tay bưng đọi mắm dần/ Vừa đi vừa húp té ầm xuống ao. Hoặc: Nửa đêm gà gáy le te/ Muốn đi rón rén lại đụng nghe cái ầm.

GIÀY: Vợ khôn chồng được đi giày/ Con khôn cha mẹ mong ngày cậy trông.

TRÒ: Học cho danh phận rõ ràng/ Học để xây dựng xóm làng văn minh.

TỬ: Lắng nghe trống nhạc vang xa/ Của ông thầy tử đưa ma đầu làng.

GỐI: Cổ tay em trắng lại tròn/ Em để cho ai gối mà mòn một bên. Hoặc: Đêm nằm nghe vạc kêu sương/ Xuân về lòng nhớ người thương chung tình.

CẲNG HƯƠNG (Tứ cẳng): Một hai bạn nói rằng không/ Dấu chân ai đứng bờ sông hai người/ Hai người thì có bốn chân/ Ấy là tứ cẳng bớ anh bớ nàng.

RÚN (Lủng bụng): Gió sao gió mát sau lưng/ Bụng sao lại nhớ người dưng thế này.

HỘT (Sáu hột): Đói lòng ăn hột chà là/ Để cơm nuôi mẹ nuôi cha xế chiều. Hoặc: Thân em như giọt mưa sa/ Hột rơi xuống giấy hột rơi ruộng lầy.

TÁM GIÂY: Vì đâu cha đánh mẹ treo/ Đứt giây rơi xuống cũng theo đến cùng.

MÕ: Coi cóc mõ đánh đầu làng/ Bà con thức dậy lên đàng đấu tranh.

NGHÈO: Tại anh không chịu làm ăn/ Rượu chè cờ bạc ruộng đồng không lo/ Xóm làng ai cũng nhỏ to/ Không mau sửa đổi để cho đói nghèo.

GÀ: Khôn ngoan đối đáp người ngoài/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Hoặc: Đầu năm cúng lễ giữa trời/ Thương con gà trống hạ thời mâm cơm.

ĐƯỢNG (Nọc đượng): Đò em đưa đón bộ hành/ Ghe con một chiếc tứ anh trọn bề/ Trải qua mưa nắng dầm dề/ Quanh năm chèo chóng tứ bề sống xô/ Tiếng ai văng vẳng gọi đò/ Mau mau nhổ nọc chèo qua đón người.

VOI (Truông rú): Ai vô sở thú mà coi/ Coi con cọp xám cùng voi đánh quyền. Hoặc: Bà con ngẫm nghĩ mà coi/ Ai đời bọn họ mà đưa con voi chầu trời…

Thú chơi bài chòi mang nhiều nét văn hóa, văn nghệ được số đông quần chúng và nghệ nhân yêu thích. Ngoài trò chơi mang tính giải trí đầy thú vị, người xem, người chơi bài chòi còn có dịp trổ tài với các làn điệu dân ca hò, vè trong dịp đầu xuân đậm chất hồn quê thiết tha, sâu lắng. Hy vọng bài chòi Quảng Trị, loại hình văn hóa dân gian độc đáo của ông cha xưa còn lại đến ngày nay sẽ được bảo tồn và hòa nhập cùng văn hóa nhân loại.

L.T.T.H

Từ khóa » Cờ Chòi