Bài Học 131: 3 Nê Phi 23

Sách Học Sách Mặc Môn dành cho Giảng Viên Lớp Giáo Lý

  • Mục Lục

  • trang tựa

  • Lời Giới Thiệu Sách Học Sách Mặc Môn dành cho Giảng Viên Lớp Giáo Lý

  • Bài Học 1–5

    • Bài Học 1: Vai Trò của Học Viên

    • Bài Học số 2: Học Thánh Thư

    • Bài Học 3: Kế Hoạch Cứu Rỗi

    • Bài Học 4: Trang Tựa, Lời Giới Thiệu và Chứng Ngôn của Các Nhân Chứng

    • Bài Học 5: Phần Khái Quát của Sách Mặc Môn 

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: Học Thánh Thư–Phần Khái Quát của Sách Mặc Môn (Đơn Vị 1)

  • 1 Nê Phi 

    • Bài Học 6: 1 Nê Phi 1

    • Bài Học 7: 1 Nê Phi 2

    • Bài Học 8: 1 Nê Phi 3–4

    • Bài Học 9: 1 Nê Phi 5

    • Bài Học 10: 1 Nê Phi 6 và 9

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 1 Nê Phi 1–6; 9 (Đơn Vị 2)

    • Bài Học 11: 1 Nê Phi 7

    • Bài Học 12: 1 Nê Phi 8

    • Bài Học 13: 1 Nê Phi 10–11

    • Bài Học 14: 1 Nê Phi 12–13

    • Bài Học 15: 1 Nê Phi 14

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 1 Nê Phi 7–14 (Đơn Vị 3)

    • Bài Học 16: 1 Nê Phi 15

    • Bài Học 17: 1 Nê Phi 16

    • Bài Học 18: 1 Nê Phi 17

    • Bài Học 19: 1 Nê Phi 18

    • Bài Học 20: 1 Nê Phi 19

    • Bài Học Tự Học ở Nhà 1 Nê Phi 15–19 (Đơn Vị 4)

    • Bài Học 21: 1 Nê Phi 20–22

  • 2 Nê Phi

    • Bài Học 22: 2 Nê Phi 1

    • Bài Học 23: 2 Nê Phi 2 (Phần 1)

    • Bài Học 24: 2 Nê Phi 2 (Phần 2)

    • Bài Học 25: 2 Nê Phi 3

    • Đơn Vị 5 Tự Học ở Nhà: 1 Nê Phi 20–2 Nê Phi 3 (Đơn Vị 5)

    • Bài Học 26: 2 Nê Phi 4

    • Bài Học 27: 2 Nê Phi 5

    • Bài Học 28: 2 Nê Phi 6–8

    • Bài Học 29: 2 Nê Phi 9:1–26

    • Bài Học 30: 2 Nê Phi 9:27–54 và 2 Nê Phi 10

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 2 Nê Phi 4–10 (Đơn Vị 6)

    • Bài Học 31: 2 Nê Phi 11 và 16 

    • Bài Học 32: 2 Nê Phi 12–15

    • Bài Học 33: 2 Nê Phi 17–20

    • Bài Học 34: 2 Nê Phi 21–24

    • Bài Học 35: 2 Nê Phi 25

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 2 Nê Phi 11–25 (Đơn Vị 7)

    • Bài Học 36: 2 Nê Phi 26

    • Bài Học 37: 2 Nê Phi 27

    • Bài Học 38: 2 Nê Phi 28

    • Bài học 39: 2 Nê Phi 29–30

    • Bài Học 40: 2 Nê Phi 31

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 2 Nê Phi 26–31 (Đơn Vị 8)

    • Bài Học 41: 2 Nê Phi 32

    • Bài Học 42: 2 Nê Phi 33

  • Gia Cốp

    • Bài Học 43: Gia Cốp 1–Gia Cốp 2:11

    • Bài Học 44: Gia Cốp 2:12–35

    • Bài Học 45: Gia Cốp 3–4

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 2 Nê Phi 32–Gia Cốp 4 (Đơn Vị 9)

    • Bài Học 46: Gia Cốp 5:1–51

    • Bài Học 47: Gia Cốp 5:52–77; Gia Cốp 6

    • Bài Học 48: Gia Cốp 7

  • Ê Nót

    • Bài Học 49: Ê Nót

  • Gia Rôm

  • Ôm Ni

    • Bài Học 50: Gia Rôm và Ôm Ni

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: Gia Cốp 5–Ôm Ni (Đơn Vị 10)

  • Lời Mặc Môn

  • Mô Si A

    • Bài Học 51: Lời Mặc Môn–Mô Si A 1

    • Bài Học 52: Mô Si A 2

    • Bài Học 53: Mô Si A 3

    • Bài Học 54: Mô Si A 4

    • Bài Học 55: Mô Si A 5–6

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: Lời Mặc Môn–Mô Si A 6 (Đơn Vị 11)

    • Bài Học 56: Mô Si A 7–8

    • Bài Học 57: Mô Si A 9–10

    • Bài Học 58: Mô Si A 11–12:17

    • Bài Học 59: Mô Si A 12:18–14:12

    • Bài Học 60: Mô Si A 15–17

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: Mô Si A 7–17 (Đơn Vị 12)

    • Bài Học 61: Mô Si A 18

    • Bài học 62: Mô Si A 19–20

    • Bài học 63: Mô Si A 21–22

    • Bài Học 64: Mô Si A 23–24

    • Bài Học 65: Mô Si A 25

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: Mô Si A 18–25 (Đơn Vị 13)

    • Bài Học 66: Mô Si A 26

    • Bài Học 67: Mô Si A 27

    • Bài Học 68: Mô Si A 28–29

  • An Ma

    • Bài Học 69: An Ma 1–2

    • Bài Học 70: An Ma 3–4

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: Mô Si A 26–An Ma 4 (Đơn Vị 14)

    • Bài Học 71: An Ma 5:1–36

    • Bài Học 72: An Ma 5:37–62

    • Bài Học 73: An Ma 6–7

    • Bài Học 74: An Ma 8

    • Bài Học 75: An Ma 9–10

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: An Ma 5–10 (Đơn Vị 15)

    • Bài Học 76: An Ma 11

    • Bài Học 77: An Ma 12

    • Bài Học 78: An Ma 13

    • Bài Học 79: An Ma 14

    • Bài Học 80: An Ma 15–16

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: An Ma 11–16 (Đơn Vị 16)

    • Bài Học 81: An Ma 17

    • Bài Học 82: An Ma 18

    • Bài Học 83: An Ma 19–20

    • Bài Học 84: An Ma 21–22

    • Bài Học 85: An Ma 23–24

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: An Ma 17–24 (Đơn Vị 17)

    • Bài Học 86: An Ma 25–26

    • Bài Học 87: An Ma 27–29

    • Bài Học 88: An Ma 30

    • Bài Học 89: An Ma 31

    • Bài Học 90: An Ma 32

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: An Ma 25–32 (Đơn Vị 18)

    • Bài Học 91: An Ma 33

    • Bài Học 92: An Ma 34–35

    • Bài Học 93: An Ma 36

    • Bài Học 94: An Ma 37

    • Bài Học 95: An Ma 38

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: An Ma 33–38 (Đơn Vị 19)

    • Bài Học 96: An Ma 39

    • Bài Học 97: An Ma 40

    • Bài Học 98: An Ma 41

    • Bài Học 99: An Ma 42

    • Bài Học 100: An Ma 43–44

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: An Ma 39–44 (Đơn Vị 20)

    • Bài Học 101: An Ma 45–48

    • Bài học 102: An Ma 49–51

    • Bài học 103: An Ma 52–55

    • Bài Học 104: An Ma 56–58

    • Bài học 105: An Ma 59–63

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: An Ma 45–63 (Đơn Vị 21)

  • Hê La Man

    • Bài Học 106: Hê La Man 1–2

    • Bài học 107: Hê La Man 3–4

    • Bài Học 108: Hê La Man 5

    • Bài học 109: Hê La Man 6–7

    • Bài học 110: Hê La Man 8–9

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: Hê La Man 1–9 (Đơn Vị 22)

    • Bài học 111: Hê La Man 10

    • Bài học 112: Hê La Man 11-12

    • Bài học 113: Hê La Man 13

    • Bài học 114: Hê La Man 14

    • Bài học 115: Hê La Man 15–16

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: Hê La Man 10–16 (Đơn Vị 23)

  • 3 Nê Phi

    • Bài Học 116: 3 Nê Phi 1

    • Bài học 117: 3 Nê Phi 2–5

    • Bài học 118: 3 Nê Phi 6–7

    • Bài học 119: 3 Nê Phi 8–10

    • Bài học 120: 3 Nê Phi 11:1–17

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 3 Nê Phi 1–11:17 (Đơn Vị 24)

    • Bài Học 121: 3 Nê Phi 11:18–41

    • Bài học 122: 3 Nê Phi 12

    • Bài học 123: 3 Nê Phi 13

    • Bài Học 125: 3 Nê Phi 14

    • Bài học 125: 3 Nê Phi 15–16

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 3 Nê Phi 11:18–16:20 (đơn vị 25)

    • Bài Học 126: 3 Nê Phi 17

    • Bài Học 127: 3 Nê Phi 18

    • Bài Học 128: 3 Nê Phi 19

    • Bài học 129: 3 Nê Phi 20

    • Bài học 130: 3 Nê Phi 21–22

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 3 Nê Phi 17–22 (Đơn Vị 26)

    • Bài học 131: 3 Nê Phi 23

    • Bài học 132: 3 Nê Phi 24–26

    • Bài học 133: 3 Nê Phi 27

    • Bài học 134: 3 Nê Phi 28

    • Bài học 135: 3 Nê Phi 29–30

    • Bài Học Tự Học ở Nhà: 3 Nê Phi 23–30 (Đơn Vị 27)

  • 4 Nê Phi

    • Bài Học 136: 4 Nê Phi 1

  • Mặc Môn

    • Bài học 137: Mặc Môn 1–2

    • Bài Học 138: Mặc Môn 3–4

    • Bài học 139: Mặc Môn 5–6

    • Bài học 140: Mặc Môn 7:1–8:11

    • Tự Học Ở Nhà Đơn Vị 28

    • Bài học 141: Mặc Môn 8:12–41

    • Bài học 142: Mặc Môn 9

  • Ê The

    • Bài Học 143: Ê The 1

    • Bài học 144: Ê The 2

    • Bài học 145: Ê The 3

    • Tự Học Ở Nhà Đơn Vị 29

    • Bài học 146: Ê The 4–5

    • Bài học 147: Ê The 6

    • Bài Học 148: Ê The 7–11

    • Bài học 149: Ê The 12:1–22

    • Bài Học 150: Ê The 12:23–41

    • Tự Học Ở Nhà Đơn Vị 30

    • Bài học 151: Ê The 13–15

  • Mô Rô Ni

    • Bài Học 152: Mô Rô Ni 1–3

    • Bài học 153: Mô Rô Ni 4–5

    • Bài Học 154: Mô Rô Ni 6

    • Bài Học 155: Mô Rô Ni 7:1–19

    • Tự Học Ở Nhà Đơn Vị 31

    • Bài Học 156: Mô Rô Ni 7:20–48

    • Bài Học 157: Mô Rô Ni 8

    • Bài Học 158: Mô Rô Ni 9

    • Bài Học 159: Mô Rô Ni 10:1–7, 27–29

    • Bài học 160: Mô Rô Ni 10: 8–26, 30–34

    • Tự Học Ở Nhà Đơn Vị 32

  • Bản Phụ Lục

    • Biểu Đồ Đọc Thánh Thư

    • Phần Hướng Dẫn Nhịp Độ cho Các Giảng Viên Hàng Ngày

    • Những Đề Nghị cho Những Ngày Linh Động

    • Phần Hướng Dẫn Nhịp Độ cho Các Giảng Viên Phụ Trách Chương Trình Tự Học Ở Nhà

    • Lời Giới Thiệu Phần Thông Thạo Thánh Thư

    • Các Sinh Hoạt Thông Thạo Thánh Thư

    • 100 Đoạn Thánh Thư Thông Thạo

    • Lời Giới Thiệu Các Giáo Lý Cơ Bản

    • Các Giáo Lý Cơ Bản

    • Các Bảng Khắc và Mối Quan Hệ với Sách Mặc Môn Đã Được Xuất Bản

    • Phần Khái Quát Các Cuộc Hành Trình trong Mô Si A 7–24

Sau khi trích dẫn những lời của Ê Sai (xin xem 3 Nê Phi 22), Chúa Giê Su Ky Tô truyền lệnh cho dân Nê Phi tra cứu những lời của vị tiên tri này. Ngài nói rằng những lời của Ê Sai là một phước lành vì Ê Sai “đã nói tới tất cả những điều có liên hệ đến dân của ta là gia tộc Y Sơ Ra Ên” (3 Nê Phi 23:2). Ngài cũng nói rằng tất cả những lời của Ê Sai đã hoặc rồi sẽ được ứng nghiệm. Sau đó Đấng Cứu Rỗi truyền lệnh cho dân Nê Phi phải tra cứu những lời của tất cả các vị tiên tri và chỉ thị cho họ phải thêm tài liệu vào biên sử của họ.

Viết cụm từ sau đây lên trên bảng: Các phước lành từ việc học thánh thư của tôi. Yêu cầu học sinh suy ngẫm về những kinh nghiệm học Sách Mặc Môn ở nhà và trong lớp giáo lý năm nay. Mời họ lên bảng và viết một từ hoặc cụm từ ngắn mô tả một phước lành đã đi vào cuộc sống của họ nhờ việc học thánh thư. Các anh chị em có thể muốn yêu cầu một vài học sinh mô tả chi tiết hơn điều họ đã viết. Sau đó chỉ vào các phước lành được viết ở trên bảng.

  • Các em nghĩ tại sao chúng ta được ban phước trong những cách này khi chúng ta đọc thánh thư?

Yêu cầu học sinh nhớ lại bài học trước mà những lời của Chúa Giê Su Ky Tô trích dẫn khi Ngài giảng dạy cho dân Nê Phi. (Những lời của Ê Sai). Mời một học sinh đọc to 3 Nê Phi 23:1–3. Yêu cầu lớp học dò theo cùng tìm kiếm điều Đấng Cứu Rỗi đã nói chúng ta nên làm với những lời của Ê Sai. Các anh chị em có thể muốn đề nghị học sinh đánh dấu các từ và cụm từ nào họ thấy nổi bật trong các câu này. Mời họ chia sẻ điều họ khám phá ra.

  • Tại sao Chúa muốn dân chúng tìm hiểu những lời của Ê Sai? (Xin xem 3 Nê Phi 23:2–3).

  • Tại sao là một phước lành để biết rằng tất cả những lời của Ê Sai sẽ được ứng nghiệm?

Mời một học sinh đọc to 3 Nê Phi 23:4–5. Nêu ra rằng sau khi Đấng Cứu Rỗi phán rằng phải tìm hiểu những lời của Ê Sai, Ngài phán phải “tìm hiểu các lời tiên tri.” Viết lẽ thật sau đây lên trên bảng: Đấng Cứu Rỗi truyền lệnh cho chúng ta phải tìm hiểu những lời của Ê Sai và các vị tiên tri khác.

  • Theo 3 Nê Phi 23:5, chúng ta phải làm gì để được cứu rỗi? Những lời của các vị tiên tri giúp chúng ta tuân theo các lệnh truyền này như thế nào?

  • Trong những phương diện nào việc tìm hiểu các lời tiên tri một cách chuyên cần khác với việc chỉ đọc những lời của các vị tiên tri? Các em nghĩ tại sao là điều quan trọng để tìm hiểu những lời của Ê Sai và các vị tiên tri khác một cách chuyên cần?

  • Các phương pháp học thánh thư nào là tốt nhất để giúp các em làm cho việc tra cứu những lời của Ê Sai và các vị tiên tri khác thành một phần đầy ý nghĩa của cuộc sống các em?

Mời một học sinh đọc lời phát biểu sau đây của Anh Cả Merrill J. Bateman thuộc Nhóm Túc Số Thầy Bảy Mươi:

“Có một số phước lành nhận được khi một người tra cứu thánh thư. Khi một người học hỏi và tuân theo những lời của Chúa, thì người ấy đến gần Đấng Cứu Rỗi hơn và nhận được một ước muốn lớn lao hơn để sống một cuộc sống ngay chính. Khả năng để chống lại cám dỗ gia tăng, và những yếu kém thuộc linh được khắc phục. Những vết thương thuộc linh được chữa lành” (“Coming unto Christ by Searching the Scriptures,” Ensign, tháng Mười Một năm 1992, 28).

  • Ngoài thánh thư ra, chúng ta có thể tìm thấy những lời tiên tri ở đâu?

Yêu cầu học sinh trả lời trong sổ tay hoặc nhật ký ghi chép việc học thánh thư cho câu hỏi sau đây:

  • Các em có thể có những thay đổi nào để nghiên cứu những lời tiên tri một cách chuyên cần hơn?

Mời một vài học sinh làm chứng về các phước lành đến từ việc tra cứu các lời tiên tri.

Yêu cầu một vài học sinh kể ra những truyện ký ưa thích của họ trong Sách Mặc Môn. Liệt kê những câu trả lời của họ lên trên bảng. Sau đó, xóa một trong các câu trả lời. Yêu cầu học sinh tưởng tượng rằng Mặc Môn hoặc Nê Phi hay một người lưu giữ biên sử khác đã quên không gồm vào truyện ký đó.

  • Sách Mặc Môn sẽ thiếu những bài học quan trọng nào nếu truyện ký này không được gồm vào trong đó?

Giải thích rằng khi Đấng Cứu Rỗi giảng dạy cho dân Nê Phi, Ngài đã nêu ra rằng những người lưu giữ biên sử của họ đã quên không bao gồm một sự kiện quan trọng đã xảy ra mà đến để làm ứng nghiệm lời tiên tri. Yêu cầu một vài học sinh thay phiên nhau đọc to từ 3 Nê Phi 23:6–13. Yêu cầu lớp học dò theo cùng tìm kiếm điều mà dân Nê Phi đã không ghi lại.

  • Dân Nê Phi đã có một biên sử về lời tiên tri của Sa Mu Ên (xin xem Hê La Man 14:25). Các em nghĩ tại sao sẽ là điều quan trọng đối với họ để có được một biên sử đầy đủ?

Hãy nêu ra rằng mặc dù chúng ta đã không được truyền lệnh để lưu giữ một biên sử thánh thư cho Giáo Hội, nhưng chúng ta đã được khuyên bảo để lưu giữ nhật ký cá nhân.

  • Lời khuyên dạy của Đấng Cứu Rỗi trong 3 Nê Phi 23:6–13 có thể áp dụng cho các nỗ lực của chúng ta để giữ nhật ký cá nhân như thế nào?

Để giúp học sinh thấy được một cách mà họ có thể giữ nhật ký, hãy mời một học sinh đọc to kinh nghiệm sau đây đã được Chủ Tịch Henry B. Eyring thuộc Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn chia sẻ:

Chủ Tịch Henry B. Eyring

“Tôi về nhà muộn sau khi làm một công việc của Giáo Hội. Lúc đó trời đã tối. Cha vợ của tôi, là người sống ở gần chúng tôi, đã làm tôi ngạc nhiên khi tôi đang đi bộ về phía cửa trước của nhà mình. Ông đang vác những cái ống nước trên vai, đi rất nhanh và đang mặc quần áo lao động. Tôi biết rằng ông đang xây một hệ thống để bơm nước từ dòng suối nằm dưới cái dốc gần nhà vào chỗ đất của nhà chúng tôi.

“Ông mỉm cười, nói nhỏ, và rồi vội vàng bước ngang qua tôi đi vào đêm tối để tiếp tục công việc của mình. Tôi đi thêm vài bước nữa hướng về căn nhà, suy nghĩ về điều ông đang làm cho chúng tôi, rồi ngay khi tôi bước tới cửa, thì tôi nghe trong tâm trí tôi những lời này—không phải bằng giọng nói của tôi : ‘Ta không ban cho ngươi những kinh nghiệm này chỉ để cho riêng ngươi đâu. Hãy viết xuống đi.’

“Tôi đi vào trong nhà. Tôi không đi ngủ. Mặc dù rất mệt, tôi cũng lấy mấy tờ giấy ra và bắt đầu viết. Và khi làm như thế, tôi đã hiểu được sứ điệp mà tôi đã nghe trong tâm trí mình. Tôi cần phải ghi lại cho con cái tôi đọc, vào một ngày nào đó trong tương lai, việc tôi đã thấy bàn tay của Thượng Đế ban phước cho gia đình chúng tôi như thế nào. Ông ngoại không cần phải làm điều ông đang làm cho chúng tôi. Ông có thể để cho ai đó làm việc này hoặc không cần phải làm gì cả. Nhưng ông đang phục vụ chúng tôi, gia đình của ông, theo cách thức mà những môn đồ đã lập giao ước với Chúa Giê Su Ky Tô thường làm. Tôi biết rằng điều đó là đúng. Vậy nên tôi đã viết xuống, để một ngày nào đó con cái của tôi có thể có được kỷ niệm này khi chúng cần đến.

“Tôi viết xuống một vài dòng mỗi ngày trong nhiều năm. Tôi không bao giờ bỏ lỡ một ngày dù cho tôi có mệt đến mức nào hay tôi phải dậy sớm đến mấy đi nữa vào ngày hôm sau. Trước khi viết, tôi suy ngẫm câu hỏi này: ‘Tôi có thấy bàn tay của Thượng Đế dang ra để tác động vào cuộc sống của chúng tôi hay con cái chúng tôi hoặc gia đình chúng tôi ngày nay không?’” (“Hãy Ghi Nhớ, Hãy Ghi Nhớ,” Ensign hoặc Liahona, tháng Mười Một năm 2007, 66–67).

  • Các em nghĩ tại sao là điều quan trọng đối với chúng ta để viết về những kinh nghiệm củng cố phần thuộc linh của mình?

  • Chúng ta có thể hưởng lợi như thế nào từ việc noi theo gương Chủ tịch Eyring? Biên sử của chúng ta có thể giúp đỡ người khác như thế nào?

Giải thích rằng Chủ Tịch Eyring cho biết về các phước lành ông đã nhận được vì ông đã ghi chép hàng ngày về việc Thượng Đế ban phước cho gia đình của ông. Yêu cầu một học sinh đọc to lời phát biểu sau đây. (Các em có thể đã chia sẻ một phần của lời phát biểu này trong bài học 117. Học sinh có thể được lợi ích từ việc nghe lời phát biểu này một lần nữa).

“Trong khi tôi tiếp tục làm việc này, thì có một điều gì đó bắt đầu xảy ra. Khi tôi nhớ lại những sự việc xảy ra trong ngày, thì tôi thường thấy sự hiển nhiên về điều Thượng Đế đã làm cho mỗi người chúng tôi mà tôi đã không nhận ra trong những giây phút bận rộn trong ngày. Khi điều đó xảy ra, và nó xảy ra thường xuyên, thì tôi nhận thấy rằng việc cố gắng ghi nhớ đã để cho Thượng Đế chỉ cho tôi thấy những gì Ngài đã làm.

“Lòng biết ơn nhiều hơn bắt đầu gia tăng trong lòng tôi. Chứng ngôn gia tăng. Tôi trở nên chắc chắn hơn bao giờ hết rằng Cha Thiên Thượng lắng nghe và đáp ứng những lời cầu nguyện. Tôi cảm thấy biết ơn hơn về việc xoa dịu và thanh tẩy những tấm lòng có được nhờ vào Sự Chuộc Tội của Đấng Cứu Rỗi Giê Su Ky Tô. Và tôi càng trở nên tin chắc hơn rằng Đức Thánh Linh có thể nhắc cho chúng ta nhớ mọi điều—ngay cả những điều mà chúng ta không nhận thấy hay không chú ý đến khi chúng xảy ra” (“O Remember, Remember,” 67).

  • Chúng ta có thể học được nguyên tắc nào từ truyện ký trong 3 Nê Phi 23 và từ kinh nghiệm của Chủ Tịch Eyring? (Học sinh có thể trả lời câu hỏi này theo nhiều cách khác nhau. Câu trả lời của họ nên phản ảnh lẽ thật sau đây: Khi ghi lại những kinh nghiệm thuộc linh, thì chúng ta sẽ được ban phước về mặt cá nhân và trong gia đình).

Một số học sinh có thể cảm thấy rằng họ chưa có bất cứ điều gì xảy ra với họ mà sẽ có giá trị đủ để ghi lại. Để giúp họ, các anh chị em có thể muốn mời một học sinh đọc to lời phát biểu sau đây của Anh Cả John H. Groberg thuộc Nhóm Túc Số Thầy Bảy Mươi:

“Một số người nói: ‘Tôi không có gì để ghi chép cả. Không có gì thiêng liêng xảy ra cho tôi.’ Tôi nói: ‘Hãy bắt đầu ghi chép, và những sự việc thuộc linh sẽ xảy ra. Những sự việc đó luôn luôn có ở đó, nhưng chúng ta trở nên nhạy cảm hơn đối với chúng khi chúng ta viết’” (“Writing Your Personal and Family History,” Ensign, tháng Năm năm 1980, 48).

Mời học sinh hãy tự hỏi mình xem có quên viết về những kinh nghiệm mà đã củng cố họ về phần thuộc linh không. Khuyến khích họ viết về những kinh nghiệm này và tiếp tục ghi lại những kinh nghiệm khác trong suốt cuộc sống của họ. Các anh chị em có thể đề nghị họ noi theo tấm gương của Chủ tịch Eyring, viết một điều gì đó mỗi ngày.

Sau khi các anh chị em yêu cầu học sinh nên làm một điều gì đó cụ thể, chẳng hạn như viết vào trong nhật ký, hãy cân nhắc những cách để theo dõi, nhắc nhở họ về lời cam kết mà họ đã lập. Cho họ cơ hội để chia sẻ những kinh nghiệm của họ khi họ áp dụng các lẽ thật học được trong lớp. Qua việc chia sẻ những kinh nghiệm của mình, họ có thể soi dẫn lẫn nhau để sống theo phúc âm. Các em có thể cân nhắc việc cung cấp các cơ hội như vậy vào lúc bắt đầu một bài học. Không phải mọi học sinh đều cần chia sẻ.

Việc học cách giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng thánh thư có thể giúp học sinh trong suốt cuộc sống của họ. Đưa cho mỗi học sinh một mảnh giấy nhỏ. Mời họ viết về một câu hỏi mà họ có hoặc một thử thách họ đang phải đương đầu. Giải thích rằng các anh chị em sẽ thu lại những tờ giấy và đọc một số tờ giấy đó cho lớp học. Bảo học sinh đừng viết tên trên tờ giấy, và nhắc nhở họ không gồm chi tiết cá nhân hoặc không thích hợp để thảo luận trong lớp. (Sau khi thu lại các tờ giấy, các anh chị em có thể muốn xem xét vắn tắt những tờ giấy đã nộp để chắc chắn rằng những điều viết ra là thích hợp và không quá riêng tư). Đọc một câu hỏi hoặc thử thách cho lớp học và xem học sinh có thể sử dụng các đoạn thánh thư thông thạo để giúp giải quyết câu hỏi hay thử thách đó.

Giải thích rằng Đấng Cứu Rỗi truyền lệnh cho chúng ta phải giảng dạy người khác điều Ngài đã dạy chúng ta (xin xem 3 Nê Phi 23:14). Để giúp chuẩn bị cho học sinh tuân giữ lệnh truyền này, hãy khuyến khích họ thực hành các kỹ năng giảng dạy, chẳng hạn như giải thích các giáo lý hoặc nguyên tắc, chia sẻ kinh nghiệm, và chứng minh khi họ sử dụng những đoạn thánh thư thông thạo để giải quyết vấn đề. Các anh chị em có thể muốn để dành lại các câu hỏi hoặc thử thách khác mà học sinh đã nộp và thảo luận những điều đó theo một cách tương tự vào những ngày khi các anh chị em có thêm thời gian.

Ghi Chú: Bài học này không dài nên có thể có thời gian để xem lại câu thánh thư thông thạo này. Các anh chị em có thể điều khiển buổi sinh hoạt vào lúc bắt đầu lớp học, như là lúc nghỉ giữa những phần của bài học, hoặc vào lúc cuối giờ học. Hãy giữ cho buổi sinh hoạt ngắn gọn để có thời gian cho bài học. Đối với các sinh hoạt ôn lại khác, hãy xem phần phụ lục ở cuối sách học này.

Từ khóa » Cách Giải Bài Nè