BỆNH SỐT RICKETSIA (SỐT MÒ)

BỆNH SỐT RICKETSIA (SỐT MÒ)

1. Định nghĩa

Sốt do ấu trùng mò (thường được gọi tắt là bệnh sốt mò) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do Rickettsia orientalis (hay là R. tsutsugamushi) gây nên; trung gian truyền bệnh là ấu trùng mò Trombicula (hiện nay gọi là Leptotrombidium). Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt kéo dài 2-3 tuần, kèm theo có loét ở da, nổi hạch toàn thân và nổi ban. Điều trị bằng chloramphenicol và tetracyclin có kết quả tốt.

2. Lâm sàng

2.1. Phân chia thể lâm sàng:

Theo hình ảnh lâm sàng có các thể:

1. Thể tiềm tàng 3. Thể thông thường điển hình

2. Thể cụt 4. Thể nặng

2.2.Triệu chứng học các thể lâm sàng:

Thể thông thường điển hình

* Nung bệnh

Trung bình từ 8 đến 12 ngày, sớm là 6 ngày, dài là 21 ngày.

* Khởi phát

Là thời kỳ của quá trình hình thành vết loét. Bệnh nhân không hề biết vì không thấy đau, rát hay ngứa. Bệnh nhân chỉ biết khi bị sốt cao và bệnh đã vào giai đoạn toàn phát.

* Toàn phát

- Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc: Thường nặng nề và là những triệu chứng sớm của bệnh với các biểu hiện:

+ Sốt nhẹ 1 đến 2 ngày đầu, sau sốt cao liên tục; cũng có nhiều trường hợp đột ngột sốt cao ngay 39 - 40°C trong ngày đầu giống như sốt rét. Sốt cao liên tục dai dẳng xung quanh 40°C, sốt hình cao nguyên hoặc kiểu nối cơn kéo dài từ 15 đến 20 ngày, nếu không được điều trị. Nhiệt độ và mạch thường phân ly giống thương hàn. Trong 1-2 ngày đầu có thể có các cơn sốt rét run hoặc cơn gai rét, sau thường là sốt nóng đơn thuần.

+ Tình trạng nhiễm độc thần kinh thường nặng nề, nhức đầu là dấu hiệu khởi đầu, đau khắp đầu, đầu nhức như búa bổ, dai dẳng nhiều ngày, có thể nhức cả 2 hố mắt; mệt mỏi, khó chịu, hoa mắt, chóng mặt, đi lại lảo đảo, ù tai, lưỡi run rẩy, có cơn vã mồ hôi, đau cơ nhiều như trong bệnh Leptospirosis; có những trường hợp cũng li bì thờ thẫn, u ám như trong bệnh thương hàn.

- Hội chứng loét - hạch - ban:

+ Loét: Tỷ lệ bệnh nhân có vết loét ở mỗi nước có khác nhau. Ở Việt Nam gặp khá phổ biến (khoảng 80%). Đây là dấu hiệu giúp cho chẩn đoán bệnh dễ dàng.

Vị trí: vết loét có thể gặp ở khắp cơ thể, thông thường ở chỗ da non và ẩm. Hay gặp ở bộ phận sinh dục, nách, bẹn rồi đến hậu môn, háng, thắt lưng sau mới tới chân tay, lưng, ngực, bụng, cổ. Đôi khi vết loét ở vị trí khá bất ngờ như vành tai, rốn, mi mắt. Do vậy, phải khám kỹ mọi bộ phận của bệnh nhân.

Số lượng: thường gặp 1 vết loét, hãn hữu mới có 2 vết loét.

Tính chất: thường hình tròn hoặc bầu dục, đường kính 1 mm - 2 cm. Nếu có vẩy thì vẩy đen, cứng phủ trên một nốt sẩn có gờ cứng. Nếu vẩy đã bong thì để lại vết loét lõm, màu đỏ tươi, sạch không tiết dịch, không có mủ, bờ vết loét thường cao hơn mặt da. Bệnh nhân không hề biết có vết loét vì hoàn toàn không đau, không ngứa, không tức, rát.

+ Hạch to: Có 2 loại hạch to:

Hạch khu vực nguyên phát: Ở gần nơi có vết loét, hạch sưng to bằng hạt táo, quả xoan hoặc có thể to hơn. Hạch khu vực thường to hơn hạch ở nơi khác. Lúc đầu chỉ tức sau đau hơn, có thể viêm quanh hạch. Hạch khu vực thường xuất hiện cùng với sốt hoặc sau sốt 2-3 ngày. Chính việc phát hiện ra hạch khu vực giúp định hướng cho việc tìm vết loét.

Viêm hạch toàn thân thứ phát: Thường xuất hiện sau hạch khu vực; sưng ít, di động và đau nhẹ hơn hạch khu vực; thấy ở nách, bẹn, cổ, khuỷu tay. Ở Việt Nam, 100% bệnh nhân sốt mò đều có hạch sưng to.

+ Ban: Ban xuất hiện vào cuối tuần thứ nhất và đầu tuần 2 của bệnh; thường là ban dát sẩn, kích thước từ hạt kê đến 1cm đường kính; mọc khắp toàn thân (lưng, ngực, bụng, tứ chi) trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân; khoảng 10% bệnh nhân có ban xuất huyết; ban tồn tại từ vài giờ tới một tuần.

- Hội chứng tim, mạch: Rất hay gặp các tổn thương tim mạch trong bệnh sốt mò:

+ Dãn mạch làm da thường hồng hào, xung huyết kết mạc mắt với nhiều tia máu đỏ (đây là triệu chứng để phân biệt với sốt rét và thương hàn). Đôi khi có những trường hợp xuất huyết dưới da, chảy máu cam, xuất huyết đường tiêu hoá, ho ra máu.

+ Viêm cơ tim: tiếng tim mờ, ngoại tâm thu, huyết áp giảm.

- Các triệu chứng về hô hấp: Có thể gặp viêm phổi không điển hình, viêm phế quản.

+ Tiêu hoá: đa số bệnh nhân bị táo bón, đôi khi có ỉa lỏng; đau vùng thượng vị giống như viêm dạ dày. Các triệu chứng này thường hết khi khỏi bệnh. Gan và lách có thể to nhưng thường chỉ mấp mé bờ sườn, ít đau.

+ Tiết niệu: Có thể có protein niệu, đôi khi có cả trụ hình nhưng chỉ thoáng qua.

* Hồi phục và tái phát:

- Hồi phục: Nếu được điều trị bằng kháng sinh thích hợp sẽ cắt sốt nhanh. Nếu không được điều trị kháng sinh và không có biến chứng, sốt thường kéo dài khoảng 2-3 tuần thì hết. Bệnh phục hồi chậm, thời gian dưỡng bệnh kéo dài 1-2 tuần.

- Tái phát: Tỷ lệ tái phát cao, dù đã được điều trị. Tái phát thường xuất hiện sau khi cắt sốt 5-14 ngày. Bệnh tái phát là do chlorocid chỉ kìm hãm, không diệt được Rickettsia.

* Biến chứng và tử vong :

- Biến chứng: Nếu không được điều trị bệnh có thể gặp các biến chứng nặng và thường là nguyên nhân gây tử vong như:

+ Tim mạch: Viêm cơ tim, truỵ tim mạch, sốc nhiễm khuẩn.

+ Hô hấp: Viêm phổi, phế quản nặng do bội nhiễm hoặc do chính Rickettsia.

+ Viêm não, màng não.

- Tử vong: Tỷ lệ tử vong thay đổi tuỳ theo từng vùng, tuỳ thuộc vào độc tính của chủng Rickettsia ở từng nơi.

+ Việt Nam: Khoảng 1% + Indonesia và Đài Loan: 5% - 20%

+ Malaysia: 15% - 20 % + Nhật Bản: 20% - 60%.

3. Chẩn đoán

3.1. Chẩn đoán xác định

- Triệu chứng lâm sàng: Sốt và hội chứng loét - hạch - ban.

- Dịch tễ: Sống hoặc đi qua vùng dịch.

- Để chẩn đoán sốt mò, hiện nay vẫn sử dụng phản ứng Weil – Felix vì nó rẻ tiền, dễ thực hiện. Gần đây, người ta sử dụng các test nhanh vì đây là kỹ thuật đơn giản nhờ các bộ sinh phẩm có sẵn.

3.1. Chẩn đoán phân biệt

- Bệnh do xoắn khuẩn Leptospira (Leptospirosis).

- Thương hàn

- Sốt Dengue

- Sốt rét tiên phát

- Sốt phát ban bọ chuột:

- Sốt phát ban chấy rận

4. Điều trị

4.1. Đìêu trị đặc hiệu

- Kháng sinh thông dụng và có hiệu quả nhất với sốt mò là chlorocid và tetraxyclin. Do 2 thuốc này chỉ có tác dụng hãm khuẩn chứ không diệt được khuẩn nên Rickettsia vẫn sống và tồn tại trong hạch bạch huyết, ở hệ võng nội mô trong nhiều ngày, nhiều tháng và dễ tái phát bệnh.

Liều lượng và cách dùng:

+ Dùng liều cao 2 g khởi đầu có xu hướng cắt sốt nhanh hơn. Ngày đầu: 2g/ngày (cho người ³ 50 kg), các ngày sau: 1g/ngày, dùng tới khi cắt sốt 2-3 ngày; tổng liều: 6-7g. Dùng liều cao không làm giảm khả năng sinh kháng thể nên không ảnh hưởng tới phân tích kết quả của các phản ứng huyết thanh và cũng không gây tai biến gì cho người bệnh.

- Có thể dùng doxycycline 0,1 x 2 viên/ngày cho người lớn, dùng 7 đến 15 ngày.

Ciprofloxacin và Azithromyxin cũng có tác dụng tốt trong điều trị bệnh sốt mò.

- Liệu pháp Corticoid: Một số trường hợp sau khi dùng kháng sinh vài ngày nhiệt độ vẫn không thuyên giảm có thể dùng phối hợp với cortancyl (nếu không có chống chỉ định) với liều trung bình ngắn ngày: Cortancyl 5 mg ´ 4 viên/ngày, dùng trong 2-3 ngày sẽ hạ nhiệt độ nhanh hơn.

4.2. Điều trị triệu chứng

- Bổ sung nước - điện giải: Ở bệnh nhân sốt mò, thường sốt cao kéo dài, ăn uống kém nên dễ có hiện tượng mất nước điện giải. Do vậy cần cho bệnh nhân uống và truyền dịch.

- Trợ tim mạch: Trong sốt mò hay có viêm cơ tim, viêm nội mạc mao quản do vậy cần dùng các thuốc trợ tim mạch như: Ouabain, spactein, coramin.

- Nâng sức đề kháng: Sinh tố, dinh dưỡng, chế độ ăn.

Từ khóa » Sinh Lý Bệnh Sốt Mò