Bí ẩn Cuộc Sống Của Bộ Tộc 92 Người - Công An Nhân Dân
Có thể bạn quan tâm
Hành trình khốc liệt đi tìm sự sống
Người Thủy đang ở bản Thượng Minh, xã Hồng Quang, huyện mới Lâm Bình. Theo chân một người dân bản địa, chuyến viếng thăm bất ngờ của chúng tôi được khởi hành từ huyện Chiêm Hóa. Từ đây vào Hồng Quang chỉ mất 40 cây số, đường đi có đoạn đã trải nhựa, có đoạn vẫn đất trơn tuồn tuột. Đường ấy chỉ dẫn đến trung tâm xã, còn vào Thượng Minh chỉ có đường đất.
Đường xuyên tán rừng, mấy năm trước, mọi sự di chuyển chỉ nhờ đôi chân. Bây giờ, xe máy đã nhúc nhắc qua lại, nhưng những hôm mưa thì khốn khổ vô cùng. Bởi thế, Bí thư Đảng ủy xã Hồng Quang, ông Mai Đình Nhiêu đã nằng nặc khuyên chúng tôi không nên vào đó khi ngoài trời mây đen vần vũ. Muốn tận khổ cùng đồng bào nên chúng tôi vẫn dứt khoát đi.
Sau một hồi đôn đáo khắp nơi cuối cùng vị lãnh đạo đảng bộ xã nhiệt tình ấy đã tìm ra phương tiện để phục vụ đoàn di chuyển. Một chiếc xe đặc dụng đã được trưng dụng. Chiếc xe này chuyên chở vật liệu xây dựng cho đồng bào các bản vùng cao. Thấy chúng tôi còn ngần ngại, chủ xe bảo, cứ vô tư đi, xe này đường nào cũng chấp. Quả đúng như “quái xế” đường rừng ấy nói, chỉ sau mấy tiếng gầm rú, chiếc xe cứ lầm lũi cắt rừng mà đi, mặc cho trời mưa như trút nước.
![]() |
Theo sự chỉ dẫn của cán bộ xã Hồng Quang, khi vào đến Thượng Minh, người đầu tiên chúng tôi muốn gặp là cụ Bàn Văn Kim, thầy mo cuối cùng của người Thủy. Năm nay, tuổi gần 80, cụ Kim là người cao tuổi nhất trong cộng đồng tộc người có số thành viên ít nhất Việt Nam này.
Cụ Kim người nhỏ thó, tiếng Kinh nói lơ lớ. Nhắc lại chuyện xưa, cụ bảo, chừng 400 năm trước, người Thủy sống ở Quý Châu, Trung Quốc. Ngày ấy, bởi là một nhánh của người Mông, sống cạnh sông suối nên người Thủy được gọi là Mông nước, hay Mèo nước. Cái tên tộc người Thủy chỉ xuất hiện khi tộc người này đến cư trú tại Việt Nam.
Nói về cuộc thiên di vĩ đại nhưng đầy khổ đau ấy, cụ Kim kể, ngày ấy bởi chiến tranh, bệnh dịch hoành hành, người Mông nước phải cất bước thiên di. Xuôi phương Nam, ban đầu, người Thủy chọn đất Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang làm nơi an cư lạc nghiệp. Cụ Kim kể, trong cuộc ly hương khốc liệt ấy, cả bộ tộc hàng ngàn người khi đến nơi định cư mới chỉ còn khoảng 80 hộ với vài trăm người. Bệnh tật, đói khát đã làm nhiều sinh linh bỏ mạng trên dặm dài thiên lý.
Do ngôn ngữ, tập tục khác hẳn các dân tộc địa phương ở Hà Giang nên nhóm người Thủy lúc bấy giờ sống biệt lập. Họ dựng vợ gả chồng quanh quẩn trong bản. Trong quá trình mưu sinh gay gắt đó cộng với tình trạng hôn nhân cận huyết và bệnh tật nơi rừng thiêng nước độc đã làm người Thủy chết dần chết mòn. 80 hộ đến được Hà Giang chỉ còn chưa đến 10. Sau cách mạng tháng 8, người Thủy lại tiếp tục thiên di. Khi ấy về Tuyên Quang họ chỉ còn vỏn vẹn 13 người của 3 họ Lý, Mùng, Bàn.
Báu vật đá thiêng
Theo cụ Kim thì sở dĩ tộc người của cụ sống sót và phục hồi như ngày nay là bởi có thần linh che chở. Thần linh giúp người Thủy vượt qua khổ ải, giúp nương ngô nhiều hạt, ruộng lúa nhiều bông. Thần linh luôn ngự trị trong tâm hồn mỗi người dân trong cộng đồng. Thần linh soi đường, mở lối, mách bảo mọi người tìm ra ánh sáng, lẽ phải ở đời. Bao đời nay thần linh vẫn trú ngụ trong hòn đá thiêng mà người Thủy xem như là báu vật vô giá.
Minh chứng cho những lời mình nói, vẻ cung kính, run rẩy, cụ Kim xuống bếp bê lên một chiếc hòm nhỏ có vải đỏ phủ kín xung quanh. Chiếc hòm đó đựng hòn đá thiêng, vật mà cụ nhận từ tiền nhân đời trước. Hòn đá đó chỉ những người có uy tín trong tộc mới được quyền cất giữ. Mặt nghiêm nghị, chậm rãi, cụ Kim nhấc hòn đá đặt lên bàn. Hòn đá to chừng nắm tay, xù xì như bao hòn đá mà mọi người vẫn thấy nơi bờ suối, bờ sông. Chỉ khác một điều hòn đá có lỗ, có thể xâu dây qua, treo lủng lẳng.
Hướng mắt lên đỉnh núi mờ sương, cụ Kim bảo, hòn đá thiêng này gắn bó với cộng đồng người Thủy khi mọi người thiên di xuống phương Nam. Ngày trước, khi còn ở quê cũ, tộc của cụ sở hữu một hòn đá thiêng khác. Ngày ấy, có thần linh hộ mệnh, người Mèo nước hùng cường, khiến nhiều tộc khác ghen tị. Biết đối thủ có bảo vật hộ thân nên một tộc khác đã cho gián điệp đánh cắp hòn đá rồi dùng tà thuật làm tan biến hết phép nhiệm mầu. Chính bởi chuyện này mà người Mèo nước suy vong, sau cùng phải lìa bỏ mảnh đất gắn bó với mình.
Khi tới quê hương mới, nguyện ước được sống dưới sự nhiệm mầu, những thầy mo trong cộng đồng đã làm lễ tế linh đình khẩn xin thần linh trở lại. Và, để mong ước đó thành hiện thực thì mọi người trong tộc phải tìm hòn đá thiêng mới. Có được hòn đá độc đáo này, theo cụ Kim thì cha ông cụ đã phải lặn lội vượt cả trăm ngọn núi, nghìn con đèo, lên đầu nguồn con suối có nước trong lành nhất, lựa những nơi không có dấu chân người để tìm kiếm. Tìm được hòn đá như ý rồi thì lại làm lễ rước thần linh vào ngự hệt như người Kinh hô thần nhập tượng ở miền xuôi.
Đá thiêng giúp người Thủy vượt qua sóng gió, vận hạn. Và, dưới sự nhiệm mầu của đá, con trâu thả trên rừng béo tròn, cây lúa cắm dưới ruộng trĩu bông, con cá thả dưới ao mau lớn. Không chỉ đem lại ấm no, an lành mà theo quan niệm của người Thủy, đá thiêng còn giúp dân làng… chữa bệnh.
Ông Lý Văn Lâm, Trạm trưởng Trạm Y tế xã Hồng Quang cho biết, người Thủy quan niệm, trong nhà có người ốm đồng nghĩa với việc bị con ma trên rừng nhập vào quấy phá và việc duy nhất của họ là mời thầy mo mang theo hòn đá thiêng về cúng. Lễ vật của buổi lễ trừ tà tùy thuộc vào lời mách bảo của thần linh. Thần bảo bệnh nặng thì phải cúng bằng lợn, trâu bò, còn bệnh nhẹ thì cúng bằng gà, bằng chân giò lợn.
![]() |
Buổi lễ diễn ra trong không khí tuyệt đối tĩnh lặng, chỉ nghe tiếng lầm rầm khấn vái của thầy mo. Hòn đá thiêng treo dưới sợi dây bất chợt đung đưa và họ tin rằng như vậy thần linh đã về để "xử lý" con ma đang hành hạ người bệnh.
Khi rời về Tuyên Quang, người Thủy sống lang bạt trên các đỉnh núi cao. Nơi đầu tiên họ đến là xã Lăng Can, trước đây thuộc huyện Nà Hang, giờ thuộc huyện mới Lâm Bình. Ở đó canh tác gặp nhiều khó khăn bởi núi đá cheo leo, quen bước phiêu du, người Thủy lại di về xã Hồng Quang. Về đất này, trước đây, người Thủy vẫn chọn đỉnh núi làm nơi trú ẩn. Bởi sống biệt lập nên tình trạng hôn nhân cận huyết vẫn diễn ra.
Trước nguy cơ diệt vong của tộc người này, đầu những năm 70 của thế kỷ trước, chính quyền địa phương đã vận động người Thủy xuống vùng thấp định cư, sống xen cùng người Tày, người Pà Thẻn. Thầy mo Bàn Văn Kim bảo, người Thủy quen cuộc sống hoang dã, gắn bó với rừng với núi nên việc chuyển xuống vùng thấp có nhiều dân tộc khác sinh sống là một quyết định vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, trước nguy cơ diệt vong, lại thêm sự đồng thuận của thần linh nên mọi người quyết định bìu ríu nhau xuống núi. Theo cụ Kim thì đó là quyết định sáng suốt. Xuống núi, cộng đồng người Thủy đã thực sự hồi sinh.
Đi tìm ánh sáng
Xuống núi, người Thủy học cách trồng cây lúa nước, học nuôi gia súc trong chuồng. Điều đặc biệt, bởi sống xen cư với các dân tộc khác nên vấn nạn hôn nhân cận huyết đã được bài trừ. Khi con đường nối liền bản Thượng Minh với trung tâm xã được mở rộng, theo chân con em các dân tộc khác, trẻ con người Thủy cũng được ra xã học cái chữ. Theo ông Mai Đình Nhiêu, Bí thư Đảng ủy xã Hồng Quang thì người Thủy sáng dạ và chăm chỉ học hành như chăm chỉ lên nương, xuống ruộng.
Ở bản Thượng Minh, ông Lý Văn Ngọc (SN 1970) là người rất nổi tiếng. Chẳng phải nhà ông có hàng chục con trâu bò hay có tòa ngang dãy dọc gì mà chỉ bởi ông là đảng viên duy nhất của tộc người Thủy và có 4 người con đều dám "vượt qua" lời nguyền của núi rừng, tìm đến ánh sáng văn minh. Trầm ngâm bên bếp lửa, ông Ngọc chỉ về dãy núi cao như bức tường thành bao bọc bản làng: "Tổ tiên của tôi tin rằng thần linh ngự trị trên các đỉnh núi đó, chỉ có sống tại bản làng thì mới được các vị thần che chở nên ít khi người dám vượt núi tính kế mưu sinh". Người con gái đầu tiên vượt núi đi tìm cái chữ ở nơi xa là Lý Thị Toàn, con gái cả của ông Ngọc.
Toàn sinh năm 1988, là hoa khôi của bản Thượng Minh. Mắt Toàn trong veo như nước suối, sắc như bóng nắng trưa hè. Người Thủy trước đây lấy vợ, gả chồng từ thuở 12, 13 tuổi. Bởi là bông hoa ngất ngây hương sắc, Toàn là trung tâm chú ý của mọi người. Thế nhưng, nghĩ đời mình không thể quanh quẩn nơi bản làng quạnh quẽ, Toàn đã không nghe tiếng đàn tính tha thiết của chàng trai người Tày, mắt không nhìn dáng hình dũng mãnh của chàng trai Pà Thẻn trong đêm nhảy lửa. Cô muốn dành tất cả cho việc học bởi cô biết chỉ có con đường đó mới khiến cô tìm được hạnh phúc cho mình.
Ngày đầu tiên Toàn rời bản về tỉnh học Trường Trung cấp Y, ông Ngọc lo lắng lắm. Ông nhờ cả thầy mo Kim dùng hòn đá thiêng kêu gọi thần linh phù hộ mang lại may mắn cho con gái mình. Chẳng biết do hòn đá thiêng của thầy mo Kim linh ứng hay nhờ công chịu khó học tập mà 2 năm sau Lý Thị Toàn hồ hởi mang tấm bằng tốt nghiệp đỏ chói về nhà. Sau 1 năm công tác tốt tại xã Hồng Quang, tới năm 2009, Toàn được người dân tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội LHPN xã.
Theo bước chân của chị, Lý Thị Hạnh, cô con gái thứ 2 của ông Ngọc đã dùi mài kinh sử và thi đỗ vào Học viện Hành chính Quốc gia, theo học mãi tận Hà Nội. 2 cậu em trai cũng đang gắng sức theo nghiệp bút nghiên tại trường cấp 3 huyện. Tấm gương của chị em Toàn khiến nhiều gia đình bộ tộc Thủy ở thung lũng Thượng Minh bây giờ đã cho con em vượt qua các dãy núi thần linh để tìm kiếm tương lai cho bộ tộc mình
Từ khóa » Dân Tộc Thủy ở Tuyên Quang
-
Đừng để Mất Nét Văn Hóa độc đáo Người Thủy
-
Bài 2: Dân Tộc Thủy - Nhiều Bí ẩn Cần Giải Mã
-
Cuộc Sống Mới Của đồng Bào Dân Tộc Thủy ở Thượng Minh
-
Người Thủy – Wikipedia Tiếng Việt
-
Người Tày - Trang Thông Tin điện Tử Ban Dân Tộc Tỉnh Tuyên Quang
-
Người Dao - Trang Thông Tin điện Tử Ban Dân Tộc Tỉnh Tuyên Quang
-
Dân Tộc Thủy ở Tuyên Quang - BÁO SÀI GÒN GIẢI PHÓNG
-
Cần Có Chính Sách Phát Triển Dân Tộc Thủy ở Tuyên Quang
-
Dân Tộc 100 Người Trước Nguy Cơ Bị 'xóa Sổ': Bức Tâm Thư Gửi Thủ ...
-
Văn Hóa Truyền Thống Người Thủy ở Tuyên Quang
-
Bảo Tồn Và Phát Triển Văn Hóa Các Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Tuyên Quang
-
ĐẤT VÀ NGƯỜI TUYÊN QUANG
-
Chuyện Về Dân Tộc Thủy ở Tuyên Quang - Kinh Tế Nông Thôn

