Bích Huyền-LỐI CŨ CHẲNG SAO QUÊN
Có thể bạn quan tâm
Một thoáng hương xưa, Hà Nội đó
Sài gòn, tháng Giêng 1990
Anh chị thân yêu,
Thế là em và cháu Diễm Uyển đã được phỏng vấn. Thế là đại gia đình chúng ta lại sắp được gặp nhau.
Sáu năm rồi anh chị, các cháu xa Sài gòn. Xa Việt Nam. Em không viết hai chữ “xa nhà” như cách đây hơn một phần tư thế kỷ em đã từng viết khi anh chị du học tại Mỹ. Bởi ngày ấy còn có ngày về. Ở đây em muốn nhấn mạnh “chuyến ra đi lịch sử” của anh chị vào một ngày tháng Năm năm 1983 . Khi chuyến phi cơ của hãng Air France đã cất cánh cao ra khỏi không phận Việt Nam và trên vòm trời tự do nào đó, khi ấy anh chị mới có những giây phút nhớ về quê hương. Ở cái nơi khốn khổ vừa rời bỏ còn có bao nhiêu ngưòi ruột thịt, bạn bè thân yêu, bà con hàng xóm… Ngôi nhà yêu dấu, góc phố thân quen, con sông thân thuộc, cánh đồng lúa lấp lánh cánh cò của một thời thơ ấu… Những hình ảnh trong quá khứ hẳn đã theo đuổi anh chị trong suốt cuộc hành trình?
Em nhớ phi trường Tân Sơn Nhất hôm đó, người ta đi tiễn rất đông. Nhưng gia đình anh chị thì rất ít người. Bởi anh chưa được trả quyền công dân, bởi anh còn đang sống trong tình trạng công an địa phương quản lý. Họ có thể bắt anh lại bất cứ lúc nào. Anh ngồi ở một góc khuất nơi bậc cầu thang. Xa xa là các bạn anh: Thu, Cung, Lộc…không dám đứng gần. Chỉ có gia đình mình đứng vây quanh chị và ba cháu Hào, Ly, Ti. Người ta bịn rịn muốn níu kéo thời gian. Nhưng cùng lúc lại muốn nhanh chóng chia tay…
Sáu năm, thời gian đốì với người ra đi có thể là ngắn, nhưng với người ở lại thì đằng đẵng kéo dài. “Cali có gì lạ không” anh chị? Em chờ mong được đọc những tin tức bên ngoài, về anh chị em gia đình chúng ta, về bạn bè Trưng Vương cũ của em… Nói chung là cuộc sống của xã hội Hoa Kỳ để em chuẩn bị tinh thần bước tới và dễ dàng hòa nhập.
Tiễn anh chị đi, em mơ ước có một ngày mình cũng được bắt đầu từ phi trường quen thuộc này. Những năm sau, em cũng được “hân hạnh” đi, lại nhiều lần. “Hân hạnh” vì em không phải bị tra tấn cực khổ mấy ngày đêm trên tàu Thống Nhất, “hân hạnh” vì em đã tìm được chỗ “chạy” vé máy bay. Chung quanh em, toàn những cán bộ đi công tác (hay kiếm cớ đi chơi?). Chỉ có một vài người dân Sàigòn cũ. Gần đây nhất em ra Bắc xin giấy xuất cảnh.
Những chuyến bay này, đối với em cũng “lịch sử” vô cùng, phải không anh chị? “Lịch sử” hơn cả là em giám giao mạng sống của mình cho một hãng hàng không lạc hậu nhất trên thế giới! Gần đây, máy bay Việt Nam bị rớt luôn. Những chiếc máy bay cổ lỗ, đáng lẽ cho vào viện bảo tàng được rồi, mà cứ nay “đại tu” mai “tiểu tu” mãi. Chính những phi hành đoàn, những kỹ sư kiểm tra sửa chữa trong phi trường đã tiết lộ: Họ cũng rất lo sợ, nhưng đành phó thác cho số mệnh! (Bây giờ người Cộng sản cũng rất duy tâm.)
Em có trong tay giấy xuất cảnh là cả một bất ngờ. Nó đến với em sau gần mười năm chờ đợi, tưởng chừng như đã tuyệt vọng: mớ hồ sơ của mình, không biết giờ nó nằm ở xó nào? Hay đã trở thành “những giấy tờ được thanh lý” bán ký lô cho hàng ve chai?
Tinh cờ gặp Ngọc ri tai: “Cứ việc ra Hà Nội mà xin xuất cảnh. Ngoài đó xét rất dễ dàng, nhanh chóng.”
Thế là chỉ với một xấp hồ sơ nhẹ tênh em bay ra Hà Nội.
Từ trên cao nhìn xuống, sông Hồng như một giải khăn màu đỏ uốn éo mềm mại vắt trên vai Hà Nội. Cây cối xanh thẫm, hồ nước xanh lơ. Hà Nội êm ả, dịu dàng. Cảm giác êm ả, dịu dàng ấy mất đi ngay khi em đặt chân xuống sân ga quốc tế Nội Bài. Họ gọi là “sân bay quốc tế” để phân biệt với phi trường Gia Lâm nhỏ bé ngày nay dành cho máy bay quân sự.
“Quốc tế” gì mà chỉ lèo tèo vài ba chiếc máy bay cũ của Liên xô. Nhà cửa xây cất sơ sài. Phòng chờ lộn xộn, ngổn ngang bàn ghế. Nhà vệ sinh…. Ôi! Bẩn vô cùng. Quầy bán đồ lưu niệm, những mặt hàng và cách trình bày không che giấu được sự nghèo nàn.
Xe của hãng hàng không nhồi nhét người như cá hộp. Bà già, trẻ con chậm chân lên sau ráng mà đứng. Đàn ông, con trai tỉnh bơ ngồi hút thuốc, ba hoa nói chuyện Sài gòn. Trên tay, trong lòng mỗi người lỉnh kỉnh những ống đèn nê-ông, quạt máy, đồng hồ treo tường quả lắc…
Đi gần một giờ, ô tô mới nặng nhọc về tới trụ sở hàng không bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Xe cũ. Đường xấu. Kẹt cầu.
Vừa đậu bến, xích lô, xe đạp giành dựt khách. Ngọt ngào đó nhưng nếu không thuê, chưa quay lưng đã bị nghe những lời riếc móc, chửi thề.
Mười năm trước ra đây, mười năm sau trở lại, cảnh vật vẫn không có gì thay đổi. Phố nhỏ. Xe đông. Sợ nhất là xe chạy vô trật tự, mạnh xe nào xe nấy chạy, không biết luật lệ là gì. Xe đụng nhau không ai thèm nhìn, người lỡ bước không ai thèm giúp. Đúng là “sống chết mặc bay!” Tội nghiệp cho Hồ Gươm thơ mộng năm này qua năm khác phải chứng kiến bao cảnh đau lòng.
Sáng hôm sau, em ôm tập hồ sơ đến Bộ Nội vụ, số 40A Hàng Bài. Đi qua đi lại trước số nhà 40A mà cứ tưởng mình lầm. Chẳng có ai canh gác. cổng vào mái cong cong. Dù rêu phong phủ đầy nhưng vẫn còn mờ nhạt màu xanh, màu đỏ. Chiếc sân nhỏ lát gạch vuông đã mòn. Có lẽ xưa kia đây là một ngôi chùa? Em rụt rè đi vào dãy nhà thấp bé bên tay mặt. Một người đàn ông đứng tuổi thò đầu ra cửa sổ hỏi: “Đến có việc gì?” Em trả lời: “Tôi ở miền Nam ra, xin giấy xuất cảnh.”
Cũng chẳng buồn nhìn, người đó chỉ tay: “Ngồi đợi ở phòng cuối cùng kia kìa.”
Đã có vài người đến trước. Bẩy giờ rưỡi làm việc mà mãi 8 giờ cô công an đeo kính trắng mới đủng đỉnh bước vào. Mở ngăn kéo này, mở cánh cửa tủ kia, cô vẫn chưa bày xong chiếc bàn làm việc. Chiếc ga- mên cơm cô hết xếp ở ngăn tủ dưới lại lôi ra đặt ở ngăn tủ trên…
Một lúc, cô nhìn đám “khách” nhoẻn miệng cười. Gần mười lăm năm sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, lần đầu tiên em nhận được một nụ cười từ một nhân viên ngành công an! Cô ta hỏi thăm nơi ăn, chốn ở và giới thiệu…nhà khách Bộ Nội Vụ. Giá rẻ hơn khách sạn bên ngoài. Cô lúi húi ghi chép mãi mới xong vài tờ chứng minh nhân dân. Rồi cô vừa đan vừa tán chuyện gẫu.
Cà kê dê ngỗng một hồi lâu mới thấy bốn thanh niên còn rất trẻ, mặt mũi khá sáng sủa, điệu bộ quan trọng bước vào. Tất cả đều rất lịch sự, hỏi cung như nói chuyện. Xem xét và nhận hồ sơ. Ghi giấy hẹn và trở lại vào hôm sau.
Sáng hôm sau, em có một tờ giấy hứa cho xuất cảnh. Hộ chiếu sẽ được gửi vào Sài gòn sau.
Tiếng lành đồn xa, từ đó dân Sài gòn ùn ùn kéo nhau ra Hà nội. Vé tàu hỏa, máy bay tha hồ lên giá. Khách sạn dập dìu du khách. Vừa được thăm Hà nội, vừa được giấy “hộ mạng”.
Trước tình hình đó, Công an Sài gòn dễ dãi hơn. Một văn phòng “dịch vụ” lo xuất cảnh ra đời ngay cạnh trụ sở Nguyễn Trãi. Cũng lại từng đó bộ mặt Công an của “Sở quản lý người nước ngoài và xuất nhập cảnh Thành phố” ở đường Nguyễn Du, nhưng thái độ tiếp khách niềm nở hơn. Muốn được nói chuyện, phải mua một phiếu hẹn 500 đồng. Tới ngày giờ hẹn, thân chủ đến trình bày tình trạng hồ sơ của gia đình mình. Thỏa thuận giá cả trong đó gồm vé máy bay khứ hồi, tiền ăn ở khách sạn mười ngày, tiền xăng đi lại khi ở Hà nội…Tất cả còn đắt hơn là tự mình ra Hà nội.
Đa số những người miền Nam, những người già thường ký hợp đồng với “Dịch vụ”. Những gia đình di cư 1954, còn nhiều họ hàng thân thuộc muốn về thăm lại quê hương thì tự ra Bắc lo liệu lấy. Một “dịch vụ” xuất cảnh cũng xuất hiện ngay tại Hà Nội. Trước khi tới 40A Hàng Bài, phải qua “dịch vụ” này. Trong miền Nam, có thể liên lạc bằng giấy tờ và gửi chi phiếu bằng đường bưu điện. Tất nhiên giá cả rẻ hơn Sài gòn nhiều. Ai cũng biết rằng Hà nội – Sài gòn đang tranh giành mối lợi lớn về vấn đề xuất cảnh.
Em may mắn là một trong những người đi trước, chỉ tốn kém tiền vé máy bay. Còn hiện nay, từ lúc có giấy xuất cảnh cho đến lúc lên danh sách chuyển qua Thái Lan, chờ phỏng vấn, phải mất ít nhất là 1 triệu đồng (5 chỉ vàng). Hồ sơ mới nộp thì gấp mười lần tiền.
Em biết anh thích nghe chuyện Hà Nội, bởi khi sắp đi Pháp, anh đã ra quận xin phép về thăm quê hương. Lý do anh không có quyền công dân, không có tên trong hộ khẩu. Xã hội này có những thủ tục, luật lệ thật là kỳ quái. Công an thành phố cấp giấy xuất cảnh cho một người đi nước ngoài, công an phường, quận không cấp giấy phép cho chính người đó được về thăm quê hương. Cho nên lá thư này, em hy vọng sẽ nói lên được một vài nét nhỏ về Hà Nội, một thành phố mang tiếng là thủ đô, là “trái tim của cả nước”, mà vô cùng lạc hậu, nghèo nàn.
Anh cũng chẳng nên tiếc làm gì. Một Việt kiều về Việt Nam, được bạn bè khuyên nên đi thăm Hà Nội một chuyến, không sẽ ân hận một đời. Khi trở lại Sài Gòn, Việt kiều tuyên bố: “Không đi thăm Hà Nội, ân hận một đời. Thăm rồi thấy ân hận cả mười đời”.
Ngày còn bé, mỗi lần ra bờ hồ, ăn một đĩa thịt bò khô chua cay, ngòn ngọt, mút một cây kem mát lạnh tận đáy lòng, nghe tiếng chuông tàu điện leng keng giục giã…sao mà thích thế! Bây giờ những chiếc xe bán thịt bò khô không thấy đâu, người bán kem cũng không còn. Chỉ còn đó chiếc tàu điện già nua như một chiếc thùng hình khối chữ nhật xập xệ biết đi. Khung tàu bằng sắt đã hoen rỉ, bao năm rồi nó không được khoác một chiếc áo sơn mới. Cửa sổ chắp vá bằng những mảnh gỗ thâm đen, mục nát. Cái thùng cũ bẩn ấy nặng nhọc bò từ phố này sang phố khác. Có khi đứng ì ra vì nhà máy điện trục trặc kỹ thuật.
Hàng Ngang, Hàng Đào…những dãy phố tưng bừng hoa lệ ngày xưa chỉ còn thấy trong giấc mơ. Dù mấy năm nay nhà nước đã cho tự do buôn bán, nhưng hàng hóa rất lộn xộn, chắp vá từ những người đi nghiên cứu, du học, “xuất khẩu lao động” về, từ những “con buôn” vì những loại người này tác phong, lời nói kinh khủng lắm. Còn đâu những giai nhân của phố Hàng Đào bẽn lẽn, dịu dàng khi có khách đến mua hàng? Em không thể chịu được các bà, các cô Hà Nội bây giờ ra đường với bộ đồ hoa sặc sỡ quần nọ, áo kia. Chửi thề, nói tục không biết ngượng miệng. Không biết người xưa chửi mất gà ra sao, chứ các cô Hà Nội ngày nay chửi nhau rất thần sầu. Lớp lang, vần điệu (tục tĩu) nghe rợn người. Thanh niên thì lấc cấc, nham nhở, nháo nhâng. Những người của Hà Nội ngày xưa còn rất ít, họ sống khép kín trong nhà.
Về danh lam thắng cảnh Hà Nội, em chỉ thích nhất có Hồ Gươm. Mặc dù “liễu rủ lê thê” không còn buông xõa quanh hồ nhưng vẫn giữ được nét đẹp tươi mát, dịu dàng. Đền Ngọc Sơn cổ kính, với mái ngói rêu phong, nép mình trong đám cây xanh, cầu Thê Húc vẫn sơn mầu đỏ. Trong đền thờ một xác rùa rất lớn nằm trong tủ kính. Hương khói tàn lạnh tự bao giờ? Dưới hồ, lâu lâu vài con rùa to nhỏ nổi lên. Người ta bu lại xem rất đông. Họ kháo nhau: Có con mang trên mai chữ “Mã”. Đây là một cách chơi chữ để chọc quê “đảng ta”. Rùa chữ Hán là Quy. Có chữ Mã trên lưng là “Quy Mã”, sắp tới đây người Việt Nam được tự do qua Mỹ. Hoặc đọc là “Mã quy” thì có nghĩa là Mỹ sẽ qua, Mỹ sẽ trở lại Việt Nam!
Chùa Một Cột nhỏ xíu, khiêm nhường ở trong khuôn viên lăng Hồ Chí Minh đồ sộ. Chùa đã bị phá hoại nhiều lần vì chiến tranh, được xây cất lại như một thứ đồ chơi đặt trên một vũng nước cạn, không thể gọi là hồ. Có thể dưới con mắt của em ngày còn nhỏ, nhìn sự vật nào cũng thấy to lớn. Bây giờ tuổi đời chồng chất, trở lại chốn xưa thấy cảnh nào cũng nhỏ bé, bình thường.
Gò Đống Đa, như một mô đất hơi cao. cỏ cây xơ xác, thiếu bàn tay chăm sóc giữ gìn. Các chùa chiền còn hoang tàn hơn. Cổng chùa đóng im ỉm, cánh cửa tróc sơn, gỗ bong lồi lõm. Trong chùa, cỏ dại thi nhau mọc. Mấy năm gần đây, chỉ những ngày rằm và mùng một âm lịch cổng chùa mới mở cho Phật tử vào cúng lễ, tụng kinh. Chùa nào cũng mang dấu vẻ hoang phế, lạnh lẽo. Nhà thờ lớn cũng lạnh lùng khép kín. Tưng bừng chăng chỉ có ngày lễ Giáng Sinh…
Biết đến bao giờ mới khôi phục lại một Hà Nội ngày xưa? Chắc em đã làm anh chị buồn lòng, thất vọng? Thôi hãy quên đi những hoang tàn, đổ nát của Hà Nội. Em sẽ cho anh chị nếm những quả vải Hưng Yên thơm phức, vải bán từng túm mười quả cho dân miền Bắc. Người miền Nam quen mua cả kí lô. Hết mùa vải là đến mùa nhãn. Nhãn bó thành từng bó một trăm trái, không thơm như nhãn miền Nam nhưng cùi dầy, trắng nõn bọc ngoài chiếc hột bé tí ti. Ăn mới giòn ngọt làm sao!
Lần này, vì có giấy xuất cảnh, em đã ở Hà Nội thật lâu. Đã cuối mùa hè, không khí oi bức dịu dần… Chợt một buổi sáng tỉnh dậy, em cảm thấy lành lạnh. Đứng trên ngôi nhà cao tầng của khu tập thể, nhìn xa xa sương khói mờ ảo. Và rồi nắng lên, bầu trời xanh biêng biếc. Một không gian màu xanh bao la vô tận. Nắng vàng như mật ong, mềm mại như một tấm lụa mỏng phủ trên cành cây, ngọn cỏ. “Ôi! Mùa thu đến, mùa thu đến!” Mùa thu của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, Từ Linh. Nhưng (lại “nhưng” nữa!) không thấy bóng dáng một tà áo xanh “mà anh trót yêu” trên phố phường Hà Nội. Màu trời xanh, màu nắng vàng, những màu sắc này em đã thấy ở đâu? Em nhớ rồi, Đà Lạt. Saigòn thì không có mùa thu.
Mùa thu phải nói tới cốm, hồng. Trong khu bán hoa quả, màu đỏ của trái hồng nổi bật giống như một cô gái mặc áo màu rực rỡ đứng giữa đám người nghèo khổ. Vỏ hồng bóng, cứng đủ để giữ chất bột mềm, ngọt bên trong. Hồng ngâm là một loại hồng vỏ màu xanh ngả màu úa vàng, ăn giòn và ngọt thanh. Với kỹ thuật ngâm hồng vào nước tro, người ra ngăn không cho hồng chín đỏ.
Em tìm mãi mới ra được một bà hàng cốm bán rong. Gánh cốm nhẹ tênh trên vai bà cụ. Dân Hà Nội làm gì có tiền mà ăn cốm. Loại quà rất xa xỉ chỉ dành cho cán bộ cao cấp. Khi thấy em hỏi bao nhiêu một kí, bà cụ tưởng mình nghe lầm. Màu xanh nhạt của cốm hòa hợp với màu xanh đậm của những tấm lá sen lót trên mẹt tre tạo thành một màu xanh mát mắt, mát lòng. Cốm đầu nia đắt nhất. Những hạt cốm nhỏ, săn mà dẻo, màu xanh tươi hơn, đẹp hơn, giống như màu xanh của cánh đồng lá mạ. Hái lúa nếp còn non mới về, rang vừa chín rồi giã trong cối đá. Sàng, sẩy bằng nia. Những hạt cốm nhỏ nhất sẽ dồn về phía đầu chiếc nia tre là những hạt cốm ngon nhất.
Em vừa nhón tay bốc vài hạt cốm nếm thử, vừa nghe bà cụ nói về làng Vòng, một làng chuyên làm cốm nổi tiếng ở vùng ngoại ô Hà Nội. cốm bán được gói trong lá sen. Mùi thơm của cốm và mùi thơm của lá sen quyện vào nhau. Vị ngọt tự nhiên, hương thơm nhẹ nhàng. Tuyệt vời!
Em tiếc không có dịp về làng Ngọc Hà, quê hương của anh, một làng trồng hoa nổi tiếng sát cạnh Hà Nội. Đối với chế độ xã hội chủ nghĩa, hoa là một thứ xa xỉ phẩm. Nhưng trên hè phố Hà Nội, thỉnh thoảng em vẫn bắt gặp một gánh hàng hoa, Ngày rằm hay mồng một âm lịch, những gia đình còn giữ nền nếp của đạo Phật, vẫn thường có một đĩa hoa xinh xinh bầy trên bàn thờ. Mộc lan cánh màu xanh ngả vàng nhàn nhạt, ngọc lan thon dài trắng muốt, hoa hồng cánh nhỏ nhụy vàng…Tất cả đều ngan ngát hương thơm.
Em muốn chấm dứt lá thư này với một thoáng hương xưa còn sót lại của Hà Nội ngàn năm văn vật. Để chúng ta còn có một chút gì để nhớ, để hy vọng và để đợi chờ…
—> xem tiếp
Share this:
- Tweet
Từ khóa » Mot Thoang Huong Xua Bich Huyen
-
Bích Huyền Và Một Thoáng Hương Xưa - Hội Quán Đất Lạ Trời Quê
-
Bich Huyen Mua Xuan Va Tho Bui Giang 2 ( Mot Thoang Huong Xua)
-
Một Thoáng Hương Xưa _ Bích Huyền - Music
-
Chương Trình Thơ Nhạc : Bích Huyền-Một Thoáng Hương Xưa
-
Bich Huye^`n - Saigon Online
-
MộtThoáng Hương Xưa
-
Nhạc Sĩ Lê Thương Và Hòn Vọng Phu
-
Một Thoáng Hương Xưa, Đà Lạt... (Bích Huyền) - Bức Tranh Vân Cẩu
-
Bich Huyen - Ngan Nam May Bay
-
BÍCH HUYỀN… THOÁNG HƯƠNG XƯA
-
MV THOÁNG HƯƠNG XƯA - Linh Tuyết Official - YouTube
-
Chương Trình Thơ Nhạc - Bích Huyền Thực Hiện Trên đài VOA
-
Một Thoáng Hương Tình - Ngọc Bích - NhacCuaTui
-
Một Thoáng “Hương Xưa” - Âm Nhạc Online