Bài Thuyết Minh đền Kim Liên – Trấn Nam Thành Thăng Long

Thưa quý khách! Thăng Long – Hà Nội là mảnh đất ngàn năm văn vật. Trên mảnh đất này có bao nhiêu giá trị văn hóa, các di tích lịch sử quý báu được gìn giữ từ xưa đến nay. Tiêu biểu trong số đó phải kể đến Thăng Long Tứ Trấn- 4 ngôi đền thiêng trấn 4 phía Đông, Tây, Nam, Bắc của kinh thành  . Hôm nay chúng ta sẽ cùng thăm quan Đền Kim Liên – tức Trấn Nam, một trong Thăng Long Tứ Trấn của đất kinh kỳ.

Tương truyền Đền Kim Liên được xây dựng từ những năm đầu thời kỳ nhà Lý để thờ  Cao Sơn Đại Vương, vị thần cai quản, trấn giữ phương Nam của kinh thành. Theo thần phả còn lưu tại Đền và nhiều nơi khác thì Cao Sơn Đại Vương tên húy là Nguyễn Hiển, là em họ của thánh Tản Viên Sơn Tinh. Ông có công giúp thần Sơn Tinh trong cuộc chiến với Thủy Tinh và giúp vua Hùng chống lại sự xâm lược của quân Tần. Khi ông mất, nhân dân tôn là thần và lập đền thờ ở nhiều nơi.  Năm 1509, thần Cao Sơn đã hiển linh phù hộ cho Vua Lê Tương Dực giành lại được ngôi báu từ Lê Uy Mục. Chính vì vậy, sau khi lên ngôi vua Tương Dực đã cho dựng lại đền khang trang, to đẹp hơn và sai quan sử Lê Tung soạn văn bia ca ngợi thần và ghi lại sự tích trên. Qua thời gian trùng tu, dân làng Kim Liên đã sửa chữa và xây dựng thêm một số công trình làm nơi hoạt động chung của làng nên đền cũng gọi là đình Kim Liên.

Đền Kim Liên ngày nay tọa lạc tại phố Xã Đàn, phường Kim Liên, quận Đống Đa. Vốn tên làng trước kia là Kim Hoa ( tên Nôm là làng Đồng Lầm), đến thời vua Thiệu Trị nhà Nguyễn do kiêng húy của bà thái hậu Hồ Thị Hoa nên nhà vua đã đổi tên làng là Kim Liên. Cổng đền quay ra hướng Nam, ngày trước trông ra hồ Đồng Lầm (đã bị lấp để làm đường và các công trình khác). Kiến trúc đền như chúng ta thấy hiện nay là sau 2 đợt trùng tu lớn năm 2000 và 2010 ( kỷ niệm 990 và 1000 năm Thăng Long- Hà Nội). Cổng vào bao gồm 5 cửa, nguyên xưa kia chỉ có 4 trụ biểu và 2 cổng phụ. Trên cổng chính có bức hoành phi đề 3 chữ Kim Liên Từ ( Đền kim Liên). Trên 4 cột trụ có trang trí hình chim phượng chầu, đây là mô típ rất quen thuộc của các đền hay đình của Việt Nam. Bước qua gian cổng trước mặt chúng ta là một sân rộng, sau đó đến nghi môn của đền. Từ sân lên nghi môn phải qua chín bậc thềm bằng đá, hai bên lan can có trang trí hình mây cuộn, ở giữa thềm cũng có 2 con rồng đá cách điệu, uốn lượn từ trên xuống song song với lan can hai bên nhưng cao hơn. Trước nghi môn có đặt một lư hương, phía trên có bức hoành phi Trấn Nam phương ( nghĩa là trấn giữ phương Nam). Nghi môn là một tòa nhà 3 gian, mái lợp ngói ta, trên các cột trước và sau đều có câu đối ca ngợi công đức của thần Cao Sơn. Hai bên sân đền có 2 dãy nhà dùng làm nơi để đồ tự khí và bàn bạc của các bô lão khi có công việc. Qua nghi môn, cách một khoảng sân nhỏ là đến bái đường, bái đường có 5 gian, kiến trúc kiểu tường hồi bít đốc. Gian giữa treo hoành phi, gian bên phải đặt ban thờ mẫu, bên trái là ban thờ và tượng Bác Hồ. Sau nhà Đại bái là hậu cung gồm 3 gian xây dọc, nối tiếp với gian giữa nhà đại bái. Gian đầu tiên của hậu cung đặt hương án, gian giữa đặt long ngai và đồ tự khí, gian trong cùng là nơi đặt tượng Cao Sơn Đại Vương và 2 nữ thần phối hưởng là Tôn nữ Đông Hồ Trưng Vương (con gái vua Lê) và Huệ Minh công chúa . Tại đền Kim Liên hiện còn giữ 39 đạo sắc phong cho Cao Sơn Đại Vương, gồm 26 đạo sắc phong thời Lê và 13 sắc phong thời Nguyễn. Trong đó, sắc phong cổ nhất là năm Vĩnh Tộ thứ 2 (năm 1620).

Mời quý khách theo tôi ra ngoài này, chúng ta hãy cùng chiêm ngưỡng di vật cổ nhất của đền Kim Liên, đó chính là tấm bia đá, dựng năm 1772, còn nội dung văn bia là do quan sử thần Lê Tung soạn từ năm 1510 khi xây dựng lại đền, theo chỉ dụ của vua Lê Tương Dực. Quý vị có thể thấy một hiện tượng kỳ thú là miếu chứa tấm bia được ôm quanh bởi rễ cây si cổ thụ. Phải chăng, đây là một phép lạ để lưu giữ tấm bia ghi công đức của thần cao sơn được trường tồn. câu chuyện về tấm bia đá này cũng rất ly kỳ. Đáng nhẽ , nó được tạc vào đầu thế kỷ 16 cùng với thời gian xây dựng đền Kim Liên, tuy nhiên vì một lý do nào đó, có thể là tình hình chính trị bất ổn nên việc dựng bia bị tạm gác lại. Hơn hai thế kỷ sau, tình cờ có một viên quan tìm thấy bài văn ký đã bị bỏ quên. Ông đã dâng lên chúa Trịnh Doanh và chúa Trịnh đã quyết định cho người vào tận Ninh Bình, chọn đá tốt để khắc bia. Tấm bia sau khi khắc xong được chuyển từ Ninh Bình ra Thăng Long và đặt vào trong miếu bia này. Ngay tên của tấm bia “ Trấn Nam Phương Cao Sơn Đại Vương Bi Ký” đã khẳng định Đền Kim Liên chính là trấn Nam của kinh thành. Tuy nhiên, lại một lần nữa do thời gian, rồi chiến tranh loạn lạc, dần dần ngay chính người dân nơi đây cũng quên mất rằng đình Kim Liên của làng mình lại chính là một trong Thăng Long tứ trấn nổi tiếng một thời. Thậm chí  đến đầu những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà sử học vẫn chưa tìm được tài liệu xác định chính xác vị trí của trấn Nam thành Thăng Long. Cho đến năm 1985, trong chuyến đi khảo cứu các di tích ở Hà Nội giáo sư Trần Quốc Vượng đã đến đình Kim Liên. Khi được ông từ cho biết trong khuôn viên đình có một bia đá cổ, giáo sư đề nghị ông từ dẫn đi xem. Khi đọc nội dung tấm bia,  Giáo sư đã vỗ tay sung sướng cười lớn nói : “Tìm thấy rồi! Hóa ra trấn Nam là ở đây”. Sau đó, ông đã báo cáo việc này lên lãnh đạo bộ văn hóa- thông tin và từ đó đền Kim Liên được nhà nước chú trọng tôn tạo, tu bổ cho xứng đáng với giá trị vốn có.

Hàng năm vào ngày 16/3 âm lịch, nhân dân làng Kim Liên đều tổ chức lễ hội, có nhiều nghi lễ tỏ lòng thành kính, biết ơn của người dân đối với thần Cao Sơn, sau đó là các trò chơi dân gian dành cho dân làng và khách thập phương về tham dự. Đền Kim Liên với giá trị to lớn về lịch sử sẽ luôn là một di tích rất hấp dẫn không thể bỏ qua đối với các du khách trong hành trình khám phá, tìm hiểu về thủ đô Hà Nội.

Thưa quý vị! Đến đây tôi xin kết thúc bài thuyết minh của mình, bây giờ nếu quý vị nào có điều gì thắc mắc xin cứ hỏi tôi rất vui lòng giải đáp… Nếu quý vị không còn câu hỏi nào nữa thì bây giờ xin mời tất cả mọi người ra xe để chúng ta tiếp tục tham quan các di tích khác của thủ đô.

Share this:

  • X
  • Facebook
Like Loading...

Từ khóa » đền Kim Liên Xã đàn Thờ Ai