BỆNH MÀNG TRONG (Hyaline Membrane Disease) - Bình Định
Có thể bạn quan tâm
Bệnh màng trong (Hyaline Membrane Disease)
I. ĐẠI CƯƠNG – Bệnh màng trong là một trong những nguyên nhân bệnh tật phổ biến nhất của các trẻ sơ sinh non tháng. Chẩn đoán hầu hết nhờ vào sự kết hợp các đặc điểm lâm sàng và kết quả X – quang. Khó chẩn đoán lâm sàng bệnh màng trong ở những trẻ có trọng lượng lúc sinh cực thấp nếu không có bằng chứng sinh hóa của tình trạng thiếu surfactant. – Biểu hiện lâm sàng cổ điển của bệnh màng trong bao gồm thở rên, rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi, tím và tăng nhu cầu oxy cùng với các hình ảnh X – quang chẩn đoán và khởi phát của các triệu chứng ngay sau sinh.
II. DỊCH TỄ HỌC – Bệnh màng trong (HMD: Hyaline Membrane Disease) hay còn gọi hội chứng suy hô hấp sơ sinh (Neonatal Respiratory Distress Syndrome) có thể gặp ở 1% tất cả trẻ sơ sinh, và vào khoảng 10% tất cả trẻ sơ sinh đẻ non, đặc biệt có thể lên đến 50% ở trẻ đẻ non trước 30 tuần thai. – Bệnh xảy ra khắp thế giới và ưu thế ở trẻ nam. Những yếu tố nguy cơ lớn nhất là tuổi thai nhỏ và cân nặng lúc sinh thấp. Những yếu tố nguy cơ khác bao gồm mẹ đái tháo đường và ngạt chu sinh. – Trong những năm vừa qua, tỷ lệ mắc bệnh màng trong có giảm xuống nhờ những biện pháp phòng ngừa, tuy nhiên bệnh này vẫn còn là nguyên nhân của 1/3 tổng số tử vong trong diện sơ sinh.III. BỆNH NGUYÊN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ – Phổi được cấu tạo bởi một số lượng khổng lồ các phế nang. Phế nang là đơn vị chức năng quan trọng nhất của phổi. Tại đây diễn ra sự trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường bên ngoài. Khí oxy sẽ từ môi trường đi vào mạch máu để được vận chuyển đến các tế bào. Khí carbonic được sinh ra trong quá trình chuyển hóa của cơ thể sẽ được thải ra ngoài. Theo hệ quả của định luật Laplace thì những phế nang nhỏ của phổi sẽ có khuynh hướng xẹp lại; trong khi đó những phế nang có kích thước lớn hơn sẽ gia tăng kích thước và đôi khi bị vỡ ra. Đó là do tác động của một lực vật lý gọi là sức căng bề mặt.
Bệnh màng trong
– Bình thường phổi không bị xẹp theo quy luật vật lý này là nhờ có chất làm điều hòa sức căng bề mặt ở các phế nang có kích thước khác nhau. Chất diện hoạt hay surfactant trong phổi có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của lớp bề mặt ngăn cách khí – dịch, ở đây là màng của phế nang, qua đó ngăn ngừa tình trạng xẹp phế nang trong thời kỳ thở ra. Sự thiếu hụt về lượng hoặc khiếm khuyết về chất của surfactant làm cho các phế nang trở nên kém ổn định và là yếu tố quyết định sự phát sinh của bệnh màng trong.
Bệnh màng trong
– Thành phần chính của chất surfactant là Dipalmitoyl – Phosphatidylcholin (Leucithin). Ngoài ra còn có chất khác là Phosphatidylglycerol. Sự thiếu hụt của thành phần chính là nguyên nhân thường gặp của bệnh màng trong. Tuy nhiên bệnh cũng có thể xuất hiện nếu có sự thiếu hụt hay rối loạn của thành phần phụ cũng như một số các apoprotein đặc hiệu. – Ở trẻ đẻ non, hệ thống emzyme xúc tác sự tổng hợp surfactant bởi các phế bào týp II (tế bào bụi) chưa hoàn chỉnh. Hệ thống men này chỉ hoạt động tốt khi thai đã được 34 đến 35 tuần. Do vậy những trẻ đẻ non thường có nguy cơ cao phát sinh bệnh này. – Các nguyên nhân làm phổi chậm trưởng thành khác như trẻ sinh ra từ mẹ bị bệnh đái tháo đường không được kiểm soát tốt trong thai kỳ, bệnh tăng nguyên hồng cầu. Các yếu tố có thể làm phổi trưởng thành sớm là các stress mạn tính đối với thai nhi như nhiễm trùng ối – màng ối, mẹ hút thuốc lá, suy thai …
IV. BỆNH SINH – Nguyên nhân tiên phát là sự thiếu hụt về lượng và/hoặc về chất của surfactant ở trẻ đẻ non. Sự thiếu hụt này gây nên các hậu quả sinh lý bệnh như sau: + Dãn suất (C: Compliance) của phổi giảm. + Các phế nang không được thông khí bình thường hay còn gọi là tình trạng xẹp phổi vi thể. + Giảm dung tích cặn chức năng (FRC: Functional Residual Capacity) của phổi. + Tăng luồng shunt trong phổi. + Tạo shunt từ tim phải qua tim trái (lỗ bầu dục, ống động mạch). + Giảm tưới máu mao mạch phổi gây nên sự thiếu oxy và chất dinh dưỡng ngay tại các tế bào của phổi. – Những biến đổi kể trên gây nên sự giảm thu nhận oxy vào trong cơ thể, tăng chênh lệch nồng độ oxy và carbonic giữa không khí và mao máu trong phổi. Tình trạng hạ oxy máu và nhiễm toan lại làm xấu đi những điều kiện cần thiết để tổng hợp surfactant. Càng thiếu surfactant thì tình trạng nhiễm toan và hạ oxy máu lại càng thêm nặng nề. Tình trạng này được gọi là vòng xoắn bệnh lý của bệnh màng trong.
Bệnh màng trong
– Do hậu quả quả của quá trình bệnh lý này mà tình trạng tưới máu phổi giảm xuống, tính thấm mao mạch phổi tăng lên. Do tăng tính thấm thành mạch mà các thành phần huyết tương của máu sẽ thoát ra khỏi mạch máu đi vào khoang tổ chức giữa mạch máu và bề mặt phế nang. Trên tiêu bản giải phẫu bệnh lý những trẻ tử vong do bệnh màng trong thấy xuất hiện một lớp màng trong suốt (hyaline membrane).
V. LÂM SÀNG – Các triệu chứng bệnh thường biểu hiện ngay sau lúc sinh ra hoặc trong 6 giờ đầu tiên: + Thở nhanh trên 60 lần/phút. + Cánh mũi phập phồng: Đôi khi không thấy dấu hiệu này mà chỉ thấy cánh mũi trẻ nở thường xuyên. + Rút lõm hõm ức hoặc khoang liên sườn. + Rên thời kỳ thở ra. + Nghe phổi phát hiện thông khí phổi giảm. + Da màu xanh tái. + Tím có thể ở đầu chi (tím ngoại biên), nếu nặng có thể tím trung tâm (tím cả niêm mạc môi miệng). – Mức độ suy hô hấp được đánh giá bằng chỉ số Silverman, dựa vào 5 tiêu chí lâm sàng sau: Xem hình đính kèm – Tổng số điểm: + < 3 đ: Không suy hô hấp + 4 – 6 đ: Suy hô hấp vừa + 7 – 10 đ: Suy hô hấp nặng
VI. CẬN LÂM SÀNG 6.1. Xquang phổi: Thể tích phổi giảm, lưới hạt lan tỏa và hình ảnh ứ khí cây phế quản. Chẩn đoán giai đoạn bệnh thường dựa vào chụp phim X – quang lồng ngực. – Giai đoạn I: nhu mô phổi có các hạt mịn biểu hiện xẹp phổi vi thể. – Giai đoạn II: Biểu hiện của giai đoạn I cộng với hình ảnh ứ khí cây phế quản, bờ tim còn phân biệt rõ với nhu mô phổi. – Giai đoạn III: Bóng tim không còn rõ hình dạng so với xung quanh, bờ tim bị xóa một phần. – Giai đoạn IV: Phim phổi là một hình mờ trắng xóa, không thể phân biệt tim với phổi. Sự phân giai đoạn hay phân độ bệnh màng trong thường chỉ thực hiện chính xác sau giờ thứ sáu của đời sống. Trong những giờ đầu tiên, khi lượng dịch còn lại trong phổi sơ sinh chưa được hấp thu hết có thể gây nhầm với bệnh màng trong hoặc chính lượng dịch này làm bệnh bệnh màng trong được phân độ nặng hơn thực tế. Ngược lại, khi chụp X – quang sớm, một số trường hợp không nhìn thấy được biểu hiện xẹp phổi. – Khi trẻ được thở máy áp lực cao hoặc dùng surfactant thay thế thì hình ảnh X-quang có cải thiện hơn. 6.2. Khí máu: Giảm PaO2. Trong giai đoạn đầu: PCO2 có thể bình thường hoặc tăng nhẹ
VII. CHẨN ĐOÁN 7.1. Chẩn đoán xác định – Trẻ đẻ non – Suy hô hấp ngay sau đẻ – Các dấu hiệu đặc trưng trên phim X – quang phổi 7.2. Chẩn đoán phân biệt – Khó thở nhanh thoáng qua. – Viêm phổi bẩm sinh. – Các tình trạng suy hô hấp không do phổi: Hạ nhiệt độ, hạ đường huyết, thiếu máu, đa hồng cầu, nhiễm toan chuyển hóa.
VIII. ĐIỀU TRỊ 8.1. Nguyên tắc chung: – Dự phòng corticoide trước sinh – Surfactant ngoại sinh – Thông khí hỗ trợ 8.2. Corticoid trước sinh: Cho corticoid cho các bà mẹ có nguy cơ cao đẻ non từ 23 – 34 tuần 8.3. Surfactant:
Bệnh màng trong
– Dự phòng suy hô hấp do bệnh màng trong: Sử dụng surfactant sớm để dự phòng suy hô hấp ngay sau khi ổn định cho các bệnh nhân < 27 tuần tuổi thai. – Điều trị: Cho các bệnh nhân đẻ non có hội chứng màng trong phải thở máy với FiO2 ≥ 30% hoặc thất bại với nCPAP (cần FiO2 ≥ 40% để duy trì SpO2 > 90%). – Liều: 50 – 200mg/kg/lần, tùy theo mức độ nặng của bệnh (nếu dùng liều 200mg/kg sẽ giảm nguy cơ phải điều trị lặp lại). – Liều lặp lại: khi bệnh nhân cần FiO2 >30% và không rút được nội khí quản sau bơm surfactant. Tối đa có thể lặp lại 3 lần. – Đường dùng: bơm qua nội khí quản. – Tác dụng không mong muốn của surfactant: + Tắc ống nội khí quản. + Hạ huyết áp thoáng qua. + Ức chế hoạt động tế bào não thể hiện trên điện não đồ thoáng qua. + Thay đổi tốc độ dòng máu trong tuần hoàn não. + Đôi khi gây xuất huyết phổi cấp tính. 8.4. Thông khí hỗ trợ – Thở nCPAP để ngăn xẹp phế nang, duy trì dung tích cặn chức năng giảm các cơn ngừng thở. – Thở máy không xâm nhập (NIPPV): tránh các chấn thương do ống nội quản. – Thở máy xâm nhập khi có một trong 3 tiêu chuẩn sau: + Toan hô hấp: pH < 7,2 và pCO2 > 60 mmHg với nCPAP. + Giảm oxy: PaO2 < 50 mmHg hoặc pCO2 > 60 mmHg với nCPAP. + Ngừng thở kéo dài. Đích điều trị duy trì: SpO2: 90 – 95%, PaCO2: 45 – 60 mmHg.
Bệnh màng trong
8.5. Điều trị hỗ trợ: – Giữ nhiệt độ da bụng 36,5 – 37 độ C để giảm tiêu thụ oxy và năng lượng. – Cân bằng dịch: Nên giữ ấm nhẹ. – Gợi ý cách xử trí RDS ở trẻ đẻ non: Xem hình đính kèm.
IX. BIẾN CHỨNG 9.1. Biến chứng cấp tính – Vỡ phế nang gây tràn khí màng phổi, suy hô hấp nặng nề. – Nhiễm trùng: Tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện. – Xuất huyết não và nhuyễn hóa chất trắng quanh não thất. – Còn ống động mạch. – Xuất huyết phổi. – Tăng nguy cơ viêm ruột hoại tử và thủng ruột. – Cơn ngừng thở ở trẻ sơ sinh đẻ non. 9.2. Biến chứng mạn tính – Loạn sản phổi – phế quản. – Tăng nguy cơ bị chứng trào ngược dạ dày – thực quản và hội chứng đột tử ở nhũ nhi (SIDS: Sudden Infant Death Syndrome). – Bệnh lý võng mạc ở trẻ đẻ non (ROP: Retinopathy of Prematurity). – Thương tổn thần kinh: Thường là do hậu quả của xuất huyết não, nhuyễn hóa chất trắng quanh não thất, do thiếu oxy não, do nhiễm trùng … – Những vấn đề tâm lý trong gia dình: Trẻ thường phải điều trị dài ngày trong các trung tâm sơ sinh do đó sự tiếp xúc ngay từ những giây phút đầu đời với bố mẹ bị gián đoạn. Một cuộc sinh non cũng có thể là một chấn thương tâm lý đối với bố mẹ. Trẻ thường có nguy cơ bị ngược đãi sau này.
X. THEO DÕI – Kiểm tra đường máu 3 lần/ngày. – Hematocrit 1 lần/ngày. – Điện giải đồ 1 lần/ngày nếu không có bất thường. – Nồng độ Protein máu 1 lần/ngày. – Công thức máu 1 lần/ngày. – Nước tiểu 1 lần/ngày (pH, điện giải đồ, áp lực thẩm thấu, tỉ trọng)
XI. PHÒNG NGỪA Những thai phụ có dấu hiệu dọa đẻ non cần được điều trị dự phòng bằng Dexamethason hoặc betamethason trước khi sinh từ 24 đến 48 giờ. Điều trị dự phòng này có thể làm giảm tần suất cũng như độ nặng của bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh.
XII. TIÊN LƯỢNG Nhờ vào liệu pháp thay thế surfactant cũng như tiến bộ trong hồi sức và chăm sóc sơ sinh mà những trẻ sơ sinh đẻ non từ 27 đến 30 tuần thai bị bệnh màng trong có tỉ lệ sống đến 80%. Tuy nhiên khoảng 20% trong số này lại bị các biến chứng lâu dài của tình trạng sinh non như loạn sản phổi – phế quản hoặc xuất huyết não. Hy vọng trong tương lai, cùng với việc đưa vào lâm sàng những chế phẩm surfactant mới cũng như các phương pháp điều trị ưu việt sẽ cải thiện hơn nữa tiên lượng của trẻ.
thuy trang
CẬP NHẬT PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ VI KHUẨN HELICOBACTER PYLORI MỚI NHẤT VÀNG DA TĂNG BILIRUBINE GIÁN TIẾPLeave a Reply Cancel reply
Your email address will not be published. Required fields are marked *
Comment *
Name *
Email *
Website
Save my name, email, and website in this browser for the next time I comment.
SearchSearchRecent Posts
- Thông tin ứng viên
- Thăm dò chức năng
- Da liễu
- Chẩn đoán hình ảnh
- Khoa Ngoại
Recent Comments
No comments to show.- Trang chủ
- Phòng Khám
- Chẩn đoán hình ảnh
- Khoa Ngoại
- Khoa Nội
- Xét nghiệm
- Tai Mũi Họng
- Răng Hàm Mặt
- Khoa Nhi
- Khoa Sản
- Khoa Mắt
- Đông y & Lý trị
- Da liễu
- Nhà thuốc
- Tiêm chủng
- Tin tức
- Liên Hệ
- -
- Newsletter
- PHÒNG KHÁM ĐA KHOA GIANG SAN
- NHÀ THUỐC GIANG SAN
Từ khóa » X Quang Phổi Bệnh Màng Trong
-
Hình ảnh X Quang Phổi Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sinh Non | Vinmec
-
Bệnh Màng Trong - SlideShare
-
Hội Chứng Suy Hô Hấp ở Trẻ Sơ Sinh (bệnh Màng Trong)
-
Suy Hô Hấp Do Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sơ Sinh
-
BỆNH MÀNG TRONG TRẺ ĐẺ NON
-
Bệnh Màng Trong – Wikipedia Tiếng Việt
-
Bệnh Màng Trong Sơ Sinh – Wikipedia Tiếng Việt
-
Hội Chứng Suy Hô Hấp ở Trẻ Sơ Sinh - Phiên Bản Dành Cho Chuyên Gia
-
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH MÀNG TRONG Ở TRẺ SƠ ...
-
Bệnh Màng Phổi Liên Quan đến Amiăng - Rối Loạn Chức Năng Hô Hấp
-
Điều Trị Thành Công Một Ca Bệnh Màng Trong Giai đoạn IV Biến Chứng ...
-
Chụp X-quang Phổi Giúp Phát Hiện Bệnh Gì, Bao Nhiêu Tiền?
-
Bệnh Màng Trong ở Trẻ Sơ Sinh - Tuổi Trẻ Online