Bài Văn đạt Giải Nhất Quốc Gia Năm 2002 (Bảng A)

ĐỀ BÀI ( BẢNG A) Theo Xuân Diệu, “ Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh”. ( Nguyễn Khuyến - về tác giả và tác phẩm) NXB Giáo dục, Hà Nội, 199, trang 160) Anh, chị hãy phân tích những sáng tác trên trong mối quan hệ đối sánh để làm nổi bật vẻ đẹp độc đáo của từng thi phẩm, từ đó nêu vắn tắt yêu cầu đối với tác phẩm văn học.

YÊU CẦU BÀI LÀM

Trên cơ sở có những hiểu biết chắc chắn về Nguyễn Khuyến ( tiểu sử, con người, sự nhgiệp sáng tác), thuộc và hiểu ba bài thơ; từ đó, phân tích làm bật được vẻ đẹp riêng của từng thi phẩm, và thông qua sự phân tích đó, nêu ngắn gọn yêu cầu đối với một tác phẩm văn học.

1, Trình bày được một số nét chung của cả ba bài thơ: cùng một đề tài rất quen thuộc ( mùa thu), cùng một bút pháp, cùng một tác giả, thời điểm ra đời không cách xa nhau nhiều. Tất cả ba bài thơ đều toát lên cảnh thu và trong sáng, đượm buồn qua bút pháp quen thuộc của thơ trung đại: chỉ bằng vài nét đơn sơ mà ghi được cái hồn của cảnh vật, lấy động để tả tĩnh, nhân vặt trữ tình luôn thư thái, tự tại…

Mặc dù đề bài không yêu cầu trực tiếp trình bày những nét chung của ba bài thơ, nhưng để làm bật những nét riêng - vẻ đẹp độc đáo – không thể bỏ qua điều này. Dĩ nhiên đây chỉ là ý phụ, không cần phải triển khai kĩ.

2. Bài bật được vẻ đẹp độc đáo của từng thi phẩm.

- Vẻ đẹp của cảnh thu:

+ Thu điếu : Cảnh thu được đón nhận từ cận cảnh đến viễn cảnh, rồi lại từ viễn cảnh trở lại cận cảnh. Từ chiếc thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu và chiếc thuyền câu. Từ cảnh ao thu, không gian mùa thu được mở ra theo nhiều hướng với những cảnh sắc khác nhau. Thu điếu đúng là “ điển hình hơn cả mùa thu của làng cảnh Việt Nam” ( Xuân Diệu”). Cảnh vật ở đây lặng lẽ, thanh sơ, bé nhỏ, chuyển động rất nhẹ… Có lẽ đây là bài thơ thấm đẫm chất Việt Nam, dân dã và bình dị hơn cả trong ba bài thơ.

+ Thu ẩm: Cảnh vật được phác hoạ từ cận cảnh đến viễn cảnh. Tác giả cảm nhận cảnh thu từ ngôi nhà cỏ đơn sơ. Từ đây nhìn ra đường đi trong xóm, nhìn xuống mặt ao, rồi nhìn lên bầu trời biếc xanh vô tận. Bài thơ không miêu tả một thời điểm cụ thể mà khắc hoạ nhiều thời điểm khác nhau, thời điểm nào cũng mang hồn thu. Một trong những nét đặc sắc của bài này là cách miêu tả cảnh đêm và cảnh buổi chiều. Thu ẩm độc đáo ở giọng bông đùa như của người hơi chuếnh choáng…

+ Thu vịnh: Cảnh vật được miêu tả từ viễn cảnh đến cận cảnh, rồi từ cận cảnh tời viễn cảnh ( từ bầu trời nhìn xuống cành trúc, mặt nước, chùm hoa, bóng trăng; từ mặt đất lại hướng lên bầu trời) tuy cùng với nhiều thời điểm, nhiều không gian khác nhau. Đây là bức tranh toàn cảnh về mùa thu, mà đặc sắc nhất có lẽ là trời thu và trăng thu. Đây có lẽ là bài thơ trang trọng, cổ kính gần với thơ Đường nhất trong ba bài thơ.

- Vẻ đẹp của tình thu:

+ Thu điếu là nỗi cô quạnh , uẩn khúc, tâm sự đau buồn trước hiện tình đất nước, niềm gắn bó với thiên nhiên và quê hương, tấm lòng yêu nước thầm kín.

+ Thu ẩm in rõ nhất hình bóng và tâm trạng nhà thơ. Ông sống trong sự thanh đạm. Và có lẽ con người này rất dễ xúc động. Nhà thơ uống rượu để thưởng thức cảnh thu và quên sự đời. Tuy đã ẩn nhưng ông luôn nặng lòng trước thời thế.

+ Thu vịnh thể hiện nỗi buồn sâu lắng, dường như nó làm mất cả ý niệm thời gian, không gian. Cái thẹn của nhà thơ trước Đào Tiềm chứng tỏ phẩm chất tinh thần tuyệt vời của Nguyễn Khuyến.

- Vẻ đẹp của hình ảnh và ngôn ngữ:

Hình ảnh gần gũi, quen thuộc, rất Việt Nam. Ngôn ngữ tự nhiên mà điêu luyện, phần nhiều là từ thuần Việt ( so với một số cây bút đương thời); bài nào cũng có những từ được dùng một cách thần tình; không dùng điển cố, nếu có thì cũng đơn giản, tạo thêm sự hàm súc cho câu thơ. Thu điếu: ít hình ảnh tượng trưng, Thu ẩm: sống động, pha chút đùa vui; Thu vịnh: trang trọng, cổ kính.

- Sở dĩ mỗi bài thơ có một vẻ đẹp khác nhau là nhờ có tài năng và sự hiểu biết sâu sắc, sự gắn bó máu thịt của Nguyễn Khuyến với quê hương, đất nước. Nhờ có vẻ đẹp riêng nên ba bài thơ cùng bất tử, luôn hấp dẫn người đọc.

3. Nêu vắn tắt yêu cầu đối với một tác phẩm văn học: “ Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung” ( Lêônôp), tức là tác phẩm phải độc đáo, nhà văn phải sáng tạo.

Bài làm 1

Thu là thơ của đất trời

Thu là thơ của lòng người

Thu và thơ từ bao giờ đã là đôi bạn tri âm. Thu vào thơ mang theo nguồn thi hứng dạt dào. Thơ làm cho thu thêm phần đẹp đẽ hơn, nên thơ hơn gấp bội. Chẳng thế nào thơ về mùa thu đã góp một gia tài khổng lồ trong kho văn chương nhân loại. Chỉ riêng văn học Việt Nam cũng đủ tạo nên một kho thơ với Cảm thu, Tiễn thu (Tản Đà), Đây mùa thu tới, Ý thu (Xuân Diệu)… và nhất là chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến. “ Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh” ( Xuân Diệu). Mỗi bài một vẻ đẹp riêng, sức hấp dẫn riêng trong sự hòa điệu của hồn thơ thu Nguyễn Khuyến.

Mùa thu đi vào thơ ca trở thành nguồn mạch ngọt ngào vun đắp cho dòng thơ. Mỗi bài thơ là một vẻ hấp dẫn, mang theo sức hút, độ nặng, tầm cao riêng. Thu vốn đẹp và buồn. Thu vào thơ càng đẹp hơn, buồn hơn dưới cảm quan tinh tế của thi sĩ. Tâm hồn nhà thơ vốn mẫn cảm trước cái đẹp, tinh tế nhận ra một nét thu buồn, một vẻ thu thơ mộng, mê say. Trước đất trời, cảnh vật mùa thu, Nguyến Khuyến đã để cung đàn cảm xúc của mình ngân lên, bùng cháy lên thành những vần thơ tuyệt bút. Dường như mùa thu đã hút lòng thi sĩ. Một bài thơ về thu chưa thoả nỗi lòng Nguyễn Khuyến. Mỗi bài một vẻ mà bài nào cũng hay, cũng thấm sâu vào tâm hồn bạn đọc và bám rễ chắc ở đấy, “ động thấu tới những miền sâu xa nhất của trái tim con người”.

Viết về mùa thu, Nguyễn Khuyến đã gặp gỡ không chỉ thi ca truyền thống mà còn thi ca hiện đại, không chỉ thi ca Việt nam mà cả thi ca nước ngoài, không chỉ gặp gỡ hồn thơ Á Đông mà còn gặp gỡ hồn thơ phương Tây trước mùa thu. Dường như mùa thu trở thành nơi giao hoà, cộng hưởng, là điểm hẹn của tâm hồn thi sĩ muôn phương, ngàn đời.

Vẫn là mùa thu làng cảnh Việt nam bình dị nhưng dưới con mắt, tâm hồn cảm nhận tinh tế của Nguyễn Khuyến, mùa thu hiện lên mang những gương mặt, dáng điệu khác nhau. Nếu Thu điếu là bức tranh mùa thu xanh, sắc xanh trải ngàn, lênh láng, Thu vịnh là bức tranh mùa thu của gió nhẹ trời cao xanh trong, của tâm trạng hoài niệm thì Thu ẩm là bức tranh mùa thu đa vẻ đa diện được cảm nhận trong nhiều thời điểm, nhiều không gian.

Vẫn là bầu trời thu xanh ngắt nhưng mỗi bài thơ là một sắc điệu riêng:

Trời thu xanh ngắt mấy từng cao

( Thu vịnh)

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?

( Thu ẩm)

Tầng mây lơ lưng trời xanh ngắt

( Thu điếu)

Xanh ngắt là màu xanh như thế nào? Chỉ một từ nhưng Nguyễn Khuyến đã thu được và nẩy hồn trời thu lên trang thơ. Một màu xanh đến quá quắt. Bầu trời mùa thu không chỉ xanh, đó còn là bầu trời cao vời vợi, xanh bát ngắt, rộng mênh mông. Không gian mở ra thoáng đạt đến vô cùng. Xanh ngắt trở thành “ nhãn tự” của câu thơ, trở thành linh hồn của trời thu. Bầu trời dưới con mắt Nguyễn Khuyến đẹp lạ, cao xa, rộng đến ngút ngàn tầm mắt. Nó trở thành phông nền cho bức tranh thu.

Vẫn là màu xanh ngắt ấy nhưng khi thì Nguyễn Khuyến nói lời cảm nhận, miêu tả: Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao - một nét vẽ cho màu xanh chảy tràn suốt mấy từng trời cao rộng; lúc khác lại là một băn khoăn, một thắc mắc: Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?

Hẳn tạo hoá nhiệm màu nhuộm sắc xanh ngắt cho da trời mùa thu. Trước sắc màu tươi sáng của trời thu, thi sĩ sao tránh khỏi thoảng thốt giật mình vì vẻ đẹp mê say ấy. Câu hỏi không cần lời đáp. Hỏi chỉ để thể hiện sự ngạc nhiên, thảng thốt trước vẻ thu.

Phải chăng sự cấu từ, tổ chức ngôn từ khác nhau khiến sắc xanh ngắt kia sống mãi trong cả ba bài thơ thu? Ta giật mình gặp lại sắc màu nhưng ta còn giật mình, thú vị hơn khi được thay đổi góc độ cảm nhận sức màu ấy theo lăng kính thi nhân. Nguyễn Khuyến quả đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, điêu luyện của sự sáng tạo trong thi ca. Sắc xanh ngắt đã mới, đã là sự sáng tạo; cách thể hiện sắc xanh ngắt còn mới mẻ, độc đáo hơn. Ba câu thơ, ba hình ảnh thơ mà không rơi và thế nhàm chán, đơn điệu. ngược lại, câu chữ cuốn người đọc vào hành trình bất tận khám phá vẻ đẹp màu thu.

Đến với thế giới mùa thu trong Thu điếu, ta cơ hồ nhận ra cái gì cũng nhỏ bé, cũng khẽ khàng:

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợi tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Một chiếc thuyền bé lại còn bé tẻo teo. Tưởng chứng hình ảnh thu nhỏ kết cỡ. Trong không gian đầy ao đầm của làng quê Nguyễn Khuyến, con thuyền cũng nhỏ bé thôi, nhẹ nhàng trôi trên ao. Nếu không phải trong ao hẳn con thuyền sẽ chẳng bé tẻo teo như thế. Và cũng vì trong ao nên sóng biếc cũng chỉ hơi gợn tí. Gợn vốn là sự chuyển động rất mỏng , rất nhỏ, khó thấy… vậy mà câu thơ Nguyễn Khuyến lại dùng hơi gợn tí. Sự kết hợp từ ngữ độc đáo, mới lạ đã đưa hoạt động như có như không đạt đến độ vi mô, tế vi nhất. Ngay cả lá vàng trước gió cũng chỉ khẽ đưa vèo nhẹ nhàng, sẽ sàng. Câu thơ không tả gió, chỉ tả lá rơi mà vẻ nhẹ nhàng man mác của gió heo may vẫn được hiển hiện. Ba câu thơ, ba hình ảnh, ba nét vẽ mà hình ảnh nào cũng nhỏ bé, nhẹ nhàng, nét vẽ nào cũng thành thoát. Chỉ “ lẩy bút ti tí” mà khí thu, hơi thu đã hiện lên, dù nhẹ… Đặc biệt Thu điếu, với việc gieo vần eo, đã tạo nên cảm giác cái gì cũng thu nhỏ lại. Hoạt động cũng ít ỏi thôi. Âm thanh cũng nhẹ nhàng thôi, không gian hầu như tĩnh lặng tuyệt đối. Phải gắn bó với làng quê Việt Nam, phải tinh tế trong cảm nhận lắm, Nguyễn Khuyến mới thu vào trong thơ mình nét dịu nhẹ, cơ hồ như có như không, như hữu hình mà cũng như vô hình của nét thu. Khí thu khác hẳn với cảm nhận của Đỗ Phủ trong Thu hứng: Hơi thu hiu hắt, khí thu loà. Thu trong cảm quan nhà thơ mang linh hồn Việt Nam nhẹ nhàng và thanh sơ.

Cùng thể hiện sự nhẹ nhàng, man mác của gió thu, tiết thu, Nguyễn Khuyến trong thu vịnh viết: Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.

Nếu trong Thu điếu Nguyễn Khuyến lấy cái động của sóng, cái lá vàng rơi để tả gió, nói gió thì ở đây, trong Thu vịnh, nhà thơ lại dùng hình ảnh cần trúc lơ phơ để thể hiện sự dịu dàng, man mác của gió heo may đầu thu. Cần trúc là một hình ảnh rất quen, rất điển hình của làng quê Việt Nam, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Những đọt măng qua thời gian lớn lên, khẽ cong trước gió như cần trúc. Nhưng chỉ lơ phơ, hắt hiu miêu tả sự nhẹ, sự mỏng cùng song hành trong một câu thơ đã lắng vào đấy, quyện vào đấy không gian đất trời mùa thu, quyện vào đấy hơi thu, khí thu, một nét thu

Hoà trong khí thu, tiết thu thanh cao, dịu nhẹ ấy, không gian, khung cảnh mùa thu cũng mở ra nhiều chiều nên thơ và say mê lòng người. Tập trung nhất, cảm nhận nét thu dịu dàng, thơ mộng nhất có lẽ ở bài thơ Thu điếu:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé toẻ teo.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí.

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Không gian bức tranh mở ra tại ao thu lạnh lẽo, cái lạnh không thấm vào da thịt, không buốt xương, nó chỉ nhẹ nhàng, mơn man. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo lững lờ trên mặt nước ao thu ấy. Nước trong veo, xanh, trong, và sáng đến vô ngần. Phải trong, phải xanh, nhất là phải rất sáng mới có được làn nước ao trong veo như thế. Đến sóng gợn cũng phải biếc, cũng chứa sắc xanh đến nao lòng người. cùng hoà điệu với nước xanh, sóng xanh là bầu trời xanh ngắt. Sắc xanh như đổ tràn, kết nối mặt nước với bầu trời. Bầu trời xanh in bóng xuống mặt nước khiến mặt nước vốn trong lại xanh thêm. Mặt nước phải tĩnh lặng như tấm gương khổng lồ của tạo vật để bầu trời kia nghiêng mình soi bóng. Trời và nước giao hoà, kết nối. Trời cao vòi vọi, nước sâu thăm thẳm, tất cả đều kéo giãn không gian, mở rộng khoảng cách. Tưởng không có gì hơn giữa cõi thăm thẳm của nước trời độ thu. Giữa không gian cao, rộng và sâu ấy, chiếc lá vàng vốn nhỏ càng nhỏ thêm, rợn ngợp thêm. Sắc vàng duy nhất như đâm xiên giữa bao nhiêu là sắc xanh. Một chiếc lá, một sắc vàng nhỏ xíu khẽ đung đưa, trở thành tâm điểm, nổi bật lên trên nền không gian ấy. Bức tranh thiên nhiên cảnh vật rất thật và đẹp, sống động và xinh xắn. Nhìn sắc vàng của lá, ta nhớ đến câu thơ.

Một lá ngô đồng rụng

Thiên hạ biết thu sang

Chẳng cần nhiều sắc vàng của lá. Không gian mùa thu Việt Nam dưới cái nhìn của Nguyễn Khuyến ngợp sắc xanh, khác hẳn màu áo mơ phai trong thơ Xuân Diệu:

Đây mùa thu tới – mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng

Đâu cứ phải sắc vàng mới dệt nên mùa thu, đâu cứ phải chỉ bức tranh mùa thu vàng của Lêvitan mới đẹp, mới đắm say lòng người. Nguyễn Khuyến, bằng vốn ngôn ngữ giàu chất gợi, chất họa, đã vẽ nên một màu thu xanh nên thơ rất Việt Nam làm say đắm lòng bất cứ một người nào đã từng sống với thu, với làng quê đất Việt trong tiếng thu. Thậm chí, những câu này của Nguyễn Khuyến đủ giúp ai chưa từng sống ở cảnh ấy, không gian ấy thêm yêu mến và khát khao tìm về hoà điệu cùng cảnh vật, lòng người hay chí ít, đủ tạo cảm giác ta đã sống, đã cảm nhận sâu sắc, cảm nhận đủ đầy mùa thu Việt Nam nơi chốn quê thanh bình, yên tĩnh.

Khác với không gian Thu điếu, Thu vịnh, bài thơ Thu ẩm lại tạo nên mọt vẻ đẹp khác rất quen mà sao vẫn hấp dẫn, cuốn hút, mê say. Bài thơ mở ra không phải là không gian cao trong, rộng rãi, khoáng đạt đến vô cùng của Thu điếu, Thu vịnh, không phải là trời mây, non nước, là thiên nhiên tạo vật đắm say. Bài thơ mở ra một không gian gần gũi, thân thuộc của quê nghèo Việt Nam buổi ấy:

Năm gian nhà cỏ thấp le te

Ngõ tối đêm sâu đóm lập lèo.

Năm gian nhà cỏ hiện lên đủ để tạo cảm nhận về sự nghèo đói của quê hương, của đời riêng Nguyễn Khuyến nhưng còn nghèo hơn, khổ hơn, tăm tối hơn với cụm từ thấp le te. Đã thấp lại còn le te! Tưởng như năm gian nhà chạm đất được. Phải chăng đấy là hình ảnh rất chân thực của làng quê ông, một vùng đồng bằng chiêm trũng chưa mưa đã úng, quanh năm đói nghèo? Cảnh vẫn đẹp, vẫn nên thơ say lòng nhưng cuộc sống thì lấm lem, nghèo đói:

Năm gian nhà cỏ thấp le te

Ngõ tối đêm sâu đóm lập lèo

Nhà thấp. Một sự tối. Lại thêm ngõ tối, đêm sâu. Không gian càng tối đen, ngột ngạt hơn. Giữ đêm tối mịt mùng, sự lập lòe của đom đóm không làm sáng lên không gian, không làm ấm lên. Ngược lại cảm giác tối càng rợn ngợp hơn, đặc quánh lại, đầy ám ảnh. Phải nói rằng, Nguyễn Khuyến đã rời khỏi không gian tràn đầy ánh sáng, tràn đầy màu sắc đẹp đẽ của thu để trở về cảm thương trước cảnh sống, trước không gian sống quen thuộc quanh mình. Đọc những vần thơ ấy, ta có cảm giác Nguyễn Khuyến như nhói lòng trước cảnh ấy, trước hiện thực tăm tối ấy. Bài thơ vì thế nhưng ngoặt sang hướng khác, không còn nữa sự thảnh thơi, thư thái trước đất trời tạo vật. Thế nhưng:

Lưng giậu phát phơ màu khói nhạt

Làm ao lóng lánh bóng trăng loe.

Câu thơ không tả trăng, chỉ gợi về trăng nhưng đủ để vẻ đẹp ấy ngời toát, lung linh. Ta đã gặp nhiều hình ảnh về trăng trong thơ, nhất là thơ thu. Đây là trăng trong thơ Xuân Diệu: Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ - một vầng trăng như người con gái đầy tâm trạng ngẩn ngơ. Và đây là trăng thu trong thơ Bác: Trung thu trăng sáng như gương. Nó khác hẳn trăng trong thơ Nguyễn Khuyến. Trăng không hiện hình, trăng ẩn mặt, nhưng mặt ao vẫn soi được bóng trăng. Trăng dát bạc lên mặt ao khiến cho không gian lung linh, lóng lánh đầy ánh sáng. Sắc trăng, ánh trăng như loe dài, như lan tỏa trên mặt ao. Từ loe được Nguyễn Khuyến sử dụng rất đắt, tạo nên duyên riêng của trăng, của câu thơ, tạo nên vẻ đẹp riêng của bài thơ.

Có thể nói, bức tranh cảnh thu ở mỗi bài thơ là một vẻ riêng, một nét đẹp riêng không hoà lẫn. Cùng với việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, điêu luyện, Nguyễn Khuyến đã góp những tiếng thơ hay, những bài thơ hấp dẫn, độc đáo trong thơ thu. Có lẽ hiếm có một tác giả nào có thể để lại chùm thơ cùng đề tài tài sống mãi , cuốn hút, giành được sự yêu mến mãi như Nguyễn Khuyến với ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm.Thu vịnh. Đặc biệt không chỉ sáng tạo mới mẻ trong thể hiện cảnh thu, Nguyễn Khuyến còn đặt dấu ấn riêng trong hình ảnh nhân vật trữ tình. Tất cả đều mang nét buồn nhưng mỗi bài thơ là một vẻ riêng không giống nhau. Ở Thu điếu, nhân vật trữ tình dường như chìm khuất trong hình ảnh. Hiển hiện lên trang thơ là con người vui thú “ an bần lạc đạo”, vui cùng điền viên nhưng kì thực đã thả hồn theo đất trời thu hay nỗi niềm gì lẩn khuất tự bao giờ. Tựa gối ôm cần nhưng chẳng hề chú tâm đến việc câu. Thu điếu vậy mà điếu hầu nhưng chẳng được may may bận tâm. Cái còn lại có chăng chỉ là con người mang nặng tâm trạng, tìm về với thiên nhiên đất trời để “ thanh lọc tâm hồn”, để tìm chỗ nghỉ trên chặng đường đời. Ở Thu ẩm ấy lại là người uống rượu, say sưa với tâm sự u uất , gửi vào đó bao nhiêu nỗi niềm không thể nào giải tỏa. Con mắt đỏ hoe kia hẳn không phải là say rượu. Có lẽ đó là do khóc cho đời, cho kiếp người chăng? đằng sau vẻ uống rượu đến say nhè, đằng sau hình ảnh mắt lão không vầy cũng đỏ hoe kia chứa đựng biết bao nhiêu tâm trạng, bao nhiêu nỗi niềm.

Rồi nữa, ở Thu vịnh lại là con người mang tâm trạng hoài niệm xa xăm.

Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Tâm trạng thảng thốt như đang gửi ở phương nào nay sực tỉnh. Thi hứng tràn về, vậy mà chẳng thể nào cất bút: Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Thẹn vì lẽ tài thơ chưa bằng hay thẹn vĩ nỗi không có khí phách, chí khí của Đào Tiềm? Có lẽ là cả hai nhưng căn cốt vẫn ở phần sau. Phải chăng đó cũng là nỗi u uẩn trong hai bài thơ trên chưa thể nói ra. Cùng một tâm trạng, cùng một nỗi lòng nhưng mỗi lần mỗi khác, những nét vẻ riêng, những diện mạo riêng không hoà lẫn tạo là không ngừng nghỉ. “ Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có” (Nam Cao). Một tác phẩm như thế tất sẽ tạo nên một lực đủ để nâng nó vượt lên trên mọi dập vùi của định kiến.

Tác phẩm văn học thực sự có giá trị khi nó nói thật, nói chân thành, xúc động và nhất là nói hay về một vẻ đẹp, một cảnh, một tình. Sự đòi hỏi của văn chương là nghiệt ngã, là khắt khe. Chẳng thế mà Nguyễn Bính từng phải kêu lên:

Ai bảo dính vào duyên bút mực.

Suốt đời mang lấy số long đong.

Tác phẩm có giá trị trường tồn cùng thời gian. Cùng với nó, tên tuổi nhà văn, phong cách tác giả sống mãi. Mỗi tác phẩm văn học đích thực là một động lực thúc đẩy sự phát triển của dòng văn học, của kiểu sáng tác và cả nền văn học nói chung.

Có thể nói, Nguyễn Khuyến, bằng tài năng và trái tim người nghệ sĩ, đã cảm nhận và thể hiện tinh tế mùa thu với sắc vẻ riêng, nên thơ và hấp dẫn lạ lì. Nó đã đạt được những yêu cầu chung đối với bất kì tác phẩm văn học chân chính nào: “ Thơ là hiện thực, là cuộc đời và còn là thơ nữa”. Cuộc đời cộng hưởng trong cái nhìn, cảm quan người nghệ sĩ tạo nên vốn chất liệu làm thành tác phẩm. Chất hồ kết dính, nhào nặn nó chính là sự liên tưởng, tưởng tượng, sự sáng tạo của riêng thi sĩ. Vì thế chăng mà ba bài thơ thu cùng tên tuổi Nguyễn Khuyến sống mãi? Thực tế văn học đặt ra yêu cầu bức thiết cho mỗi nhà văn khi bước chân vào làng văn là phải sống thực sự mà đón nhận tinh lọc cuộc đời, đãi cát tìm vàng giữa biển đời rộng lớn, tinh luyện nên chất muối cuộc đời từ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa khách quan hiện thực và chủ quan nhà thơ, kết hợp cuộc đời với trái tim giùa xúc cảm, dễ ngân rung của người sáng tác. Đó không chỉ là đòi hỏi với cá nhân nhà thơ mà cả với dòng thơ, nên thơ.

rất Việt Nam nhẹ và êm.

Nhắn tin cho tác giả Từ Thị Thúy Nhẫn @ 06:01 23/08/2011 Số lượt xem: 21370 Số lượt thích: 0 người

Từ khóa » Cảm Nhận Thu điếu Học Sinh Giỏi