Bài Thơ: Đất Vị Hoàng (Trần Tế Xương - 陳濟昌) - Thi Viện

Thi Viện ×
  • Tên tác giả/dịch giả
  • Tên bài thơ @Tên tác giả
  • Nội dung bài thơ @Tên tác giả
  • Tên nhóm bài thơ @Tên tác giả
  • Tên chủ đề diễn đàn
  • Tìm với Google
Toggle navigation
  • Tác giả
    • Danh sách tác giả
    • Tác giả Việt Nam
    • Tác giả Trung Quốc
    • Tác giả Nga
    • Danh sách nước
    • Danh sách nhóm bài thơ
    • Thêm tác giả...
  • Thơ
    • Các chuyên mục
    • Tìm thơ...
    • Thơ Việt Nam
    • Cổ thi Việt Nam
    • Thơ Việt Nam hiện đại
    • Thơ Trung Quốc
    • Đường thi
    • Thơ Đường luật
    • Tống từ
    • Thêm bài thơ...
  • Tham gia
    • Diễn đàn
    • Các chủ đề mới
    • Các chủ đề có bài mới
    • Tìm bài viết...
    • Thơ thành viên
    • Danh sách nhóm
    • Danh sách thơ
  • Khác
    • Chính sách bảo mật thông tin
    • Thống kê
    • Danh sách thành viên
    • Từ điển Hán Việt trực tuyến
    • Đổi mã font tiếng Việt
Đăng nhập ×

Đăng nhập

Tên đăng nhập: Mật khẩu: Nhớ đăng nhập Đăng nhập Quên mật khẩu? Đăng nhập bằng Facebook Đăng ký

Bình luận nhanh 30

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Tên của bạn: Thông tin liên hệ: Xác nhận bạn không phải người máy: Gửi bình luận ĐdcuongHôm qua 21:18Hỏi cái đb:)HK HKHôm kia 13:52tham khảoHK HKHôm kia 13:48 Dưới đây là bài phân tích bài thơ "Đất Vị Hoàng" của Tú Xương được trình bày hoàn chỉnh và liền mạch như một bài văn nghị luận văn học: 📜 Phân Tích Bài Thơ "Đất Vị Hoàng" – Tiếng Thét Phẫn Uất Của Tú Xương Trần Tế Xương (Tú Xương) là một trong những thi sĩ trào phúng hàng đầu của văn học Việt Nam trung đại. Sống vào giai đoạn xã hội giao thời đầy biến động, ông đã dùng ngòi bút sắc bén của mình làm vũ khí để châm biếm, đả kích những thói hư tật xấu và sự suy đồi đạo đức đương thời. Bài thơ "Đất Vị Hoàng" (Vịnh cảnh Vị Hoàng) là một kiệt tác tiêu biểu, nơi Tú Xương phơi bày một cách chua cay và sâu sắc bức tranh xã hội Nam Định (Vị Hoàng) đã bị tha hóa trầm trọng bởi đồng tiền và sự xuống cấp về đạo lý. Bài thơ, với kết cấu chặt chẽ của thể thất ngôn bát cú Đường luật, là một lời chất vấn đầy bi phẫn về nhân tình thế thái. Nó mở đầu bằng một câu hỏi tu từ đầy ám ảnh, có giá trị khái quát hóa và tạo ấn tượng mạnh mẽ: Có đất nào như đất ấy không? Phố phường tiếp giáp với bờ sông. Câu hỏi "Có đất nào như đất ấy không?" không phải để tìm câu trả lời, mà là lời khẳng định chua chát, thể hiện sự ngạc nhiên đến tột cùng trước sự tồi tệ của quê hương. Sự ngạc nhiên này chất chứa nỗi đau xót. Câu thơ thứ hai mô tả không gian "Phố phường tiếp giáp với bờ sông" – cảnh trí của một nơi đô hội, giao thương sầm uất. Sự sầm uất về vật chất này càng tương phản gay gắt với sự nghèo nàn, đổ vỡ về tinh thần sắp được nhà thơ kể ra. Hai câu thực là sự lên án trực diện, nhằm vào hai mối quan hệ cơ bản nhất tạo nên trật tự xã hội truyền thống: Nhà kia lỗi phép con khinh bố, Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng. Tú Xương không chọn hình ảnh cao xa mà đi thẳng vào những chi tiết nhức nhối, hằng ngày. Sự "con khinh bố" là sự đảo lộn luân thường đạo lý, là sự bất hiếu không thể chấp nhận được, báo hiệu sự tan rã của gia đình. Sự "vợ chửi chồng" bằng giọng điệu "chanh chua" lại là biểu hiện của sự thiếu hòa khí, hỗn loạn trong quan hệ vợ chồng. Bằng ngôn ngữ dân dã, trực diện, Tú Xương vẽ nên một xã hội mà nền tảng đạo đức đã hoàn toàn bị lung lay, thay thế bằng sự hỗn độn và bất nhẫn. Đỉnh cao của sự châm biếm nằm ở hai câu luận, nơi nhà thơ phê phán thói tham lam, keo kiệt đã trở thành bản chất: Keo cú người đâu như cứt sắt, Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng. Tú Xương sử dụng hình ảnh so sánh "như cứt sắt" – một hình ảnh thô tục, dân dã nhưng cực kỳ hiệu quả – để cường điệu hóa tính bủn xỉn, không nới lỏng ra bất cứ điều gì. Tuy nhiên, hình ảnh đắt giá nhất phải kể đến "Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng". Lòng tham tiền bạc (tiền đồng) đã không chỉ dừng lại ở hành động mà đã thấm sâu vào hơi thở, vào bản chất con người. Con người giờ đây sống và tồn tại chỉ vì vật chất, mọi giá trị tinh thần đã bị lu mờ. Đây là lời kết án mạnh mẽ nhất của Tú Xương về sự tha hóa do tác động của cơ chế kinh tế thị trường đầu tiên dưới thời thực dân. Sau khi phơi bày thực trạng cay đắng, Tú Xương cô đọng cảm xúc của mình trong hai câu kết: Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh, Có đất nào như đất ấy không? Câu 7 mở rộng phạm vi ra cả đất nước, như một lời tìm kiếm, so sánh. Nhưng câu 8 lặp lại câu hỏi ban đầu, đóng lại bài thơ bằng một sự tuyệt vọng và cô đơn. Câu hỏi lặp lại này đã chuyển hóa thành tiếng than thở, là nỗi đau day dứt của nhà thơ trước cảnh đời nghiệt ngã, sự bất lực của một kẻ sĩ muốn cống hiến nhưng không làm gì được để cứu vãn quê hương. Tóm lại, bài thơ "Đất Vị Hoàng" là bản cáo trạng đanh thép và đầy bi phẫn của Tú Xương về xã hội Vị Hoàng. Bằng nghệ thuật trào phúng sắc sảo, ngôn ngữ vừa thô mộc vừa tinh tế, cùng với sự kết hợp hài hòa giữa chất hiện thực và trữ tình, Tú Xương đã không chỉ phê phán mà còn thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng, một tình yêu bị tổn thương trước sự sa đọa của đồng bào. Tác phẩm xứng đáng là một đỉnh cao của thơ ca châm biếm Việt Nam. Dưới đây là bài phân tích bài thơ "Đất Vị Hoàng" của Tú Xương được trình bày hoàn chỉnh và liền mạch như một bài văn nghị luận văn học: 📜 Phân Tích Bài Thơ "Đất Vị Hoàng" – Tiếng Thét Phẫn Uất Của Tú… sigma boy03/01/2026 11:23ai hỏi???:))Cao Anh Tú02/01/2026 01:35Đây là bài thuộc thể loại Thủ vĩ ngâm. 2 câu thực và 2 câu luận đối vẫn còn khập khiễng chưa được thật hay. Chỉ chấm cứt sắt <> hơi đồngĐỗ Tổng29/12/2025 22:51mai thi rvuhoangphong25/12/2025 15:2810 điểm tế xuong nhé +>>he24/12/2025 18:43ko hiểu nội dung lắm=)))mà kệ đi vẫn hay=)))))))))`12345123412303/12/2025 22:02hello...03/12/2025 21:05... Xem thêm... 843.99Thể thơ: Thất ngôn bát cúThời kỳ: Cận đại1 bài trả lời: 1 bình luận7 người thíchTừ khoá: thơ sách giáo khoa (673) Văn học 11 [1990-2006] (43) Vị Hoàng (4)
  • Trả lời
  • In bài thơ
  • Tài liệu đính kèm 1

Một số bài cùng từ khoá

- Việt Bắc (Tố Hữu)- Vội vàng (Xuân Diệu)- Tây Tiến (Quang Dũng)- Sóng (Xuân Quỳnh)- Bếp lửa (Bằng Việt)

Một số bài cùng tác giả

- Thương vợ- Năm mới chúc nhau- Văn tế sống vợ- Sông Lấp- Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (1897)

Một số bài cùng nguồn tham khảo

- Thương vợ (Trần Tế Xương)- Văn tế sống vợ (Trần Tế Xương)- Sông Lấp (Trần Tế Xương)- Ba cái lăng nhăng (Trần Tế Xương)- Áo bông che bạn (Trần Tế Xương)

Đăng bởi Vanachi vào 16/03/2005 10:47, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi karizebato vào 31/08/2009 22:14

Giọng đọc Hoa Phong Lan

Có đất nào như đất ấy không?Phố phường tiếp giáp với bờ sông.Nhà kia lỗi phép con khinh bố,Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.Keo cú người đâu như cứt sắt[1],Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng[2].Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ này từng được sử dụng trong phần đọc thêm SGK Văn học 11 giai đoạn 1990-2006, nhưng đã được lược bỏ trong SGK Ngữ văn 11 từ 2007.Vị Hoàng ( 20.435,106.180): Vị Hoàng vốn là tên một con sông đào chảy qua đất Vị Hoàng, tỉnh Nam Định. Con sông này ngày nay không còn nữa. Sông được đào vào đời Trần, nối sông Đáy (sông Hồng) với sông Vĩnh Tế (Vĩnh Giang), chảy quanh co quanh phủ Thiên Trường xưa rồi đổ ra biển. Năm 1786, quân Tây Sơn theo biển vào sông đánh chiếm quân doanh Vị Hoàng rồi tiến ra chiếm Thăng Long.Năm 1832, do sông Vị Hoàng chảy xiết, làm bờ sông ngày càng xói lở và khu phố buôn bán phía đông bắc thành Vị Hoàng có nguy cơ bị mất. Theo nguyện vọng của địa phương, vua Minh Mạng cho đào một con sông mới, được gọi là sông Đào, để chia sẻ dòng nước từ kênh Phù Long đến bến đò Lương Xá, tách làng Vị Hoàng thành hai làng Vị Hoàng và Vị Khê. Từ đây, nước sông Hồng không còn đổ nhiều vào sông Vị Hoàng, sông chảy chậm và bị phù sa lắng đọng, bồi lấp dần. Khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sông Vị Hoàng đã bị lấp dần nên còn được gọi là sông Lấp. Ngày nay, hầu như không còn vết tích của sông Vị Hoàng. Sách Việt sử thông giám cương mục chép: “Việc đào sông Vị Hoàng đã chặn mất long mạch nên nhà Trần mất ngôi”. » Có 4 nội dung dùng giải nghĩa:
  • Chợ Vị Hoàng một tháng một phiên (Khuyết danh Việt Nam)
  • Vị Hoàng doanh (Nguyễn Du)
  • Sông Lấp (Trần Tế Xương)
  • Vị Hoàng hoài cổ (Trần Tế Xương)
Chú thích: [1] Chất thải ra từ sắt nung, ý nói không còn đẽo gặm gì được nữa. [2] Hơi tiền bạc. » Có 3 bài cùng chú thích:
  • Dạy vợ con (Nguyễn Trãi)
  • Hồi 12: Kiều gặp Thúc Sinh (Nguyễn Du)
  • Nhân nguyệt vấn đáp (Phan Huy Thực)
[Thông tin 2 nguồn tham khảo đã được ẩn] Xếp theo: Ngày gửi Mới cập nhật

Trang 1 trong tổng số 1 trang (1 bài trả lời)[1]

Ảnh đại diện

Phân tích bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương

Gửi bởi Vũ Đào Duy Hùng ngày 12/12/2023 20:40Có 1 người thích

Bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một bài thơ trào phúng, được viết theo thể thất ngôn bát cú. Bài thơ thể hiện thái độ phẫn uất, bất bình của nhà thơ trước những đổi thay của xã hội, sự đổi thay đó làm mất đi những thứ vốn có, đó là những giá trị, truyền thống tốt đẹp, thay vào đó là cái lối sống nửa tây nửa ta kệch cỡm, lố bịch, đáng lên án. Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ, như một lời khẳng định chắc nịch của nhà thơ về sự khác biệt của đất Vị Hoàng so với những vùng đất khác:

Có đất nào như đất ấy không?
Hai câu thực, nhà thơ vẽ ra một bức tranh hiện thực về xã hội Vị Hoàng:
Phố phường tiếp giáp với bờ sông.Nhà kia lỗi phép con khinh bố,Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
Trong bức tranh ấy, phố phường tiếp giáp với bờ sông, một hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tuy nhiên, trong xã hội Vị Hoàng, con cái không còn kính trọng cha mẹ, vợ chồng lục đục, cãi vã. Đây là những biểu hiện của sự suy đồi đạo đức, lối sống trong xã hội. Hai câu luận, nhà thơ tiếp tục nêu lên những biểu hiện tiêu cực của xã hội Vị Hoàng:
Keo cú người đâu như cứt sắt,Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng.
Người dân Vị Hoàng trở nên keo kiệt, tham lam, chỉ biết lo cho bản thân, không quan tâm đến người khác. Đây là những biểu hiện của lối sống ích kỷ, chỉ biết đến lợi ích cá nhân. Hai câu kết, nhà thơ kết lại bài thơ bằng một câu hỏi tu từ, như một lời khẳng định chắc nịch về sự khác biệt của đất Vị Hoàng so với những vùng đất khác:
Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,Có đất nào như đất ấy không?
Câu hỏi này không chỉ là một lời khẳng định về sự khác biệt của đất Vị Hoàng, mà còn là một lời châm biếm, mỉa mai sâu cay của nhà thơ đối với xã hội đương thời. Bài thơ Đất Vị Hoàng đã thể hiện tài năng trào phúng của Trần Tế Xương. Nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, nhưng lại mang hàm ý sâu sắc, phê phán những thói hư tật xấu của xã hội. Bài thơ đã để lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm về xã hội đương thời và cả xã hội hiện nay.

694.41Trả lời

© 2004-2026 VanachiRSS

Từ khóa » đọc Hiểu Bài đất Vị Hoàng