Ban-giai-sieu-ly-tieu-hoc - 123doc

GIẢI TRANG I Vô Tỷ Pháp (Abhidhamma) – Bản Giải Siêu Lý Tiểu Học (Cảo Bản) 1 PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY THERAVĀDA ~~~~~~~~ VÔ TỶ PHÁP (ABHIDHAMMA) BẢN GIẢI SIÊU LÝ TIỂU HỌC SIÊU LÝ HIỆP ĐỒNG (PARAMA[.]

Trang 2

PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

Trang 3

Arahaṃ sammāsambuddho bhagavā Buddhaṃ Bhagavantaṃ abhivādemi

Svākkhato Bhagavatā dhammo dhammaṃ namassami

Suppaṭipanno Bhagavato sāvakasaṅgho sanghaṃ namāmi

Việt dịch:

Đại trưởng lão Hòa thượng Tịnh Sự Nguyên Cố vấn I, kiêm trưởng ban phiên dịch Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy (Theravāda) - Việt Nam

~~~~~~~~

Trang 4

LỜI TỰA

Tại Thái Lan, vào những thập niên 60, Abhidhamma được giảng dạy theo 3 cấp học là tiểu học, trung học và cao học Saddhammajotikathero là giáo thọ sư người Miến Ngài được thỉnh sang Thái để giảng dạy bộ môn Abhidhamma Trong quá trình giảng dạy, Trưởng lão

Sương Minh (Saddhammajotikathero) đã biên soạn Bản giải Siêu lý bằng tiếng Thái nhằm

phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn Vô tỷ pháp tại Thái Lan

Trong những năm HT Tịnh Sự (Mahāthero Santakicco) du học tại Thái, ngài đã thọ giáo

những cấp học này Khi đã hoàn tất việc tu học nơi xứ người, ngài trở về Việt Nam Trưởng lão Tịnh Sự đã đem rất nhiều tài liệu quý về nước và chuyên tâm nghiêm cứu về môn học Abhidhamma này Ngài đã lần lượt chuyển ngữ những bản tài liệu ấy sang tiếng Việt Trong quá trình chuyển ngữ, Ngài đã dựa theo Bản giải Siêu lý tiếng Thái Lan, bản Diệu Pháp lý hợp

(Abhidhammatthasaṅgaha), Kho tàng Pháp học của Thái Lan, Diệu Pháp trác tri (Abhidhammāvatāra), Siêu lý từ giải (Paramaṭṭhadīpanītīkā), Thanh tịnh đạo (Visuddhimaggo), chú giải bộ Pháp tụ (Atthasālinī) v.v… để hình thành những Bản giải Siêu lý

Tiểu học, Trung học, Cao học và giảng dạy lại cho Tăng ni, Phật tử theo học tại Việt Nam Tháng 6 năm 1973 (Pl 2517), bản giải Siêu lý tiểu học này được hoàn thành

Bản giải Siêu lý tiểu học gồm các phần học sơ đẳng Nói là các phần học sơ đẳng vì phần học này trang bị kiến thức ban đầu cần phải có trước khi đi chuyên vào nghiên cứu các quyển Chánh tạng Abhidhamma Phần đầu của bản giải là những phần học để có kiến thức căn bản làm nền tảng; phần sau là phần giải những mẫu đề tam, nhị đề, nhị đề kinh trong bộ Pháp tụ thuộc bộ thứ nhất trong 7 bộ Chánh tạng Abhidhamma

Chúng tôi được biết, trong khoảng những thập niên 70, việc in ấn khó khăn nên những bản dịch chỉ được thể hiện ở những tập đánh máy, quay roneo đơn giản Bản giải Siêu lý nguyên bản tiếng Thái được thể hiện ở dạng những tập mỏng chứ không được in ấn thành quyển Sau khi được HT Tịnh Sự chuyển ngữ, bản tiếng Việt được quay roneo nên số lượng lưu hành không được nhiều Trải qua 39 năm, nay, chúng tôi là những bậc hậu bối được tiếp cận tập bản giải này và phát tâm xuất bản những Bản giải Siêu lý Tiểu học, Trung học, Cao học, nhằm gìn giữ lại những tài liệu quý báu của những bậc Tiền bối và để làm tài liệu nghiên cứu cho Tăng, Ni, Phật tử

Với những tập Bản giải Siêu lý được phát hành, chúng tôi cầu nguyện cho Phật Pháp được trường tồn Cầu mong cho chúng sanh mau hết khổ, được thọ hưởng cuộc sống an lạc, được quả báu làm trời-người để tiếp cận Chánh Pháp và hưởng được quả vị giải thoát

Tổ đình Bửu Quang, Thủ Đức Mùa an cư 2556 (tháng 10 năm 2012)

TM Ban Ấn tống

TN Quang Kiến

~~~~~~~~

Trang 6

TỪ NGỮ HỌC SIÊU LÝ PĀḶI - VIỆT

215 THEO BẢNG SỐ (sửa bảng danh theo đây)

1 Somanassasahagataṃ diṭṭhigatasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ hỷ hợp tà không trợ

2 Somanassasahagataṃ diṭṭhigatasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ hỷ hợp tà có trợ

3 Somanassasahagataṃ diṭṭhigatavippayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ hỷ ly tà không trợ

4 Somanassasahagataṃ diṭṭhigatavippayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ hỷ ly tà có trợ

5 Upekkhāsahagataṃ diṭṭhigatasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ xả hợp tà không trợ

6 Upekkhāsahagataṃ diṭṭhigatasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ xả hợp tà có trợ

7 Upekkhāsahagataṃ diṭṭhigatavippayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ xả ly tà không trợ

8 Upekkhāsahagataṃ diṭṭhigatavippayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ xả ly tà có trợ

9 Domanassasahagataṃ paṭighasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ ưu hợp phẫn không trợ

10 Domanassasahagataṃ paṭighasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ ưu hợp phẫn có trợ

11 Upekkhāsahagataṃ vicikicchāsampayuttaṃ: thọ xả hợp hoài nghi

12 Upekkhāsahagataṃ uddhaccasampayuttaṃ: thọ xả hợp phóng dật

13 Upekkhāsahagataṃ cakhuviññāṇaṃ: nhãn thức thọ xả

14 Upekkhāsahagataṃ sotaviññāṇaṃ: nhĩ thức thọ xả

15 Upekkhāsahagataṃ ghānaviññāṇaṃ: tỷ thức thọ xả

16 Upekkhāsahagataṃ jivhāviññāṇaṃ: thiệt thức thọ xả

17 Dukkhasahagataṃ kāyaviññāṇaṃ: thân thức thọ khổ

18 Upekkhāsahagataṃ sampaṭicchanacittaṃ: tâm tiếp thâu thọ xả

19 Upekkhāsahagataṃ santīraṇacittaṃ: tâm quán sát thọ xả

20 Upekkhāsahagataṃ cakhuviññāṇaṃ: nhãn thức thọ xả

21 Upekkhāsahagataṃ sotaviññāṇaṃ: nhĩ thức thọ xả

22 Upekkhāsahagataṃ ghānaviññāṇaṃ: tỷ thức thọ xả

23 Upekkhāsahagataṃ jivhāviññāṇaṃ: thiệt thức thọ xả

24 Sukkhāsahagataṃ kāyaviññāṇaṃ: thân thức thọ lạc

25 Upekkhāsahagataṃ sampaṭicchanacittaṃ: tâm tiếp thâu thọ xả

26 Upekkhāsahagataṃ santīranacittaṃ: tâm quán sát thọ xả

27 Somanassasahagataṃ santīranacittaṃ: tâm quán sát thọ hỷ

28 Upekkhāsahagataṃ pañcadvārāvajjanacittaṃ: tâm khán ngũ môn thọ xả

29 Upekkhāsahagataṃ manodvāravajjanacittaṃ: tâm khán ý môn thọ xả

30 Somanassasahagataṃ hasiyuppādacittaṃ: tâm sinh tiếu thọ hỷ

31 Somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ hỷ hợp trí không trợ

32 Somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ hỷ hợp trí có trợ

33 Somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ hỷ ly trí không trợ

34 Somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ hỷ ly trí có trợ

35 Upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ xả hợp trí không trợ

36 Upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ xả hợp trí có trợ

37 Upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ xả ly trí không trợ

38 Upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ xả ly trí có trợ

39 Somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ hỷ hợp trí không trợ

Trang 7

40 Somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ hỷ hợp trí có trợ

41 Somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ hỷ ly trí không trợ

42 Somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ hỷ ly trí có trợ

43 Upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ xả hợp trí không trợ

44 Upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ xả hợp trí có trợ

45 Upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ xả ly trí không trợ

46 Upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ xả ly trí có trợ

47 Somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ hỷ hợp trí không trợ

48 Somanassasahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ hỷ hợp trí có trợ

49 Somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ hỷ ly trí không trợ

50 Somanassasahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ hỷ ly trí có trợ

51 Upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ xả hợp trí không trợ

52 Upekkhāsahagataṃ ñāṇasampayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ xả hợp trí có trợ

53 Upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ asaṅkhārikaṃ: thọ xả ly trí không trợ

54 Upekkhāsahagataṃ ñāṇavippayuttaṃ sasaṅkhārikaṃ: thọ xả ly trí có trợ

55 Vitakka vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ pathamajjhāna kusalacittaṃ: tâm thiện sơ thiền đồng sanh với tầm, tứ, hỷ, lạc, định

56 Vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ dutiyajjhāna kusalacittaṃ: tâm thiện nhị thiền đồng sanh tứ, hỷ, lạc và định

57 Pīti sukha ekaggatā sahitaṃ tatiyajjhāna kusalacittaṃ: tâm thiện tam thiền đồng sanh hỷ, lạc và định

58 Sukha ekaggatā sahitaṃ catutthajjhāna kusalacittaṃ: tâm thiện tứ thiền đồng sanh lạc và định

59 Upekkhā ekaggatā sahitaṃ pañcamajjhāna kusalacittaṃ: tâm thiện ngũ thiền đồng sanh

Trang 8

69 Upekkhā ekaggatā sahitaṃ pañcamajjhāna kirīyacittaṃ: tâm hạnh ngũ thiền đồng sanh xả

Trang 9

92 Vitakka vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ pathamajjhāna anāgāmimaggacittaṃ: tâm đạo bất lai sơ thiền đồng sanh tầm, tứ, hỷ, lạc và định

93 Vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ dutiyajjhāna anāgāmimaggacittaṃ: tâm đạo bất lai nhị thiền đồng sanh tứ, hỷ, lạc và định

94 Pīti sukha ekaggatā sahitaṃ tatiyajjhāna anāgāmimaggacittaṃ: tâm đạo bất lai tam thiền đồng sanh hỷ, lạc và định

95 Sukha ekaggatā sahitaṃ catutthajjhāna anāgāmimaggacittaṃ: tâm đạo bất lai tứ thiền đồng sanh lạc và định

96 Upekkhā ekaggatā sahitaṃ pañcamajjhāna anāgāmimaggacittaṃ: tâm đạo bất lai ngũ thiền đồng sanh xả và định

97 Vitakka vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ pathamajjhāna arahattamaggacittaṃ: tâm đạo

vô sanh sơ thiền đồng sanh tầm, tứ, hỷ, lạc và định

98 Vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ dutiyajjhāna arahattamaggacittaṃ: tâm đạo vô sanh nhị thiền đồng sanh tứ, hỷ, lạc và định

99 Pīti sukha ekaggatā sahitaṃ tatiyajjhāna arahattamaggacittaṃ: tâm đạo vô sanh tam thiền đồng sanh hỷ, lạc và định

100 Sukha ekaggatā sahitaṃ catutthajjhāna arahattamaggacittaṃ: tâm đạo vô sanh tứ thiền đồng sanh lạc và định

101 Upekkhā ekaggatā sahitaṃ pañcamajjhāna arahattamaggacittaṃ: tâm đạo vô sanh ngũ thiền đồng sanh xả và định

102 Vitakka vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ pathamajjhāna sotāpattiphalacittaṃ: tâm quả thất lai sơ thiền đồng sanh tầm, tứ, hỷ, lạc và định

103 Vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ dutiyajjhāna sotāpattiphalacittaṃ: tâm quả thất lai nhị thiền đồng sanh tứ, hỷ, lạc và định

104 Pīti sukha ekaggatā sahitaṃ tatiyajjhāna sotāpattiphalacittaṃ: tâm quả thất lai tam thiền đồng sanh hỷ, lạc và định

105 Sukha ekaggatā sahitaṃ catutthajjhāna sotāpattiphalacittaṃ: tâm quả thất lai tứ thiền đồng sanh lạc và định

106 Upekkhā ekaggatā sahitaṃ pañcamajjhāna sotāpattiphalacittaṃ: tâm quả thất lai ngũ thiền đồng sanh xả và định

107 Vitakka vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ pathamajjhāna sakadāgāmiphalacittaṃ: tâm quả nhứt lai sơ thiền đồng sanh tầm, tứ, hỷ, lạc và định

108 Vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ dutiyajjhāna sakadāgāmiphalacittaṃ: tâm quả nhứt lai nhị thiền đồng sanh tứ, hỷ, lạc và định

109 Pīti sukha ekaggatā sahitaṃ tatiyajjhāna sakadāgāmiphalacittaṃ: tâm quả nhứt lai tam thiền đồng sanh hỷ, lạc và định

110 Sukha ekaggatā sahitaṃ catutthajjhāna sakadāgāmiphalacittaṃ: tâm quả nhứt lai tứ thiền đồng sanh lạc và định

111 Upekkhā ekaggatā sahitaṃ pañcamajjhāna sakadāgāmiphalacittaṃ: tâm quả nhứt lai ngũ thiền đồng sanh xả và định

112 Vitakka vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ pathamajjhāna anāgāmiphalacittaṃ: tâm quả bất lai sơ thiền đồng sanh tầm tứ hỷ lạc và định

113 Vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ dutiyajjhāna anāgāmiphalacittaṃ: tâm quả bất lai nhị thiền đồng sanh tứ, hỷ, lạc và định

114 Pīti sukha ekaggatā sahitaṃ tatiyajjhāna anāgāmiphalacittaṃ: tâm quả bất lai tam thiền đồng sanh hỷ, lạc và định

Trang 10

115 Sukha ekaggatā sahitaṃ catutthajjhāna anāgāmiphalacittaṃ: tâm quả bất lai tứ thiền đồng sanh với lạc và định

116 Upekkhā ekaggatā sahitaṃ pañcamajjhāna anāgāmiphalacittaṃ: tâm quả bất lai ngũ thiền đồng sanh với xả và định

117 Vitakka vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ pathamajjhāna arahattaphalacittaṃ: tâm quả

vô sanh sơ thiền đồng sanh với tầm, tứ, hỷ, lạc và định

118 Vicāra pīti sukha ekaggatā sahitaṃ dutiyajjhāna arahattaphalacittaṃ: tâm quả vô sanh nhị thiền đồng sanh với tứ, hỷ, lạc và định

119 Pīti sukha ekaggatā sahitaṃ tatiyajjhāna arahattaphalacittaṃ: tâm quả vô sanh tam thiền đồng sanh với hỷ, lạc và định

120 Sukha ekaggatā sahitaṃ catutthajjhāna arahattaphalacittaṃ: tâm quả vô sanh tứ thiền đồng sanh với lạc và định

121 Upekkhā ekaggatā sahitaṃ pañcamajjhāna arahattaphalacittaṃ: tâm quả vô sanh ngũ thiền đồng sanh với xả và định

147 Midda: thùy miên

148 Vicikicchā: hoài nghi

149 Saddhā: tín

2 Định ở đây còn có tên gọi khác là nhất thống hay nhất hành (theo quyển Nội dung Vô Tỷ Pháp được lưu hành năm 1983,

do Hòa thượng Tịnh Sự soạn dịch)

3 Phóng dật còn gọi là điệu cử (cũng theo quyển Nội dung Vô Tỷ Pháp)

Trang 11

150 Sati: niệm

151 Hiri: tàm

152 Ottapa: úy

153 Alobha: vô tham

154 Adosa: vô sân

155 Tattaramajjhattatā: hành xả4

156 Kāyapassaddhi: tịnh thân

157 Cittapassaddhi: tịnh tâm

158 Kāyalahutā: khinh thân

159 Cittalahutā: khinh tâm

160 Kāyamudutā: nhu thân

161 Cittamudutā: nhu tâm

162 Kāyakammaññatā: thuần thân

163 Cittakammaññatā: thuần tâm

181 Jīvhāpasāda: thần kinh thiệt

182 Kāyapasāda: thần kinh thân

4 Hành xả còn gọi là trung gian hay trung bình

5 Thần kinh cũng được gọi là thanh triệt

6 Sắc trạng thái nữ hay nam có tên khác là sắc nam hay nữ tính

7 Sắc tim còn gọi là sắc ý vật

8 Sắc hư không hay sắc giao giới

Trang 12

193 Āyaviññatti: thân tiêu biểu.9

194 Vacīviññatti: khẩu tiêu biểu

203 Vijjamānapaññatti: danh siêu12 chế định

204 Avijjamānapaññatti: phi danh siêu chế định

205 Vijjamānena avijjamānapaññatti: danh siêu phi danh siêu chế định

206 Avijjamānena vijjamānapaññatti: phi danh siêu danh siêu chế định

207 Vijjamānena vijjamānapaññatti: danh siêu danh siêu chế định

208 Avijjamānena avijjamānapaññatti: phi danh siêu phi danh siêu chế định

209 Santānapaññatti: hình thức chế định

210 Samūhapaññatti: hiệp thành chế định

211 Sattapaññatti: chúng sanh chế định

212 Disāpaññatti: phương hướng chế định

213 Kāla utupaññatti: thời tiết chế định

214 Kūpagūhāpaññatti: huyệt ao chế định hay là ākāsapaññatti: hư không chế định

215 Nimittapaññatti: tiêu biểu chế định

Thêm từ ngữ theo cách đọc tập một

216 Lobhamūlacitta: tâm tham

217 Dosamūlacitta: tâm sân

218 Mohamūlacitta: tâm si

219 Ausalamūlacitta: tâm bất thiện

220 Akusalavipākacitta: tâm quả bất thiện

221 Kusala ahetuvipākacitta: tâm quả thiện vô nhơn

222 Ahetukavipākacitta: tâm quả vô nhơn

223 Ahetukakiriyācitta: tâm hạnh13 vô nhơn

224 Ahetukacitta: tâm vô nhơn

225 Asobhaṇacitta: tâm vô tịnh hảo

226 Mahākusalacitta: tâm đại thiện

227 Mahāvipākacitta: tâm đại quả

228 Mahākiriyācitta: tâm đại hạnh, đại hành, đại duy tác,…

229 Sobhaṇakāmāvacaracitta: tâm dục giới tịnh hảo

230 Rūpāvacaracitta: tâm sắc giới

9 hay gọi là sắc biểu tri

10 còn được gọi là sắc thích sự

11 gọi là tích trữ, sắc tiến gọi là sắc thừa kế, sắc dị là sắc lão mại, sắc diệt gọi là sắc vô thường

12 còn được gọi là danh chơn

13 cũng gọi là tâm duy tác hay tâm tố

Trang 13

231 Kāmavacaracitta: tâm dục giới

232 Rūpāvacarakusalacitta: tâm thiện sắc giới

233 Rūpāvacaravipākacitta: tâm quả sắc giới

234 Rūpāvacarakiriyācitta: tâm hạnh sắc giới

235 Arūpāvacarakusalacitta: tâm thiện vô sắc giới

236 Arūpāvacaravipākacitta: tâm quả vô sắc giới

237 Arūpāvacarakiriyācitta: tâm hạnh vô sắc giới

238 Arūpāvacaracitta: tâm vô sắc giới

239 Mahaggatācitta: tâm đáo đại

240 Lokīyacitta: tâm hiệp thế

241 Sotāpattimaggacitta: tâm đạo dự lưu (sơ đạo)

242 Sakadāgāmimaggacitta: tâm đạo nhứt lai (nhị đạo)

243 Anāgāmimaggacitta: tâm đạo bất lai (tam đạo)

244 Aharattamaggacitta: tâm đạo vô sanh (tứ đạo)

245 Maggacitta: tâm đạo

246 Sotāpattiphalacitta: tâm quả thất lai (sơ quả)

247 Sakadāgāmiphalacitta: tâm quả nhứt lai (nhị quả)

248 Anagāmiphalacitta: tâm quả bất lai (tam quả)

249 Arahattaphalacitta: tâm quả vô sanh hay ứng cúng (tứ quả)

250 Lokuttaraphalacitta: tâm quả siêu thế

251 Lokuttaracitta: tâm siêu thế

252 Sabbacittapādhāraṇacetasika: sở hữu biến hành

253 Pakiṇṇaka cetasika: sở hữu biệt cảnh

254 Aññasamanā cetasika: sở hữu tợ tha

255 Mocatukacetasika: sở hữu si phần

256 Lotikacetasika: sở hữu tham phần

257 Docatucetasika: sở hữu sân phần

258 Dvitukacetasika: sở hữu hôn phần

259 Akusalacetasika: sở hữu bất thiện

260 Sobhaṇa sādhāranacetasika: sở hữu tịnh hảo biến hành

261 Viratīcetasika: sở hữu giới phần

262 Appamaññācetasika: sở hữu vô lượng phần

263 Cetasika: sở hữu tâm

264 Nāmadhamma: danh pháp (hữu vi)

Trang 14

273 Saṅkhatadhamma: pháp hữu vi

274 Asaṅkhatadhamma: pháp vô vi

275 Paramaṭṭha: siêu lý, siêu thế, siêu cách

276 Saddāpaññatti (paññāpīyapaññatti): thinh danh chế định

277 Aṭṭhapaññatti (paññāpanapaññatti): tướng nghĩa chế định

278 Dhamma: pháp, phép

279 Rogayaṭṭha: bệnh hoạn

280 Asundaraṭṭha: không tốt đẹp

281 Achakaṭṭha: không khôn khéo

282 Savajjaṭṭha: có sai lỗi

283 Dukkhavipākaṭṭha: để nghiệp tạo quả khổ

284 Sampayuttahotu: nhơn tương ưng

285 Maggasacca: đạo đế

286 Manussa: nhơn loại

287 Devadā: chư Thiên

THÊM TỪ PALI VIỆT PHẦN CÁCH ĐỌC TẬP HAI

293 Bhūmi: cõi, địa

301 Sampayutta: tương ưng

302 Jhānacitta: tâm thiền

303 Vippayutta: bất tương ưng (bất hợp)

304 Asaṅkhārika (asaṅkhārikamekaṃ): vô trợ, không trợ

305 Sasaṅkhārika (sasaṅkhārikamekaṃ): hữu trợ, có trợ

306 Hetu: nhơn

307 Abyākatā: vô ký

308 Jāti: giống, loại, sanh,…

309 Ajhānacitta: tâm phi thiền

310 Pathamajjhāna: sơ thiền

311 Dutiyajjhāna: nhị thiền

312 Tatiyajjhāna: tam thiền

313 Catuthajjhāna: tứ thiền

Trang 15

314 Pañcamajjhāna: ngũ thiền

315 Cittabheda: chia tâm, phân tâm

316 Paricheda: hợp đồng, hiệp đồng

317 Aviparito: không biến đổi

318 Avatthābhūmi: bị hạn định ranh (giới)

319 Kāma avatthābhūmi: bị hạn định sanh bằng dục

320 Rūpa avatthābhūmi: bị hạn định sanh bằng sắc

321 Arūpa avatthābhūmi: bị hạn định sanh bằng vô sắc

322 Lokuttara avatthābhūmi: vượt khỏi hạn định sanh

323 Jātibhedanaya: cách chia theo giống

324 Bhūmibhedanaya: cách chia theo cõi

325 Sobhaṇabhedanaya: cách chia theo tịnh hảo

326 Lokabhedanaya: cách chia theo hiệp thế, siêu thế

327 Hetubhedanaya: cách chia theo nhơn

328 Jhānabhedanaya: cách chia theo thiền

329 Vedanābhedanaya: cách chia theo thọ

330 Sampayogabhedanaya: cách chia theo phối hợp (tương ưng)

331 Saṇkhārabhedanaya: chia theo trợ

sattarasa là 17 Pañcadasa là 18

Ekūnavīsati hay ūnavīsa là 19 Vīsa hay vīsati là 20

Trang 16

GIẢI TẬP GỒM PHÁP

~~~~~~~~

Giải trang 1

Gồm tức là nói chung nhiều pháp, hay kể nhiều pháp kêu lại một tên

 Tâm là còn nói theo chữ Trung hoa giọng Việt, dịch ra Việt văn là “biết” tức là biết cảnh (những gì bị biết đều đặng kêu là cảnh)

 Tham là ham muốn, nhiễm đắm, chấp cứng, gặp lục trần như đá nam châm đụng sắt

Tâm tham là những tâm có sở hữu tham làm rễ (căn) Mà chỉ gọi tâm tham là đủ lý Vì không có tâm tham nào mà không có sở hữu tham làm căn và không có sở hữu tham nào chẳng phải căn tham hay nhơn tham (trừ ra chỉ mượn dùng theo chỗ khác)

Hoặc có người cho là dịch thiếu, nên chúng tôi xin đem thí dụ như người muốn uống sữa, đến tiệm nước sẵn có sữa hộp toàn sữa bò, nhưng người khách chỉ kêu một ly sữa mà khỏi phải nói cho tôi một ly sữa bò hoặc kể khuấy bằng nước sôi v.v…

 Sân là giận, hờn, buồn, rầu, sai khiến khóc lóc, giết hại hoặc rủa v.v…

Những tâm mà có sở hữu sân làm căn gốc rễ nên gọi là tâm sân

 Si là tối tăm, mờ ám, lờ khờ v.v… đối lập với trí tuệ

Những tâm mà có sở hữu si làm căn gốc rễ nên gọi là tâm si

Tâm tham, tâm sân đã gọi cũng có sở hữu si làm căn mà đã mượn tham, sân định danh rồi thì khỏi trình bày si làm chi

Còn tâm si ngoài căn si ra không còn căn nào nữa, nên cứ mượn căn si mà gọi tâm si đó thôi

Những tâm có sở hữu bất thiện hợp nên gọi là tâm bất thiện

Bất thiện có 5 nghĩa: 1 là bệnh hoạn, 2 là không tốt đẹp, 3 là không khôn khéo, 4 là có sai lỗi, 5 là để tạo quả khổ

Hai phần tâm vừa nói đều thuộc về tâm quả và không có nhơn tương ưng hợp cả, nên đặng gọi là tâm quả vô nhơn

Giải trang 3

Tâm hạnh hoặc hành hay duy tác nghĩa là làm chỉ làm chớ không do mãnh lực nghiệp tạo và cũng chẳng để mãnh lực tạo tâm khác, tỷ như: hướng đạo gặp việc làm ngay rồi cứ đi luôn, nào quan tâm tiền công

Những tâm này đều không có nhơn tương ưng hợp nên gọi là tâm hạnh vô nhơn

Còn gọi tâm vô nhơn là đều không có nhơn tương ưng hợp

Trang 17

có 5 nghĩa trái ngược với bất thiện)

Tâm đại quả là do sở hữu tư hiệp với đại thiện và mãnh lực tạo thành, nên gọi là tâm đại quả Tâm đại hạnh, đại hành hay đại duy tác nghĩa như tâm hạnh đã giải Do hành động tạo phước rộng Chỉ sanh cho bực tứ quả mà thôi

Ba phần tâm đại đã nói, phần nhiều chuyên môn bắt cảnh dục giới, đa nương người dục giới

và có sở hữu tịnh hảo hợp, nên gọi là tâm dục giới tịnh hảo

Giải trang 6

Tâm dục giới phần nhiều chuyên môn biết cảnh dục giới và đa nương người dục giới

Giải trang 7

Tâm thiền là những tâm an trụ một cảnh rất đặng nhiều cái

Tâm thiền thiện sắc giới là những tâm an trụ một cảnh tiêu biểu chế định và đa nương người sắc giới

Tâm quả sắc giới tức là những tâm do mãnh lực của sở hữu tư hiệp với tâm thiện sắc giới tạo thành

Tâm hạnh sắc giới là những tâm thiền sắc giới chỉ sanh cho bực tứ quả

Tâm sắc giới là những tâm chỉ biết đề mục hình thức chế định và đa nương người sắc giới

Giải trang 8

Tâm thiện vô sắc giới là những tâm chỉ bắt cảnh vô sắc và nhơn tạo tâm quả vô sắc giới, nên gọi tâm thiện vô sắc

Tâm quả vô sắc là những tâm do sở hữu tư hiệp tâm thiện vô sắc giới tạo

Tâm hạnh vô sắc giới như tâm thiện vô sắc giới mà chỉ sanh cho bực tứ quả, vì không còn tạo quả

Tâm vô sắc giới là những tâm bắt đề mục trong đời và không còn hình thức

Tâm sơ đạo là tâm đạo thất lai nghĩa là trở lại cõi Dục giới không quá 7 lần

Tâm nhị đạo là tâm đạo nhất lai nghĩa là trở lại cõi Dục giới không quá 1 lần

Tâm tam đạo là tâm đạo bất lai nghĩa là không còn trở lại cõi Dục giới

Tâm tứ đạo là tâm đạo ứng cúng, đáng làm ruộng phước vì hết phiền não

Bốn tâm đạo kể trên gồm lại gọi là tâm đạo vì có đạo đế hợp, nên gọi là tâm đạo

Trang 18

Giải trang 12

Tâm sơ quả tức quả thất lai, nếu tục sinh trở lại cõi Dục giới không quá 7 lần

Tâm nhị quả tức là tâm quả nhất lai, nếu tục sinh trở lại cõi Dục giới không quá 1 lần, trùng nhơn loại hay là chư Thiên lục dục (hoặc trễ lắm là về chư Thiên 1 lần và nhơn loại 1 lần, chớ không có trùng tại chư Thiên hay nhơn loại 2 lần)

Tâm tam quả là quả bất lai, bực này nếu đắc ngũ thiền, sau khi chết sanh về cõi Ngũ Tịnh cư hoặc tùy bực thiền hay nguyện vọng Dù nếu không đắc thiền cũng phải sanh về cõi sơ thiền, chớ không bao giờ trở lại cõi Dục giới nữa

Tâm tứ quả là quả ứng cúng (vô sanh) nghĩa là bực này chết rồi không còn tục sinh nữa, tức

là vô dư Níp-bàn

Bốn quả này gồm lại gọi là quả siêu thế là do mãnh lực của sở hữu tư hiệp với tâm đạo tạo thành, chỉ biết cảnh Níp-bàn và hoàn toàn không có liên quan hệ thống với luân hồi, nên gọi là tâm quả siêu thế

Giải trang 13

Tâm siêu thế là những tâm có cách đặc biệt đưa khỏi phạm vi luân hồi

Giải trang 14

Tâm hiệp thế và tâm siêu thế gồm lại gọi là tâm

Theo nhà chú giải Diệu Pháp có 4 nghĩa:

- Trạng thái của tâm là biết cảnh

- Phận sự của tâm là dẫn dắt sở hữu và tâm

- Sự thành tựu của tâm là cách nối liền nhau

- Nhân cần thiết của tâm là sở hữu, cảnh và sắc

Giải trang 15

Sở hữu biến hành nghĩa là những sở hữu hợp với tất cả tâm

Sở hữu biệt cảnh nghĩa là phần nhiều hợp với tâm so le, sai khác biệt nhau, không đồng đều

Tợ tha là phần nhiều giống theo pháp khác tức là những sở hữu này khi hợp với sở hữu bất thiện thì giống theo pháp bất thiện Nếu đi chung với sở hữu tịnh hảo hợp với tâm thiện thì giống theo pháp thiện

Giải trang 16

Sở hữu si phần là bọn si

Sở hữu tham phần là bọn tham

Sở hữu sân phần là bọn sân

Sở hữu hôn phần là bọn hôn trầm

Sở hữu hoài nghi là không quyết tin (đây xin sơ lược, sau sẽ giải rộng trong phẩm nhất) Năm phần sở hữu này gọi là sở hữu bất thiện

Giải trang 17

Tịnh hảo là tốt bằng cách tâm trong sạch Biến hành là hiệp hết, tức là những sở hữu phối hợp với tất cả tâm tịnh hảo, nên gọi là sở hữu tịnh hảo biến hành

Sở hữu giới phần là những sở hữu thuộc về phần giới, ngăn và trừ tội ác

Sở hữu vô lượng phần là thuộc về tứ vô lượng tâm, nhưng từ và xả đã có trong sở hữu tịnh hảo biến hành

Trí tuệ là cách sáng suốt trong phần năng tri

Trang 19

Sắc thần kinh là sự trong ngần của sắc nghiệp mà thâu cảnh đặng

Sắc cảnh giới là những sắc làm (mồi) cảnh cho ngũ song thức

Sắc trạng thái14 là khuôn khổ hạn chế cho thành nam, nữ, đực, cái v.v…

Sắc ý căn15 là sắc nghiệp nương theo trái tim

Sắc mạng căn16 là cách sống còn của sắc nghiệp

Sắc vật thực là cách dinh dưỡng và chất bổ

Sắc hư không17 là ranh của các bọn sắc

Sắc tiêu biểu18 là cách nêu bày do thân, khẩu

Sắc đặc biệt19 là những cách đặc biệt trong thân thể của loài động vật giúp cho hành động dễ dàng

Sắc tứ tướng là 4 trạng thái (sanh, tiến, dị, diệt)20

Y sanh nghĩa là phải nương nhờ sắc tứ đại quỉ mới đặng

Vô vi là không bị tạo, tức là Níp-bàn hoàn toàn vắng lặng, yên vui tuyệt đối

Siêu lý là những pháp lý cao siêu hơn thường, có chơn thể thực tướng v.v… như như không đổi trái ngược lại, hễ thế nào thì vẫn thế ấy

Giải trang 24

Thinh danh chế định là mượn tiếng chế biến ra tên, cùng lời nói

Tướng nghĩa chế định là nương theo hình thức hay sửa hình thức và định đặt đồ vật v.v…

14 Còn gọi là sắc tính

16 Còn gọi là sắc mạng quyền

17 Có tên khác là sắc giao giới

18 Còn gọi là sắc biểu tri

19 Có tên nữa là sắc kỳ dị

20 Cũng là bốn trạng thái: sanh, thừa kế, lão, vô thường

Trang 20

Chế định nghĩa là chế biến sửa đổi

Giải trang 25

Pháp hay phép là chỉ tất cả trạng thái

Vấn đáp giải nghĩa pháp:

- Vấn: pháp là chi?

- Đáp: chi cũng là pháp

- Vấn: tại sao kêu là pháp?

- Đáp: tại có trạng thái nên gọi là pháp

- Vấn: trạng thái ra sao?

- Đáp: ra sao cũng là trạng thái

Dứt phần giải tập Gồm pháp

Trang 21

GIẢI THÊM PHÁP CHẾ ĐỊNH

- Danh siêu chế định là tên hay lời nói có ám chỉ pháp siêu lý, như: tâm, trí v.v…

- Phi danh siêu chế định là tên hay lời nói mà không có ám chỉ pháp siêu lý, như: người, cõi v.v…

- Danh siêu phi danh siêu chế định là câu văn trước có ám chỉ siêu lý, sau không có ám chỉ pháp siêu lý, như: tâm tánh của ông ấy

- Phi danh siêu, danh siêu chế định là trong câu văn đoạn trước không có ám chỉ pháp siêu lý

mà đoạn sau có ám chỉ pháp siêu lý, như nói: người hữu tâm v.v…

- Danh siêu danh siêu chế định là câu văn trước, sau đều có ám chỉ pháp siêu lý, như nói: tâm,

- Hiệp thành chế định là hợp nhiều phần thành 1 cái đặt tên và định dùng như: xe phải có nhiều bộ phận mới thành xe và để đi v.v…

- Chúng sanh chế định như: 12 hạng người v.v…

- Phương hướng chế định như: đông, tây, nam, bắc, tiền, hậu v.v…

- Thời tiết chế định như: năm, mùa, tháng, ngày, giờ v.v…

- Huyệt ao chế định hay hư không chế định như: hủng, hở, hang, hố v.v… tức là không gian

- Tiêu biểu chế định là nêu bày ra như là đề mục, bảng dấu hiệu, chữ v.v…

Giọng đọc Pāḷi (văn lục bát dễ thuộc)

L ít nha chót, V kề môi răng,

S khai nha chót săng săng,

H mở cổ tạo thể tăng cho vần,

Ḷ phành óc não của thân,

Hở ra lỗ mũi là Ṃ hết mà

Trang 22

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, hợp chung tà kiến khỏi mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, hợp chung tà kiến có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, không chung tà kiến khỏi mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, không chung tà kiến có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, hợp chung tà kiến khỏi mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, hợp chung tà kiến có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, không chung tà kiến khỏi mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, không chung tà kiến có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ ưu sanh ra, hợp chung phẫn nhuế khỏi mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ ưu sanh ra, hợp chung phẫn nhuế có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, hợp chung nghi hoặc ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, hợp chung phóng dật ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, nhãn thức thấy sắc ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, nhĩ thức nghe tiếng ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, tỷ thức biến hửi ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, thiệt thức nếm vị ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ khổ sanh ra, đụng đồ không thích ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ lạc sanh ra, đụng đồ thích hợp ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, tiếp thâu trần ngũ ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, quan sát trần ngũ ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, quan sát trần ngũ ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, khán ngũ môn ngoại ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, khán ý môn nội ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, điều khiển vi-tiếu ngoài mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, hợp chung trí tuệ khỏi mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, hợp chung trí tuệ có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, không chung trí tuệ khỏi mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, không chung trí tuệ có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, hợp chung trí tuệ khỏi mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, hợp chung trí tuệ có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, không chung trí tuệ khỏi mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, không chung trí tuệ có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, năm chi thiền hợp có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, bốn chi thiền hợp có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, ba chi thiền hợp có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, hai chi thiền hợp có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, hai chi thiền hợp có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, Không vô biên xứ có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, Thức vô biên xứ có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, Vô sở hữu xứ hợp có mà trợ duyên

- Đồng cùng thọ xả sanh ra, có không chẳng phải có mà trợ duyên

Trang 23

Chủ chế định tức là bản thể của vũ trụ và tâm chủ trương vạn vật

Tâm là sự biết tức là biết cảnh

Sở hữu tâm là trong phần sở hữu tứ đồng (đồng sanh, đồng diệt, đồng cảnh và đồng căn) với tâm

Sắc hay sắc pháp có nghĩa là tiêu hoại đổi thay

Níp-bàn hoàn toàn vắng lặng, yên vui tuyệt đối

Trang 24

TÂM (CITTA)

Tâm nói theo bộ Kho tàng pháp học của Xiêm có 5 nghĩa:

- 1 là thâu bắt biết cảnh rõ rệt gọi là tâm

- 2 là do có tâm - lộ thực hay tốc lực bằng thiện, bất thiện, quả và hạnh nên gọi là tâm

- 3 là chủ trương phiền não quến tựu tạo quả, nên gọi là tâm

- 4 là chủ trương khéo léo bằng lối suy xét, tìm, sắp đặt trong đời nhiều cách rất đặc biệt nên gọi là tâm

- 5 là do thành cố hưởng duyên tích tựu và bị nghiệp tạo nên gọi là tâm

Nương theo lời giải của bà giáo sư Nep có 6:

- 1 là tâm đặc biệt chủ trương làm ra các nghệ thuật

- 2 là tâm chủ trương làm cho tâm có phần khác khác

- 3 là tâm chủ trương làm quến tựu nghiệp và phiền não

- 4 là tâm chủ trương bảo trì quả do nghiệp và phiền não quến tựu

- 5 là tâm chủ trương tự duy trì cơ tánh

- 6 là tâm chủ trương sự biệt tài bắt cảnh

Chú giải:

Câu thứ nhất nói rằng tâm chủ trương làm ra các nghệ thuật Bởi vì tất cả trong đời bao nhiêu kỹ nghệ đều phải có phần chủ trương của tâm mới sửa thành đồ sai khác tùy theo mỗi thứ do kỹ sư và thợ

Câu thứ hai nói tâm chủ trương làm cho tâm có phần khác khác, như là nghiệp có sai khác nhau, tánh nết có khác nhau, tư tưởng có khác nhau cho đến thành 4 giống: thiện, bất thiện, quả và hạnh

Câu thứ ba nói tâm chủ trương quến tựu nghiệp và phiền não Lẽ thường, mỗi chúng sanh còn nhiều phiền não đâu phải chỉ sanh một hai lần, vì nghiệp còn lưu tồn vô số kể Nếu không tâm thì chẳng có phiền não và nghiệp chi cả

Câu thứ tư nói tâm chủ trương bảo trì quả do nghiệp và phiền não quến tựu Dĩ nhiên, quả là

do nghiệp biệt thời tạo

Thí dụ: Nghiệp biệt thời như tiếng thu trong băng, tuy không nghe mà phát ra vẫn có tiếng Phiền não như người thâu băng Tâm như máy và cuốn băng Nếu không có máy thì tiếng nương đâu mà còn lại phát ra

Câu thứ năm nói tâm chủ trương tự duy trì cơ tánh, nghĩa là bộ máy tâm mỗi cái sanh với nhau liên tiếp như nước phúng còn giọt Vì có Liên tiếp duyên và Bất đoạn duyên v.v…

Câu thứ sáu nói tâm có chủ trương trong sự biệt tài bắt cảnh là không có cảnh nào gặp mà tâm bắt không đặng Dù cho sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp cho đến Níp-bàn Thế nào hễ gặp đều

bị tâm biết đặng

Thầy Sương Minh (Jotika) tóm tắt có 3:

- 1 là tâm vẫn biết cảnh luôn luôn

- 2 là tâm làm nhơn cho sở hữu biết cảnh, tương tợ như người dẫn dắt

- 3 là tâm (chứng minh) làm cho động vật và bất động vật trong đời thành ra rất nhiều cái sai khác

Trang 25

Chú giải tâm theo Pāḷi:

 Cittī karotīti = cittaṃ (nồng cốt) làm cho chúng sanh đặc biệt sai khác gọi là tâm

 Cintanamattaṃ = cittaṃ: biết gọi là tâm

 Ārammanaṃ cintetīti = cittaṃ: biết cảnh gọi là tâm

Chú giải phần chánh có 4 ý nghĩa:

 1 trạng thái (của tâm) là biết cảnh (ārammanavijjānanalakkhanaṃ)

 2 phận sự (của tâm) là dẫn dắt (sở hữu) (pubbamgamarasaṃ)

 3 thành tựu (của tâm) là nối nhau (sandahanapaccupaṭṭhānaṃ)

 4 nhân cần thiết (của tâm) là danh, sắc (và cảnh) (nāmarūpapadaṭṭhānaṃ)

Giải trang 2

Tâm chia theo cõi (bhūmi) có 4:

- 1 là tâm dục giới (kāmāvacāracitta)

- 2 là tâm sắc giới (rūpāvacāracitta)

- 3 là tâm vô sắc giới (arūpāvacāracitta)

- 4 là tâm siêu thế (lokuttaracitta)

Tâm dục giới là tâm chuyên môn biết cảnh và hay nương người dục giới, nên Pāḷi chú giải như vầy: Kāmetīti = kāmo chuyên môn biết cảnh dục, gọi là tâm dục giới

Tâm sắc giới là những tâm chuyên môn biết cảnh đề mục còn hình thức và đa nương người sắc giới, nên gọi là tâm sắc giới Pāḷi chú giải như vầy: Rūpe avacāratīti = rūpavacāraṃ: (đa) nương theo cảnh phần hình thức nên gọi là tâm sắc giới

Tâm vô sắc giới là những tâm biết cảnh trong đời mà không còn hình thức, đa nương người

vô sắc giới nên gọi là tâm vô sắc giới, nên Pāḷi chú giải như vầy: Arūpe avacarātīti = arūpāvacāraṃ: chỉ nương theo cảnh không hình thức, nên gọi là tâm vô sắc giới

Tâm siêu thế là những tâm biết cảnh hoàn toàn ngoài đời và không còn liên quan với luân hồi tam giới, nên gọi là siêu thế Nên Pāḷi chú giải như vầy: Lokato uttarātīti = lokuttaraṃ: đặng vượt khỏi đời nên gọi là siêu thế

Giải trang 3

I TÂM DỤC GIỚI (KĀMĀVACĀRACITTA)

Gồm có 3:

 1 là tâm bất thiện (akusala)

 2 là tâm vô nhơn (ahetuka)

 3 là tâm dục giới tịnh hảo (kāmāvacarasobhana)

Trước đã có giải nghĩa tên chung, nên sau đây nhắc lại và thêm Pāḷi

A PHÂN GIẢI TAM BẤT THIỆN Akusalehi yuttanti = akusalaṃ: hợp tác những pháp trái với thiện gọi là bất thiện

Ngũ nghĩa bất thiện:

- 1 là bệnh hoạn : rogayattha

- 2 là không tốt đẹp : asundarattha

- 3 là không khôn khéo : achakattha

- 4 là có sai lỗi : savajjattha

- 5 là (để nghiệp tạo) quả khổ : dukkhavipākattha

Trang 26

Alobhadi vipākahetu virahitaṃ = ahetukaṃ: không hợp với nhơn tương ưng tham, sân v.v… gọi là tâm vô nhơn

Sobhanehi yuttānīti = sobhanāni: hợp với pháp tốt gọi là tịnh hảo, tức là có sở hữu tịnh hảo hợp, nhưng còn thuộc về tâm dục giới, nên gọi là tâm dục giới tịnh hảo

Giải trang 4 (phân chi tiết)

1/ Phân giải tâm Tham (Lobha)

Nói về tham có khi rất ưa thích vui mừng, nhưng cũng có khi tham mà vẫn bình thường Tham rất ưa thích vui mừng khi đó gọi là thọ hỷ

Còn khi tham mà vẫn thản nhiên như thường gọi là tham thọ xả Vì thế, cho nên thành 2 phần lớn là thọ hỷ và thọ xả

Trong mỗi phần lại có khác nhau với sự chấp sai và không chấp sai Vì vậy, nên hiệp tà và

ly tà

Trong mỗi phần lại có sự trợ giúp và không trợ giúp mới thành 2 phần

Cộng tất cả tâm tham thành 8 thứ

Nhắc lại tâm tham đã có nghĩa nói trước hết Đây thêm tên Pāḷi và chú giải

Tâm tham Pāḷi gọi là Lobhamūlacitta

Chú giải: Lubbhatīti = lobho: ham muốn gọi là tham Mūlā là căn

Tên Việt ngữ 8 thứ tâm tham đã có giải trong cách đọc

Tên Pāḷi tâm tham thứ nhất:

- Somanassasahaggataṃ: đồng sanh với (thọ) hỷ

- Diṭṭhigatasampayuttaṃ: tương ưng với (tà) kiến

- Asakkharikaṃ: vô trợ

Thọ hỷ là vui Kiến là tri kiến, sự nhận thấy, nhận thức, nhận định, theo đây tức là tà kiến

Tà kiến gồm có 2:

 1 là thường kiến: Sassatadiṭṭhi (chấp hữu)

 2 là đoạn kiến: Ucchedadiṭṭhi (chấp vô)

Thường kiến chấp hữu cho rằng: linh hồn, vũ trụ, chủ tạo hóa và tâm hằng còn

Đoạn kiến chấp vô cho rằng không nhơn quả, tất cả đều không

Phần nầy chia dón gọn có 3:

 1 là vô hành kiến: Akiriyādiṭṭhi

 2 là vô nhơn kiến: Ahetukadiṭṭhi

 3 là vô hữu kiến: Natthikadiṭṭhi

Chấp không rất đa trường hợp, nhiều lý lẽ, cũng có người cho rằng việc làm của ta chẳng hạn tốt xấu, tội phước, không ai thấy, nghe, hay, biết thì cũng như không làm, thế gọi là vô hành kiến

Cũng có người hiểu cạn chỉ nhận theo cách thật nghiệm đều do công năng, sức trí sắp đặt hiện tại là đủ, chớ không cho do có nguyên nhơn nghiệp trước chi cả, dù đời này hay đời khác,

đó là sự nhận thức bằng cách vô nhơn kiến

Cũng có người cho rằng nhơn sanh vạn vật chỉ là 4 chất hiệp thành, chẳng khác vật vô tri,

dù giúp nhau như nước tưới rau, dẫu hại nhau như cây đè cỏ, nào phải phước tội gì, đó là vô hữu kiến

Trang 27

Thập tướng vô kiến (natthilakkhanadiṭṭhi)

- 1 là vì nhận sai mới cho rằng sự bố thí rồi sau này không có chi là phước

- 2 là vì nhận sai mới cho rằng cúng dường rồi sau này cũng chẳng có chi là hưởng quả, phước

- 3 là vì nhơn sai mới cho rằng đáp ơn báo hiếu đều không có quả, phước chi cả

- 4 là vì nhận sai mới cho rằng không có nghiệp biệt thời duyên, quả dị thục (nhơn và quả thời gian khác nhau) tốt xấu chi cả

- 5 là vì nhận sai mới cho rằng đời này đều là không

- 6 là vì nhận sai mới cho rằng đời sau không có sanh nữa

- 7 là vì nhận sai mới cho rằng mẹ không phải là mẹ

- 8 là vì nhận sai mới cho rằng cha không phải là cha

- 9 là vì nhận sai mới cho rằng không có hạng hóa sanh

- 10 là vì nhận sai mới cho rằng Bà-la-môn hay Sa-môn đều không có ai tu hành đắc chứng chi cả và chẳng có ai biết đời này, đời khác

Mười điều tà kiến này ngăn chặn chúng sanh không được sanh về thiên đường, chư Thiên, Phạm thiên v.v… luôn cả đạo, quả và Níp-bàn không thể nào tiến đến

Thân kiến (sakkayadiṭṭhi) nhận sai với ngũ uẩn có 20 cách chia làm 5 phần

Nhận lầm Sắc uẩn có 4

- 1 là nhận thấy sắc uẩn là ta

- 2 là nhận thấy ta có sắc uẩn

- 3 là nhận thấy sắc uẩn ở trong ta

- 4 là nhận thấy ta có trong sắc uẩn

Nhận thấy sắc uẩn là ta: như nói lúc này tôi mập, tôi ốm, lên ký, xuống ký v.v…

Nhận thấy ta có sắc uẩn: như là nhận thấy tôi đây có xương, gân, thịt, da, lớn, nhỏ, to, mịn v.v…

Nhận thấy sắc uẩn ở trong ta: như là tôi làm chủ thân này được trọn quyền sai khiến sự hành động theo ý muốn những đi, đứng, ngồi, nằm, múa, uốn v.v…

Nhận thấy ta có trong sắc uẩn: như nhận thấy nói rằng tôi nương thân này sống đời làm việc v.v…

Nhận lầm Thọ uẩn có 4

- 1 là nhận thấy thọ uẩn là ta

- 2 là nhận thấy ta có thọ uẩn

- 3 là nhận thấy thọ uẩn trong ta

- 4 là nhận thấy ta trong thọ uẩn

Nhận thấy thọ uẩn là ta: như chấp nói tôi đau khổ, tôi sướng, tôi buồn, tôi vui, hoặc gặp trường hợp như thế mà tôi vẫn bình thường thản nhiên v.v…

Nhận thấy ta có thọ uẩn: như chấp nói tôi có thật bệnh đau nhức v.v… tôi có sự vui lòng với

bà con huynh đệ trong trường hợp này, tôi có tánh cách không quá nao núng buồn vui v.v… Nhận thấy thọ uẩn trong ta: như cho rằng trong đời này nó vẫn chất chứa đủ các sự khổ, sự sướng và hễ có tâm này phải sẵn có sự vui buồn hay thản nhiên bình thường chớ không bao giờ không

Nhận thấy ta trong thọ uẩn: như chấp nói tôi phải chịu đủ đau khổ, sung sướng, vui buồn, cũng có khi được bình thường nhưng ít lắm

Trang 28

Nhận lầm Tưởng uẩn có 4

- 1 là nhận thấy tưởng uẩn là ta

- 2 là nhận thấy ta có tưởng uẩn

- 3 là nhận thấy tưởng uẩn trong ta

- 4 là nhận thấy ta trong tưởng uẩn

Nhận thấy tưởng uẩn là ta: như nói tôi nhớ nhà v.v…

Nhận thấy ta có tưởng uẩn: như nói tôi thường tưởng anh hoặc em v.v…

Nhận thấy tưởng uẩn trong ta: như người tưởng tượng nhơn cảnh, vật phát hiện ra hoài hoài Nhận thấy ta trong tưởng uẩn: như lúc khuya vắng lặng nghe: đờn, sáo thổi bắt nhớ đến xứ

sở, quê hương, ngùi ngùi không thể dằn được, dường như nó có quyền hơn ta

Nhận lầm Hành uẩn có 4

- 1 là nhận thấy hành uẩn là ta

- 2 là nhận thấy ta có hành uẩn

- 3 là nhận thấy hành uẩn trong ta

- 4 là nhận thấy ta trong hành uẩn

Nhận thấy hành uẩn là ta: như nói tôi khôn lắm, tôi ngu quá v.v…

Nhận thấy ta có hành uẩn: như nói tôi là người có trí và có nhiều sự suy xét v.v…

Nhận thấy hành uẩn trong ta: như chấp nói rằng tâm tốt, tâm xấu gì cũng tại mình

Nhận thấy ta trong hành uẩn: nhận thấy ta do vô minh trùm che khuất lấp nên tối tăm, không đặng thấu đáo chi cả

Nhận lầm Thức uẩn có 4

- 1 là nhận thấy thức uẩn là ta

- 2 là nhận thấy ta có thức uẩn

- 3 là nhận thấy thức uẩn trong ta

- 4 là nhận thấy ta trong thức uẩn

Nhận thấy thức uẩn là ta: như chấp tôi thấy, nghe v.v…

Nhận thấy ta có thức uẩn: như nói tôi có cái cách hửi hơi rất đặng hay biết trái cây chín, sống và thuốc trị bệnh gì

Nhận thấy thức uẩn trong ta: những sắc, thinh nào tôi để ý mới thấy, nghe

Nhận thấy ta trong thức uẩn: như ra-dô (radio) hát gần và lớn tiếng, tai bắt buộc mình nghe hoài không ngủ

Phật ngôn tiểu trung đại học nói về ngã (attā) thuộc quyền

1: Ta thắng ta rất tốt (attā have jitaṃ ceyyo)

2: Vắng nghe tự tập ta là khó (attā hi kira duddamo)

3: Tu tập tốt rồi là ánh sáng của trượng phu (attā sudasate pirisassa jeti)

4: Chính ta là chỗ nương của ta (attā hi attano nātho)

5: Chính ta là chí hướng của ta (attā hi attano gati)

6: Ta thương ta rất tột (attāhi paramaṃ pīyo)

7: Không thương chi cho bằng thương ta (natthi attasamaṃ pemaṃ)

8: Tự tạo tội ta phải chịu buồn (attanā va ataṃ pāpaṃ attanā saṅkilissati)

9: Ta không tạo tội thì ta trong sạch (attanā akataṃ pāpaṃ attanā va visujjhati)

10: Chỉ thấy lợi mình là người không sạch sẽ (attatthapaññā asucī manussā)

11: Trí thức tự sửa mình (attānaṃ damayanti paṇditā)

12: Hành tốt là tự sửa mình (attānaṃ damayanti buttatā)

13: Tự lập ta tốt để đặng nương là khó (attanā hi sudantena nāthaṃ labhati dullalkam)

14: Trau dồi ta đặng rồi thì kẻ khác cũng trau dồi theo (yo rakkhati attanaṃ rakkhito tassa kh )

Trang 29

15: Biết ta là chỗ đáng thương, trau dồi ta cho đặng tốt (attānañce piyaṃ jaññā rakkheyya naṃ surakkhitaṃ)

16: Trí thức tự hành trong sạch lìa tâm phiền não (pariyopeyya attānaṃ cittakelasehi paṇḍite) 17: Dạy kẻ khác như thế nào, ta cũng làm như thế ấy (attānañce tathā ayirā yathaññamayusāsati)

18: Cần tự thức tỉnh (attanā codayattanaṃ)

19: Tự cần quan sát (paṭimaṃsetamattanā)

20: Nên rút ta khỏi sa lầy như tượng rút khỏi nơi sình lún (duggā uddharathattānaṃ paṅke sannova kuñjaro)

21: Tự giữ gìn đừng cho cháy nóng (attānurakkhi bhava mā aḍayhi)

22: Chớ nên tự sát (attānañca na ghātesi)

23: Nam nhơn chớ tự cho (attānaṃ na dade poso)

24: Nam nhơn đừng tự bỏ (attānaṃ na pariceaje)

25: Chớ quên mình (attānaṃ nātivatteyya)

26: Chớ bỏ tự lợi dù cho giúp người khác lợi nhiều (attadatthaṃ paratthena bahunāpi na hāpaye)

27: Nếu biết ta là chỗ đáng thương đừng họp theo tật xấu (attānañce piyaṃ jaññā na naṃ pāpena saṃyuje)

28: Tự trách do nhơn chi chớ nên làm nhơn ấy

Attadatthaṃ paratthena, bahunāpi na hāpaye, attadatthamabhiññāya, sadatthapasuto siyā

Dạy ta rất khó vẫn thường nghe, Giáo kẻ sau khi tự tập thành, Chỉ bảo cho người ta phải đã, Luôn luôn trước dạy tự tiên hành

Attānañce tathā kayirā, yathaññamanusāsati, sudanto vata dametha, attā hi kira duddamo

Quân tử lập nên đức hạnh đầy, Sau rồi mới dạy kẻ càng hay, Hầu mong tránh khỏi nơi sơ thất, Chẳng bị mờ mê mất tiếng thầy

Attānameva paṭhama, paṭrūpe nivesayo atthaññamanusāseyya, na kilissey paṇḍita

Ta đây nương đổ chính nơi ta,

Kẻ khác ai đâu trọn giúp mà, Tập đặng ta thành nên quí tốt,

Để làm nương dựa đó mưu xa

Attā hi attano nā the ko hi nātho paro si yā, attanā hi sudantena, nāthaṃ labhat dullabi

Thương chi chẳng sánh với thương ta, Của cải nào hơn lúa gạo mà,

Ánh sáng đâu bằng so với trí, Mưa là ngập tốt giếng thua xa

Trang 30

… atthi attasamaṃ pemaṃ, natthi dhaññasamaṃ dhanaṃ, natthi paññāsamā ābhā,

 1 là chấp theo quá khứ có 18 điều, 5 phần

 2 là chấp theo vị lai có 44 điều, 5 phần

A Tà kiến chấp theo quá khứ có 5 phần:

 1 là thường kiến

 2 là thường vô thường kiến

 3 là biên vô biên kiến

 4 là vô ký kiến (ngụy biện)

 5 là vô nhơn sinh kiến

1) Thường kiến có 4 nguyên do:

- 1 là chấp trường tồn do nhớ nhiều đời dưới một đại kiếp (thành, trụ, hoại, không)

- 2 là chấp trường tồn do nhớ nhiều đời từ 1 đến 10 đại kiếp

- 3 là chấp trường tồn do nhớ nhiều đời từ 1 đến 40 đại kiếp

- 4 là chấp trường tồn do sự kinh nghiệm

2) Thường vô thường kiến có 4 nguyên do:

- 1 là nhận thấy vị Đại Phạm thiên sống hoài, còn những kẻ do Ngài tạo ra phải chết

- 2 là nhận thấy chư Thiên không say sống hoài, vị nào say mới chết

- 3 là nhận thấy chư Thiên không sân sống hoài, vị nào sân mới chết

- 4 là nhận thấy: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân không bền vững, chỉ có tâm là trường tồn (không sanh, không diệt)

3) Biên vô biên kiến có 4 nguyên do:

- 1 là nhận thấy thế giới, vũ trụ có chỗ tột

- 2 là nhận thấy vũ trụ có tột, thế giới không cùng

- 3 là nhận thấy vũ trụ trên dưới có tột, ngang qua không cùng

- 4 là nhận thấy thế giới, vũ trụ không cùng tột

4) Vô ký kiến (ngụy biện) có 4 nguyên do:

(cách nhận và nói trườn, uốn như con lươn)

- 1 là do nhận thấy không sát thật, vì e vọng ngữ nên nói không sát thật

- 2 là do nhận thấy không sát thật, vì e bị chấp trước nên nói không quyết định

- 3 là do nhận thấy không sát thật, vì e bị hỏi gạn nên nói không quyết định

- 4 là do nhận thấy không sát thật, vì e bị vô minh nên nói không quyết định

(bốn tà kiến này cũng gọi là bất định kiến)

5) Vô nhơn kiến có 2 nguyên do:

- 1 là tâm ta tự nhiên mà có, do nhớ đời trước làm người vô tưởng

- 2 là sự suy xét nhận thấy tất cả có ra đều không do nhơn tạo

Trang 31

B Tà kiến chấp theo vị lai có 5 phần

 1 là hữu tưởng kiến

 2 là vô tưởng kiến

 3 là phi tưởng phi phi tưởng kiến

 4 là đoạn kiến

 5 là Níp-bàn hiện tại kiến

1) Hữu tưởng kiến có 16 nguyên do:

- 1 là bản ngã có sắc không có bệnh, sau khi chết có tưởng

- 2 là bản ngã không có sắc, vô bệnh sau khi chết có tưởng

- 3 là bản ngã có sắc và không có sắc, vô bệnh sau khi chết có tưởng

- 4 là bản ngã là phi hữu sắc, phi vô sắc, không bệnh sau khi chết có tưởng

- 5 là bản ngã là hữu biên vô bệnh, sau khi chết có tưởng

- 6 là bản ngã là vô biên vô bệnh, sau khi chết có tưởng

- 7 là bản ngã là hữu biên vô biên không bệnh sau khi chết có tưởng

- 8 là bản ngã là phi hữu biên, phi vô biên, không bệnh sau khi chết có tưởng

- 9 là bản ngã là nhất tưởng, không bệnh, sau khi chết có tưởng

- 10 là bản ngã là dị tưởng, không bệnh sau khi chết có tưởng

- 11 là bản ngã là đa tưởng, không bệnh, sau khi chết có tưởng

- 12 là bản ngã là vô lượng tưởng, không bệnh, sau khi chết có tưởng

- 13 là bản ngã là thuần lạc, không bệnh sau khi chết có tưởng

- 14 là bản ngã là thuần khổ, không bệnh sau khi chết có tưởng

- 15 là bản ngã là khổ lạc, không bệnh, sau khi chết có tưởng

- 16 là bản ngã không khổ lạc, không bệnh, sau khi chết có tưởng

2) Vô tưởng kiến có 8 nguyên do:

- 1 là bản ngã có sắc, vô bệnh, sau khi chết không có tưởng

- 2 là bản ngã không có sắc, vô bệnh sau khi chết không có tưởng

- 3 là bản ngã có sắc và cũng không có sắc, vô bệnh sau khi chết không có tưởng

- 4 là bản ngã là phi hữu sắc, phi vô sắc, vô bệnh sau khi chết không có tưởng

- 5 là bản ngã là hữu biên, vô bệnh sau khi chết không có tưởng

- 6 là bản ngã là vô biên, không có bệnh, sau khi chết không có tưởng

- 7 là bản ngã là hữu biên và vô biên, vô bệnh sau khi chết không có tưởng

- 8 là bản ngã là phi hữu biên, phi vô biên, vô bệnh sau khi chết không có tưởng

3) Phi tưởng phi phi tưởng kiến có 8 nguyên do:

- 1 là bản ngã có sắc, vô bệnh sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng

- 2 là bản ngã vô sắc, vô bệnh, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng

- 3 là bản ngã có sắc và cũng không có sắc, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng

- 4 là bản ngã là phi hữu sắc, phi vô sắc, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng

- 5 là bản ngã là hữu biên, vô bệnh sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng

- 6 là bản ngã là vô biên, vô bệnh sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng

- 7 là bản ngã là hữu biên vô biên, không bệnh sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng

- 8 là bản ngã là phi hữu biên, phi vô biên, không bệnh, sau khi chết phi hữu tưởng phi

vô tưởng

4) Đoạn kiến có 7 nguyên do:

- 1 là nhận thấy tất cả loài thai sanh chết rồi tiêu mất

- 2 là nhận thấy chư Thiên cõi lục dục chết rồi tiêu mất

- 3 là nhận thấy tất cả Phạm thiên cõi Sắc giới chết rồi tiêu mất

Trang 32

- 4 là nhận thấy bực Không vô biên xứ thiên chết rồi tiêu mất

- 5 là nhận thấy tất cả bực Thức vô biên xứ thiên chết rồi tiêu mất

- 6 là nhận thấy bực Vô sở hữu xứ thiên chết rồi mất

- 7 là nhận thấy bực Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên chết rồi mất

5) Níp-bàn hiện tại kiến có 5 nguyên do:

- 1 là nhận thấy ngũ dục lạc là Níp-bàn hiện tại

- 2 là nhận thấy sơ thiền là Níp-bàn hiện tại

- 3 là nhận thấy nhị thiền là Níp-bàn hiện tại

- 4 là nhận thấy tam thiền là Níp-bàn hiện tại

- 5 là nhận thấy tứ thiền là Níp-bàn hiện tại

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Tà kiến có 2 chi:

- 1 là nhận thấy chấp cứng trái ngược với cách thật (pháp siêu lý hoặc chế định)

- 2 là cách thật không có với người đang chấp tà kiến (vì không quan tâm)

Cho nên trong chánh tạng Đức Phật Ngài có nói: “còn những pháp khác (tức là tà kiến) sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ điệu, vượt ngoài tầm của luận lý suôn, tế nhị, chỉ những người trí mới nhận hiểu

Giải cách trợ tham

8 thứ tâm tham đều có 3 đoạn: thọ hỷ hay thọ xả, hợp tà hay ly tà, vô trợ hay hữu trợ

Thọ hỷ đã yếu giải Thọ xả là tâm bình thường, ngoài ra vui, buồn, khổ, lạc Còn tà kiến đã giải nhiều rồi

Hay nói về thọ tức là tự thân, khẩu, ý hay tha thân, khẩu, ý trợ giúp thêm lần thứ hai sắp lên, tâm tham ta mới phát sanh ra đặng

Sáu cách này nên chỉ cách dễ trước:

- 1 là tự tâm trợ tham như vầy: khi thấy của mà lòng chưa phát sanh ham thích, tại vì suy xét cho là đồ tốt hoặc đáng trộm, cướp v.v… mới phát sanh tâm tham muốn lấy

- 2 là do tha khẩu trợ như gặp kẻ nói văn hoa, đa lời trau chuốt thêu dệt một chút mới khởi tâm tham nhiểm lời lẽ ấy

- 3 là tha thân trợ tức là do sự hành động của người khác trợ ta như: đụng, cọ, chà, thoa v.v…

- 4 là tự khẩu trợ tức là miệng ta trợ cho ta thêm mãnh lực mới phát sanh tâm tham như: ca, hát, hò, xướng, kéo dài mới nhận giọng hay của ta, mới khoái ý hoặc nhiều ít

- 5 là tự thân trợ tham nghĩa là tâm ta trợ giúp thêm cho tâm ta phát sanh tham như: múa men hay uốn éo vài cái thấy có địu hay tự lòng ưa thích bằng cách tham

- 6 là ý trợ tham bởi do tâm người khác dùng cách tư tưởng điều khiển tâm ta phát sanh tham như là muốn ăn, muốn chơi v.v…

Khi sanh tham nên phân biệt

- 1 là khi nào tham vui mừng có chấp theo tà kiến là tâm tham thứ nhất

- 2 là tham vui mừng chấp theo tà kiến và phải có trợ là tâm tham thứ nhì

- 3 là tham vui mừng, không chấp theo tà kiến là tâm tham thứ ba

- 4 là tham vui mừng và có sự trợ là tâm tham thứ tư

- 5 là khi tham mà vẫn như thường không thấy vui mừng nhưng có sự chấp sai là tâm tham thứ năm

- 6 là tham không vui mừng, có tà kiến và phải có trợ thêm là tâm tham thứ sáu

- 7 là không có sự nhận sai, tâm như thường là tâm tham thứ bảy

- 8 là chỉ khác với tâm tham thứ bảy là có trợ

Trang 33

Muốn mau thuộc cần đọc văn lục bát:

Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, Hợp chung tà kiến khỏi mà trợ duyên, Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, Hợp chung tà kiến có mà trợ duyên, Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, Không chung tà kiến khỏi mà trợ duyên,

Đồng cùng thọ hỷ sanh ra, Không chung tà kiến có mà trợ duyên, Đồng cùng thọ xả sanh ra, Hợp chung tà kiến khỏi mà trợ duyên, Đồng cùng thọ xả sanh ra, Hợp chung tà kiến có mà trợ duyên, Đồng cùng thọ xả sanh ra, Không chung tà kiến khỏi mà trợ duyên,

Đồng cùng thọ xả sanh ra, Không chung tà kiến có mà trợ duyên,

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Muốn rõ quả, cần phải tìm nhơn

Ngũ nhơn sanh bất thiện

- 1 là tác ý không khéo (ayonisomanasikāra)

- 2 là ở chỗ không đáng ở (appatirūpadesāva)

- 3 là thân cận phi hiền nhơn (asappurisūpanissaya)

- 4 là đời trước không tạo (nhiều) phước (pubbe akatapuññatā)

- 5 là tự lập trường theo đường lối sai (attamicchāpanidhi)

Tác ý không khéo là những cách suy xét và nhận định làm cho tâm bất thiện phát sanh như nghĩ theo tham, sân, si v.v…

Ở chỗ không đáng ở là những chỗ nhiều trường hợp khiêu khích cho tâm tham, sân và si phát sanh như chỗ ăn chơi, tranh đấu

Thân cận phi hiền nhơn là hay thân cận tà sư, ác hữu, những kẻ mưu kế gian hùng, tráo trở v.v…

Đời trước không tạo nhiều phước là đời trước người ấy chuyên môn hành động theo các điều bất thiện hay là bỏn xẻn, cho nên đời này chẳng được giàu sang, sung sướng lại thiếu thốn

và thiếu hiểu v.v… không tránh khỏi câu ‘bần cùng sanh đạo tặc’

Tự lập trường theo đường lối sai là không chịu nương theo tập rèn kiến thức tiến hóa chơn chánh hoặc giải thoát cao siêu, cứ hành động và suy xét luôn cả tập rèn theo những lề lối xấu

mà không chịu bỏ

Tứ nhơn sanh tham

- 1 là tục sinh bằng nghiệp có tham bè đảng (lobhaparivārakammapaṭisandhikatā)

- 2 là đời kế trước đa tham (lobha ussannabhavatocavamatā)

- 3 là gặp cảnh tốt (iṭṭhārammaṇasamāyogo)

- 4 là gặp cảnh, vật ưa thích (assādadassanaṃ)

Trang 34

Tục sinh bằng nghiệp có tham bè đảng là nghiệp nhơn trước có đi chung với tâm tham hoặc tâm tham phát sanh trước sau những tâm để nghiệp ấy như người tạo phước mà móng hưởng trong đời hoặc muốn sanh về cõi ưa thích

Đời kế trước đa tham là đời kế trước chuyên môn hưởng lục dục quá quen, nên đời này gặp lục dục thì dễ phát tham

Gặp cảnh tốt là thấy sắc tốt, nghe tiếng hay, cho đến gặp sự quí

Gặp cảnh vật ưa thích là những nhơn vật hay công chuyện mà ta vừa lòng ham muốn

Ly sự điêu tàn là không gặp lúc tai nạn, rủi ro

Ngũ nhơn sanh tương ưng tà kiến

- 1 là nết quen tà kiến (diṭṭhajjhāsayatā)

- 2 là thân cận người tà kiến (diṭṭhivippannapuggala asevanatā)

- 3 là trái với chánh pháp (saddhammavimukhatā)

- 4 là đa suy xét sai (micchāvitakka bahulatā)

- 5 là không khéo vọt tà kiến (ayoniso ummujjanaṃ)

Nết quen tà kiến là cả nghề làm, luôn tư tưởng rất thuần túy theo việc làm và lý thuyết chấp hữu hoặc chấp vô, luôn luôn thành quen nết, như cách tìm linh hồn cho là còn hoài ở trong thân ta hoặc thật hành theo lý thuyết bỏ hoài bỏ riết thời hết trọi thành không

Thân cận người tà kiến là thường quen với người tà kiến hay học hỏi, tín ngưỡng tôn giáo tà kiến như học phần chỉ chấp theo thực nghiệm, ngoài ra thấy, đụng, gặp cho là không có

Trái với Phật pháp là không tin hay phản đối với 4 đạo, 4 quả, Níp-bàn và pháp học

Đa suy xét sai là hay nghĩ theo thường thức, tục sai, hoặc hữu hoặc vô, tự tìm nhận định Không khéo vọt tà kiến như khỏi ra không khéo là vừa phát suy nghĩ ra thì ăn khớp với lý tà kiến, nhất là ta, tôi, tao v.v… cho đến chết rồi, biệt luận

Ngũ nhơn sanh bất tương ưng tà kiến

- 1 là nết không quen tà kiến (adiṭṭhajjhāsayatā)

- 2 là không thân cận người tà kiến (diṭṭhi vippannapuggala sevanatā)

- 3 là đặng nghe Phật pháp (saddhammamukhatā)

- 4 là không hay suy xét sai (micchā vitakka abahulatā)

- 5 là khéo vọt khỏi tà kiến (yoniso ummujjanaṃ)

Nết không quen tà kiến là lập hạnh thuần túy theo lý vô thường, khổ não, vô ngã v.v… như nhơn sanh vũ trụ là máy móc, mỗi người là một bộ máy nhỏ, là phần tử trong bộ máy lớn, là

Trang 35

chung khắp cả vũ trụ tam giới dù thân tâm ai cũng thế, không quá chấp nhận ngã, chỉ làm việc đối với cơ duyên như cái máy bị động

Không thân cận người tà kiến là chẳng ở chung hay học hỏi làm quen, tới lui những người chấp theo tà kiến, chấp thường hoặc chấp đoạn

Đặng nghe Phật pháp là đặng nghe Phật thuyết v.v… hay gặp chánh tạng hoặc chú giải không sai mà cần tìm học hỏi, dù chưa đắc đạo quả cũng nhẹ sự chấp lầm

Không hay suy xét sai là ít nghĩ đến sự chấp hữu, chấp vô chẳng quan tâm ngoan cố đến phần nào cả, như không cần nhận như thế nào

Khéo vọt khỏi tà kiến là luôn luôn tránh xa thái quá bất cập, chấp có chấp không, biết đời đều nhơn quả, làm nói tất cả có nương theo

Lục nhơn sanh vô trợ

- 1 là tục sinh bằng nghiệp vô trợ (asankhārikakammajanitapatisandhikatā)

- 2 là thân tâm mạnh mẽ (kallakāyacittatā)

- 3 là đa nhẫn nại (khantībahulatā)

- 4 là từng thấy nghe sự kết quả của hiền triết (purisa ākāresudiṭṭhanisaṅsatā)

- 5 là thuần thục việc làm (kammapasuttā)

- 6 là vật thực, khí hậu thích hợp (utubhojanādisappāyalābho)

Tục sinh bằng nghiệp vô trợ là 2 tâm quan sát thọ xả và 4 tâm đại quả vô trợ (sẽ giải sau) Thân tâm mạnh mẽ là thân tráng kiện, tâm có chánh niệm thường sanh, gặp việc chi đều phát lẹ

Đa nhẫn nại là những người hay quen chịu nắng, mưa, đau, nhức gặp lướt qua như thường, nên đối với sự vật tâm liền mau chóng

Từng thấy nghe sự kết quả của hiền triết là đã từng gặp, nghe, hiểu, thấy các trang hiền triết làm thành tựu trọn nên kết quả mỹ mãn, tốt đẹp đặng hưởng nhờ, nên định chắc tâm không dụ

dự

Thuần thục việc làm là người rành việc, quen cảnh vật, hiểu văn chương, thông nghĩa lý, mà gặp những sự vật đã quá từng, khỏi cần chi ngần ngại

Vật thực khí hậu thích hợp là chỗ ở, khí hậu vừa chừng và thức ăn đáng bổ khỏe

Lục nhơn sanh hữu trợ

- 1 là tục sinh bằng tâm hữu trợ (hay nghiệp hữu trợ) (sasaṅkhārikakammajanita patisandhikatā)

- 2 là thân tâm yếu (akallakāyacittatā)

- 3 là không hay nhẫn nại (akhantībahulatā)

- 4 là không từng thấy, nghe sự kết quả của hiền triết (purisa ākāresu adiṭṭhānisaṅsatā)

- 5 là không thuần thục việc làm (kamma apasuttatā)

- 6 là vật thực, khí hậu không thích hợp (utubhojanādisappāya alābho)

Tục sinh bằng tâm hữu trợ hay nghiệp hữu trợ là 4 tâm đại quả hữu trợ và 9 tâm quả đáo đại (sẽ giải sau)

Thân tâm yếu là người bạc nhược, tâm lơ đãng

Không hay nhẫn nại là gặp nắng, mưa, nóng, lạnh, đau đớn, buồn rầu, ít lướt qua khỏi nên tâm bị phần chi phối gặp sự vật chẳng cấp sanh

Trang 36

Không từng thấy nghe sự kết quả của hiền triết là chưa đặng thấy, nghe, hiểu, biết sự vật đắc thành của hiền triết, nên gặp điều chi phải ngơ ngáo

Không thuần thục việc làm là người vụng về, thiếu hiểu nên đụng đến thì ngơ ngơ

Vật thực khí hậu không thích hợp là khí hậu chẳng vừa thân, thức ăn không vừa miệng

Suy xét tế nhị là trầm ngâm nghĩ ngợi những sự lý khó khăn, xâu xa, siêu việt

Thường gặp cảnh trung bình là gặp sự vật không ưa, không ghét, không thích không chê

Ly sự điêu tàn là chẳng gặp hoạn nạn chi cả

Phân tên tâm tham theo hợp đồng Tâm tham thứ nhất và tâm tham thứ hai, kêu chung lại là tâm tham thọ hỷ tương ưng, vì hai thứ tâm này đồng nhau thọ hỷ và tương ưng tà kiến

Tâm tham thứ ba và tâm tham thứ tư, kêu chung lại là tâm tham thọ hỷ bất tương ưng, vì hai thứ tâm này đều đồng nhau thọ hỷ và không hợp tà kiến

Tâm tham thứ nhất và tâm tham thứ ba, kêu chung lại là tâm tham thọ hỷ vô trợ, vì hai thứ tâm này cùng đồng nhau thọ hỷ và không trợ

Tâm tham thứ hai và tâm tham thứ tư, kêu chung lại là tâm tham thọ hỷ hữu trợ, vì hai thứ tâm này đồng nhau thọ hỷ và có trợ

Tâm tham thứ nhất, thứ nhì, thứ ba và thứ tư, kêu chung lại là tâm tham thọ hỷ, vì 4 thứ tâm này đều đồng nhau tham và thọ hỷ

Tâm tham thứ năm và tâm tham thứ sáu, kêu chung lại là tâm tham thọ xả tương ưng vì hai thứ tâm này đồng nhau thọ xả và có hợp tà kiến (thuộc về tương ưng tà kiến)

Tâm tham thứ bảy và tâm tham thứ tám, kêu chung lại là tâm tham thọ xả bất tương ưng, vì hai thứ tâm này thọ xả và không hợp với tà kiến

Tâm tham thứ năm và tâm tham thứ bảy, kêu chung lại là tâm tham thọ xả vô trợ, vì hai thứ tâm này đồng nhau thọ xả và không có trợ

Tâm tham thứ sáu và tâm tham thứ tám, kêu chung lại là tâm tham thọ xả hữu trợ vì đồng nhau thọ xả và có trợ

Tâm tham thứ nhất, thứ nhì, thứ năm và thứ sáu, kêu chung lại là tâm tham hợp tà kiến, vì đồng chung nhau có tà kiến hợp

Tâm tham thứ ba, thứ tư, thứ bảy và thứ tám, kêu chung lại là tâm tham bất tương ưng, vì 4 thứ tâm này không hợp với tà kiến

Tâm tham thứ nhất, thứ ba, thứ năm và thứ bảy, kêu chung lại là tâm tham vô trợ, vì 4 tâm tham này đều không trợ

Trang 37

Tâm tham thứ hai, thứ tư, thứ sáu và thứ tám, chung lại kêu là tâm tham hữu trợ, vì 4 thứ tâm này đồng nhau có trợ

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

2/ Phân giải tâm Sân (Dosa)

Sân là giận, buồn, rầu hoặc khóc lóc v.v…

Tâm sân có hai thứ: 1 là thọ ưu hợp phẫn vô trợ (số 9), 2 là thọ ưu hợp phẫn hữu trợ (tâm số 10 ghi trong bảng số)

Thọ ưu là buồn, hợp phẫn tức là sân mà khác tên (như nói phẫn nộ)

Vô trợ là không có sự giúp thêm của thân, khẩu, ý của ta, hay thân, khẩu, ý của người khác

Đã có giải trong phần tâm tham, nhưng đây tâm cảnh khác nhau là tâm sân và cảnh xấu Cho nên trường hợp trợ khêu khích trái nghịch với tâm, mới phát sanh ra sân như mắng, chửi, đánh, đập v.v… hoặc tự tâm suy nghĩ thêm mới phát giận, hờn, nóng nảy; phần tự khẩu kêu lên hoặc dạy dỗ kẻ khác nhiều lần mới tức mình và tự thân ngoắt hay kêu, hay dạy yoga, vận động v.v… nhiều lần cũng nổi nóng

Còn tha tâm trợ sân rất ít, vì nung đúc bằng tư tưởng mà tâm khác phải náo động, sôi nổi, chỉ như thôi miên hay huyền bí

Tâm tham và tâm sân đều là bất thiện (akusala) nhưng khi mạnh có thể gọi là ác Có 3 hay 10:

Tam ác

1 là thân ác 2 là khẩu ác 3 là ý ác

- Thân ác có 3: 1 là sát sanh, 2 là trộm cướp, 3 là tà dâm

- Khẩu ác có 4: 1 là nói láo, 2 là thóc mách, 3 là miệng dữ, 4 là nói bậy (nói vô ích)

- Ý ác có 3: 1 là tham ác, 2 là sân ác, 3 là tà kiến ác

Mười điều ác vừa nói, tâm tham có thể làm 7 điều: 1 là trộm cướp, 2 là tà dâm, 3 là nói láo,

4 là thóc mách, 5 là nói vô ích, 6 là tham ác, 7 là tà kiến ác

Còn tâm sân cũng phạm 7 điều: 1 là sát sanh, 2 là trộm cướp, 3 là nói láo, 4 là thóc mách, 5

là miệng dữ, 6 là nói vô ích (ỷ ngữ), 7 là sân độc

Cho nên, khi gặp những cách này nhận rõ tham, sân rất dễ

Ngoài ra, còn nhiều trường hợp mà tâm tham, tâm sân sanh chẳng ít

Nhơn sanh sân hay thọ ưu có 4

- 1 là tánh nết quen sân (dosajjhāsayatā)

- 2 là không suy xét cao siêu (agambhīrapakatitā)

- 3 là thiếu sự học hiểu (appasutatā)

- 4 là thường gặp cảnh không tốt (anitthārammaṇasamāyogo)

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Còn nhơn vô trợ hay hữu trợ xin xét theo phần giải trước

Tâm tham thứ hai, thứ tư, thứ sáu, thứ tám và tâm sân thứ hai chung lại gọi là tâm bất thiện hữu trợ

Tám thứ tâm tham và hai thứ tâm sân gộp lại gọi là tâm bất thiện nhị nhơn

Tâm tham thọ hỷ và tâm sân gộp lại gọi là tâm bất thiện nhị nhơn phi thọ xả

Tâm tham thọ xả và tâm sân gộp lại gọi là tâm bất thiện nhị nhơn phi thọ hỷ

Trang 38

Tâm tham thứ 1, 3, 5, 7 và tâm sân thứ 1 gộp lại gọi là tâm bất thiện nhị nhơn vô trợ

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

3/ Phân giải tâm Si (Moha)

Si là tối tăm, mờ ám không hiểu biết những điều đáng biết tiến hóa chơn chánh, cao siêu giải thoát

Tâm si có hai thứ

- 1 là thọ xả hợp hoài nghi (số 11)

- 2 là thọ xả hợp phóng dật (số 12)

Xả thọ đã có giải

Hoài nghi gồm có tám và 40 điều

 1 là hoài nghi Phật bảo

 2 là hoài nghi Pháp bảo

 3 là hoài nghi tăng bảo

 4 là hoài nghi tam học

 5 là hoài nghi đời quá khứ

 6 là hoài nghi đời vị lai

 7 là hoài nghi đời hiện tại

 8 là hoài nghi Y tương sinh (paṭiccasamuppāda)

1) Hoài nghi Phật bảo có 5 điều

- 1 là hoài nghi Phật có đắc chứng nhất thế chủng trí chăng?

- 2 là hoài nghi hào quang của Phật sáng thấu chỗ khuất đặng chăng?

- 3 là hoài nghi hào quang 6 màu của Phật khi suy xét bộ Đại xứ21 phóng ra đầy đủ chăng?

- 4 là hoài nghi song thông của Phật hiện trên cây xoài để hàng phục chúng ngoại đạo, rồi lên cõi trời Đao Lợi thuyết tạng Diệu Pháp (Abhidhamma) nhằm hạ thứ bảy, chẳng biết

có vậy chăng?

- 5 là hoài nghi cách diệt trừ vô minh bằng trí tuệ sáng suốt của Ngài, có phải vậy chăng? 2) Hoài nghi Pháp bảo có 4 điều

- 1 là hoài nghi 4 bực tâm đạo có thật đúng như vậy chăng?

- 2 là hoài nghi 4 bực thánh quả phải chắc có chăng?

- 3 là hoài nghi Níp-bàn phải là vắng lặng dứt tuyệt rốt ráo hết tất cả khổ phải chăng?

- 4 là hoài nghi pháp học tam tạng tám muôn bốn ngàn (84.000) pháp uẩn như thế phải chăng?

3) Hoài nghi tăng bảo có 2 điều

- 1 là hoài nghi Thánh tăng chẳng biết thật có đệ tử Phật đắc quả chăng?

- 2 là hoài nghi phàm tăng với cách tứ bạch yết ma, chư tăng chơn truyền đồng nhận chịu bằng cách nín thinh, thì vị ấy đắc tỷ kheo phải chăng?

4) Hoài nghi tam học có 3 điều

- 1 là hoài nghi giới như thế có phải ngăn trừ ác xấu phải chăng?

- 2 là hoài nghi pháp tịnh có phải dùng tâm yên lặng tiến hóa chăng?

- 3 là hoài nghi trí tuệ có phải tỏ ngộ, đắc chứng đến đạo quả diệt trừ phiền não dứt nhơn khổ phải chăng?

21 Bộ Đại xứ còn gọi là bộ Vị trí (paṭṭhāna)

Trang 39

5) Hoài nghi quá khứ có 5 điều

- 1 là nghi rằng đời trước ta có phải chăng?

- 2 là đời trước ta có hay không có?

- 3 là đời trước ta có ra như thế nào?

- 4 là đời trước ta có mà như thế nào kìa?

- 5 là đời trước ta ra sao và đổi ra sao?

6) Hoài nghi vị lai có 5 điều

- 1 là đời sau ta sẽ ra sao?

- 2 là đời sau ta không có phải chăng?

- 3 là đời sau nếu có ta sẽ thế nào?

- 4 là đời tới làm sao ta có đặng?

- 5 là đời sau ta thế nào, rồi sẽ ra sao?

7) Hoài nghi hiện tại có 5 điều

- 1 là đây là ta phải chăng?

- 2 là đây thành ra ta phải chăng?

- 3 là ta đây như thế nào?

- 4 là ta đây thành ra như thế nào?

- 5 là chúng sanh có do từ đâu?

8) Hoài nghi Y tương sinh (paṭiccasamuppāda) có 11 điều

- 1 là chúng sanh có già chết phải do sự sanh ra chăng?

- 2 là tục sinh (hay đầu thai) phải do nghiệp hậu hữu chăng?

- 3 là nghiệp hậu hữu phải do sự thủ chấp cứng chăng?

- 4 là hậu hữu có phải do sự tham ái chăng?

- 5 là ái có phải do sự thọ hưởng chăng?

- 6 là thọ có phải do sự xúc chạm chăng?

- 7 là xúc có phải do lục nhập chăng?

- 8 là lục nhập có phải do nhờ danh-sắc chăng?

- 9 là danh-sắc có phải do nhờ thức chăng?

- 10 thức tục sinh có pháp hành trợ giúp hay chăng?

- 11 là pháp hành phát sanh có phải do nhờ vô minh hay chăng?

Khi nào suy xét đến những hoài nghi đã kể, đó là tâm si hoài nghi!!!

Còn hoài nghi ngoài ra, gọi là hoài nghi thông thường thì cảnh của các tâm khác như là tham, sân, thiện, hạnh dục giới cũng có

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Phóng dật là tán loạn, lao chao, say mê, điên cuồng, quên mình chẳng tỉnh táo như là khi giựt mình lịu lọ v.v…

Nhơn sanh si có hai:

- 1 là tác ý không khéo (ayonisomanasikāra) là những cách suy xét về nhận định làm cho tâm bất thiện phát sanh như nghĩ theo tham, sân, si v.v…

- 2 là pháp lậu làm nền sanh

Nhơn sanh si có hai

- 1 là tác ý không khéo (đã giải)

- 2 là pháp lậu làm nền sanh

Trang 40

Tứ lậu có 3 chi pháp

- 1 là dục lậu là cách trầm ngâm theo lục dục trong đời hiện tại này, tức là sở hữu tham

- 2 là hữu lậu là cách trầm ngâm theo Sắc giới, Vô sắc giới, cũng tức là sở hữu tham

- 3 là tà kiến lậu là cách trầm ngâm mài miệt theo thường kiến chấp có, hay đoạn kiến chấp không, chẳng chịu bỏ, tức là sở hữu tà kiến

- 4 là vô minh lậu là cách không chịu theo sáng suốt như muỗi sợ mặt trời, chỉ chấp hẹp hòi như ếch ngồi đáy giếng, đó là sở hữu si

Vì có sở hữu si làm căn gốc rễ, nên gọi là tâm si

Tâm tham và tâm sân cũng thế

Hoài nghi hay phóng dật cũng đồng có tác ý không khéo làm nhơn sanh, vì phần lớn thiếu trí, yếu chánh niệm, nên nghĩ tưởng lôi thôi

Phân tên tâm bất thiện theo hợp đồng Tam tham thứ 1, 2, 5, 6, tâm sân và tâm si gồm chung lại gọi là tâm bất thiện tương ưng vì

có hợp tà kiến, phẫn, hoài nghi và phóng dật (mạnh)

Tâm tham 1, 3, 5, 7, tâm sân thứ 1 và 2, tâm si cũng gọi là tâm bất thiện vô trợ

Còn tâm tham thọ xả và 2 tâm si gồm lại gọi là tâm bất thiện thọ xả, vì đồng nhau bất thiện

và thọ xả

Bất thiện có 5 nghĩa:

 1 là bệnh hoạn (tâm)

 2 là không tốt đẹp (tâm)

 3 là không khéo léo (tâm)

 4 là có lỗi lầm (tâm)

 5 là ác xấu, cho quả khổ (tâm)

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Từ khóa » Siêu Lý Tiểu Học