BÉO PHÌ Ở TRẺ EM - An Nhơn - Bình Định

Béo phì ở trẻ em

Béo phì ở trẻ em

Béo phì ở trẻ em

I. ĐẠI CƯƠNG 1.1. Định nghĩa của WHO: – Béo phì là trạng thái dư thừa cân nặng do tích luỹ thái quá và không bình thường của lipit trong các tổ chức mỡ tới mức có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ. – Thừa cân là tình trạng cân nặng cơ thể vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. – Người được coi là “béo phì” khi cân nặng vượt quá cân nặng lý tưởng 20%, còn “thừa cân” thuộc khoảng giữa cân nặng bình thường và béo phì. 1.2. Đánh giá thừa cân, béo phì: – Có nhiều cách xác định chính xác lượng mỡ trong cơ thể như: Đo tỷ trọng cơ thể, đo độ dẫn điện của cơ thể, đo độ khuyếch tán các chất khí tan trong chất béo, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân … – Thực tế thường sử dụng các chỉ tiêu cân nặng, chiều cao, bề dày lớp mỡ dưới da để đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì. – Đối với trẻ em: Giới hạn “ngưỡng” để được coi là thừa cân là khi chỉ tiêu cân nặng (W) theo chiều cao (H) trên + 2SD và được chia thành các mức độ như sau: + W/H từ + 2SD đến + 3SD: Thừa cân độ 1 (nhẹ). + W/H từ + 3SD đến + 4SD: Thừa cân độ 2 (trung bình). + W/H ≥ 4SD: Thừa cân độ 3 (nặng).

Béo phì ở trẻ em

Béo phì ở trẻ em

Béo phì ở trẻ em

Béo phì ở trẻ em

– Tuy nhiên để xác định thực sự là “béo” cần đo thêm bề dày lớp mỡ dưới da. Có thể đo bề dày lớp mỡ dưới da ở nhiều vị trí khác nhau như: Nếp gấp da cơ tam đầu, cơ nhị đầu, dưới xương bả vai, mạn sườn, đường nách giữa … tuỳ từng lứa tuổi. – Đối với học sinh tiểu học thường đo nếp gấp da cơ tam đầu và dưới xương bả vai. Khi bề dầy lớp mỡ dưới da cơ tam đầu và dưới xương bả vai  90th percentile thì được gọi là béo phì. – Đối với trẻ vị thành niên: Dùng chỉ số khối cơ thể (BMI: Body Mass Index) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho lứa tuổi này. Dựa vào chỉ số BMI theo tuổi, người ta đánh giá thừa cân và béo phì như sau: + Thừa cân: BMI ≥ 85th percentile + Béo phì: BMI ≥ 85th percentile và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu, dưới xương bả vai đều ≥ 90th percentile. – Đối với người trưởng thành: + Bình thường: BMI từ 18,5 – 24,99 + Thừa cân độ 1: BMI từ 25,0 – 29,99 + Thừa cân độ 2: BMI từ 30,0 – 39,99 + Thừa cân độ 3: BMI ≥ 40,0 1.3. Phân loại béo phì – Phân loại béo phì theo hình thái mô mỡ: + Béo phì quá sản (hyperplasia): Thường gặp ở trẻ em, các tế bào mỡ tăng cả về số lượng và kích thước. Béo phì loại này thường nặng, khó điều trị và sớm phát triển những bất thường trong cuộc sống. + Béo phì phì đại (hypertrophy): Thường gặp ở người trưởng thành, các tế bào mỡ to bất thường, trong khi đó số lượng tế bào mỡ không tăng hoặc chỉ tăng khi đã phình to hết mức. Béo phì loại này có thể đáp ứng tốt với điều trị. – Phân loại béo phì theo vị trí phân bố mô mỡ: + Béo bụng (android): Là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng bụng. Thường gặp ở đàn ông do ngồi nhiều, ít hoạt động, trọng lượng dồn ở phần trên cơ thể tạo nên hình dạng béo hình “quả táo”. + Béo đùi (gynoid): Là dạng béo phì mà mỡ tập trung chủ yếu ở vùng mông và đùi. Thường gặp ở phụ nữ do đẻ nhiều, khung chậu rộng, trọng lượng dồn ở phần dưới cơ thể tạo nên hình dạng béo hình “quả lê”. Nhìn chung béo bụng có nguy cơ mắc bệnh và tử vong do các bệnh tim mạch, cao huyết áp, đái tháo đường … nhiều hơn so với béo đùi. + Béo đều: Mỡ phân bố toàn thân và thường gặp ở trẻ em.

II. BỆNH NGUYÊN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ Có một vài yếu tố ảnh hưởng đến thừa cân, béo phì trong sơ đồ sau (xem hình đính kèm). 2.1. Yếu tố dinh dưỡng: Khẩu phần ăn giàu năng lượng vượt quá năng lượng tiêu hao tạo nên một cân bằng dương tính và phần dư thừa được chuyển thành mỡ tích trữ trong các tổ chức. Béo phì nguyên nhân do dinh dưỡng chiếm 60 – 80% các trường hợp. 2.2. Hoạt động thể lực ít. 2.3. Yếu tố kinh tế – xã hội. 2.4. Yếu tố di truyền. 2.5. Yếu tố nội tiết, chuyển hoá: Các rối loạn chuyển hoá trong cơ thể như rối loạn hoạt động của một số hệ enzyme trong cơ thể hay rối loạn hoạt động của các tuyến nội tiết như tuyến giáp (suy giáp), tuyến yên (thiếu hormon tăng trưởng), tuyến thượng thận (Cushing) … là những nguyên nhân gây béo phì. Tuy nhiên, béo phì do nguyên nhân này chỉ chiếm một tỷ lệ không nhiều, khoảng 20% các trường hợp. 2.6. Thời gian ngủ ít. 2.7. Cân nặng lúc đẻ tăng hơn so với bình thường. 2.8. Suy dinh dưỡng thể thấp còi. 2.9. Một số nguyên nhân khác: Do bệnh não, hội chứng đa dị dạng.

Béo phì ở trẻ em

Béo phì ở trẻ em

III. ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ TRẺ EM Nguy cơ đầu tiên của béo phì trẻ em là khả năng kéo dài đến tuổi trưởng thành với các hậu quả của nó. Béo phì ở trẻ thường là do sự tăng sản các tế bào mỡ chứ không phải là do các tế bào mỡ to bất thường như ở người trưởng thành. Vì vậy, béo phì ở trẻ em thường khó điều trị và sẽ chuyển thành béo phì người lớn. Có thể tóm tắt ảnh hưởng của thừa cân và béo phì đối với sức khoẻ trẻ em như trong bảng sau (xem hình đính kèm).

Béo phì ở trẻ em

Béo phì ở trẻ em

IV. ĐIỀU TRỊ 5.1. Nguyên tắc chung: Hạn chế năng lượng đưa vào, thực hiện kiểm soát chế độ ăn uống và hoạt động thể lực. – Chế độ ăn: Đảm bảo một số nguyên tắc sau: + Cần điều tra cẩn thận chế độ ăn uống của trẻ trước khi điều trị. + Hướng dẫn cho trẻ ăn đúng. + Điều chỉnh gianh giới giữa các bữa ăn cho hợp lý. + Tránh các thức ăn rán, thức ăn có nhiều mỡ, đường, bánh kẹo, chocolate, bánh mỳ, thịt hun khói, trứng. + Khuyến khích dùng nước uống thường. + Tạo một tinh thần trách nhiệm cho toàn bộ gia đình, nhất là cặp mẹ con. + Năng lượng hàng ngày khoảng 1500 Calo cho trẻ vị thành niên. + Thức ăn cho phép không hạn chế: Thịt, cá, gia cầm chín không mỡ, rau xanh, sản phẩm sữa 1/2 kem. + Khuyến khích bữa ăn gia đình: Một bữa ăn lý tưởng bao gồm: * 4 phần Gluxit (1 rau sống, 1 rau chín, 1 bột lọc, 1 chế phẩm ngọt). * 2 phần Protit (1 đạm sữa, 1 đạm không sữa). * 1 phần Lipit (1/2 mỡ động vật, 1/2 mỡ thực vật). – Ở trẻ nhỏ đã cai sữa thì cần giảm thể tích sữa đưa vào, nhưng nếu sữa là thành phần chính của dinh dưỡng thì cần giảm số lượng mỡ trong sữa là cách tốt nhất để giảm năng lượng đưa vào. Khi dùng sữa năng lượng thấp cho trẻ nhỏ cần cho thêm vitamin A, vitamin D và vitamin C. – Cần tăng thành phần sợi của thức ăn để giảm mật độ năng lượng thức ăn. Cung cấp sợi qua hoa quả tươi và rau nghiền. Trong quá trình hạn chế thức ăn, cần theo dõi chặt chẽ vì có thể gây sụt cân, thiếu hụt dinh dưỡng và hạn chế tăng trưởng. – Hoạt động: + Khuyến khích tham gia thể thao. + Khuyến khích hoạt động thể lực: Đi bộ, chạy, nhảy, bơi, đi xe đạp … + Khuyến khích làm chân “đầu sai” trong gia đình, chủ động làm các việc trong nhà. + Hạn chế xem vô tuyến. – Thuốc: Có một số thuốc để điều trị béo phì: + Amphitamin và các dẫn xuất: Tác dụng lên trung tâm, làm giảm thèm ăn, khi dùng phải thận trọng. Hiện chưa có kinh nghiệm điều trị cho trẻ em. Tác dụng phụ là đánh trống ngực, kích thích … + Thuốc lợi tiểu. + Tinh chất giáp trạng: Chỉ có hiệu lực tạm thời. – Thức ăn giả: Là các dẫn xuất của cellulose, chúng có tác dụng làm đầy dạ dày mà không cho năng lượng thực. – Phẫu thuật: + Cắt bỏ phần mỡ bụng. + Gấp cuộn dạ dày. + Làm một đường vòng ngắn ruột.

V. PHÒNG BỆNH – Hiện nay phòng bệnh béo phì là quan trọng. Đây không phải chỉ là vấn đề y tế mà còn là vấn đề xã hội, và kinh tế. Phòng bệnh nên chú ý ở những trẻ có nguy cơ béo phì. – Giáo dục phổ biến cách ăn uống đúng trên các phương tiện thông tin đại chúng. – Tuyên truyền rộng rãi việc phòng bệnh béo phì và phổ biến các hậu quả của béo phì. – Hướng dẫn cách sống khoẻ mạnh, khuyến khích tham gia các hoạt động thể dục, nhất là các trường học cần có chương trình, có giờ hoạt động thể lực. – Tổ chức xây dựng những chỗ vui chơi, giải trí công cộng an toàn. – Tránh quảng cáo các thức ăn mới lạ. – Nên ăn theo bữa ăn truyền thống gia đình, tránh ăn nhiều mỡ, đường, thức ăn nhanh. – Khuyến khích trẻ ăn nhiều quả và rau xanh. – Chỉ cho trẻ ăn khi đói, không cho ăn để an ủi. – Hạn chế xem vô tuyến. – Theo dõi cân nặng trẻ thường xuyên để phòng béo phì sớm.

Từ khóa » đo Bề Dày Lớp Mỡ Dưới Da