Biển Của Xuân Diệu | Tuệ Lãng

Ngay từ khi mới bập bè viết những vần thơ đầu tiên của đời mình, Xuân Diệu đã dành để nói về tình yêu. Đó là một bài thơ tình đầy rạo rực viết năm 1933 khi ông mới 17 tuổi, có tên là Bài thơ tuổi nhỏ.

                                    Làm  sao sống được mà không yêu                                     Không nhớ không thương một kẻ nào?                                     Hãy đốt lòng ta muốn thứ lửa !                                     Cho bừng tia mắt đọ tia sao

Và từ đấy, ngọn lửa tình yêu ấy cháy mãi trong  thơ ông cho đến khi đời đã sang thu. Và vì kiếp nghiệp sinh ra Xuân Diệu là để hát lên lời tình yêu nên ông viết :

                                    Làm sao cho được mà già                                     Nỗi yêu muôn thuở ai mà biết cho

“Nỗi yêu muôn thuở“ khiến đề tài tình yêu trở thành định mệnh trong thơ Xuân Diệu.

Những năm 60 của thế kỷ này, 1962  giữa lúc bao nhiêu lo toan, e ngại  của một đất nước cần hy sinh tất cả riêng tư để vì cộng đồng, vì lịch sử, ông lại viết  bài thơ Biển nổi tiếng, để lại tiếp tục một mạch thơ đường như đã bỏ quên ở ông. Tất nhiên tình yêu ấy không còn nhiều sự mộng tưởng, cô đơn đầy khao khát như một nhà thơ lãng mạn mà là một tình yêu giao hòa giữa con người với biển lớn cuộc đời .

Trong các thực thể tự nhiên, có lẽ duy nhất chỉ có biển mới đầy đủ những phẩm chất để biểu minh cho một thực thể phức tạp, kỳ diệu và trừu tượng như tình yêu. Nhưng không phải chỉ danh xưng võ đoán của ngôn ngữ ấy là đủ để nó hiển thị được cảm xúc và hiện thực ấy, nhà thơ, bằng sự mẫn cảm và tài năng phải tái hiện lại thế giới sống động ấy, nhưng không phải bằng chất liệu hiện thực như nhà  đạo diễn điện ảnh mà bằng chất liệu ngôn ngữ. Và nhờ nó, kiến trúc mỹ học trong thơ, hình ảnh “biển” có một sự tương xứng để  làm nên một hình tượng ẩn dụ tuyệt vời về tình yêu đôi lứa. Trước cách mạng, hình ảnh biểnvẫn trở đi trở lại trong thơ Xuân Diệu.

– Lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn

– Bốn bề ánh bạc biểnpha lê Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề

Biển ở đây được sử dụng như một không gian nghệ thuật giúp nhà thơ diễn tả cái bé nhỏ, cô đơn của con người cá nhân đang rơn ngợp giữa một vũ trụ rộng. Biển ở đây lạnh và rộng, sắc màu đổi khác theo hồn người nên mất sắc xanh và niềm vui. Sau này Xuân Quỳnh đã dùng hai hình ảnh thuyền và biểnđể diễn tả tình yêu tha thiết của đôi lứa, một sự diễn tả tuyệt với, nhưng thuyền và biển có gần nhau nhưng hãy vẫn là những thực thể khác nhau.

Xuân Diệu trong bài thơ Biển thì khác. Mở đầu bài thơ, ông viết :

Anh không xứng là biển xanh                                     Nhưng anh muốn em là bờ cát trẳng

Câu thơ giản dị, bộc lộ trực tiếp  tình cảm chân thành, giàu hình ảnh và gợi nhiều liên tưởng. Không là thuyền và biểnmà là sóng và bờ. Cặp từ anh – em quen thuộc, tha thiết yêu thương đi liền trong biển và bờ. Nhưng nét độc đáo của bài thơ là không phải sử dụng phép so sánh thông thường kiểu như: ”anh là biển xanh”, “em là bờ cát trắng“ mà là:

                                    Anh không xứng là biển xanh                                     Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng.

Câu thơ vì thế không nhằm miêu tả so sánh mà nó trực tiếp nói lên mong ước, khát vọng tình cảm chất chứa trong sâu thẳm tâm hồn…

Tiếp theo sau đó là những câu thơ năm chữ vừa tả cảnh, vừa gợi tình được diễn tả bằng một ngôn ngữ chắt lọc, ngân nga, sâu lắng.

                                    Bờ cát  dài phẳng lặng                                     Soi ánh nắng pha lê                                     Bờ đẹp đẽ cát vàng                                     Thoai thoải hàng thông đứng                                     Như lặng lẽ mơ màng                                     Suốt ngàn năm bên sóng.

Hình ảnh bờ cát vàng vốn vô tri trở thành  đối tương để tâm tình. Sau mong ước là một nỗi ngân nga về hình ảnh mong ước ấy trong lòng nhà thơ về em. Khổ thơ giúp ta hình dung, cảm nhận được vẻ  đẹp của bờ biển vào một ngày đẹp trời có nhiều ánh nắng với cát vàng, hàng thông, sắc trời, sắc nước, lòng người,… tất cả như hòa quyện thành một bức tranh thiên nhiên trong suốt, đẹp đẽ có linh hồn. Nó đầy đặn niềm yêu,  tràn bờ xúc cảm và vang âm sự trân trọng thiêng liêng.

Ba khổ thơ năm chữ nối tiếp là tình yêu biểu hiện thành khúc ca vần nối vần, hành động nối tiếp hành động, dồn dập, điệp trùng, vừa như lặp lại, vừa như thay đổi biến hóa, như sóng vỗ bờ, liên hồi tha thiết. Người đọc khó lòng dứt cắt hay dừng  bước lại được ở một câu nào. Đó là sự ngập tràn của thơ trong lòng, những câu thơ như đẩy người đọc đi tới cùng những bến bờ của nó.

                                    Anh xin làm sóng biếc                                     Hôn mãi  cát vàng em                                     Hôn thật khẽ, thật êm,                                     Hôn êm đềm mãi mãi                                     Đã hôn rồi, hôn lại                                     Cho đến mãi muôn đời                                     Đến tan cả đất trời                                     Anh mới thôi dào dạt                                     Cũng có khi ồ ạt                                     Như nghiến nát bờ em                                     Là lúc triều yêu mến                                     Ngập bến của ngày đêm

Cặp hình ảnh sóng biếc và bờ cát vàng ở đây không còn là hai thực thể mong ước mà chúng quyện vào nhau, giao hòa quấn quýt gắn bó không rời như những cái hôn không dứt, như tình yêu dạt dào, bất tận, khi lặng lẽ êm đềm, khi nồng nàn cháy bỏng… Lời thơ, ý thơ chân thực mạnh mẽ, không cần ước lệ, ngụy trang. Nó đem lại một thứ mỹ cảm trần thế, rất “cây đời“, rất xanh tươi, vẫn cái “vội vàng“ say đắm, rạo rực, vẫn sự nồng nàn, giao cảm, yêu thương như ngày nào.

Cuối cùng vượt qua cao trào, cảm xúc dường như lắng lại, thăng bằng hơn nhưng chẳng kém phần thiết tha, say đắm :

                        Anh không xứng là biển xanh                                     Nhưng cũng xin làm bể biếc                                     Để hát mãi bên gành                                     Một tình chung không hết                                     Để những khi bọt tung trắng  xóa                                     Và gió về bay tỏa nơi nơi                                     Như  hôn mãi  ngàn năm không thỏa                                     Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi !

Câu thơ “Anh không xứng là biển xanh“ được lặp lại, nhưng ở một  tương quan mới hơn. “Nhưng cũng xin làm bể biếc”, câu thơ nghe ra có vẻ khiêm nhường song ngẫm kỹ lại hóa ra tự tin và kiêu hãnh !.

Nét đặc sắc trong kết cấu hình ảnh, nhìn trên tổng thể bài thơ là sự tập hợp những khái niệm về không gian rộng lớn, về các khái niệm thời gian vĩnh hằng: ngàn năm, mãi mãi, muôn đời,… Những khái niệm được lặp đi lặp lại nhưng không gây một ấn tượng nào về sự đơn điệu, nhàm chán  mà ngược lại đã tạo được một hiệu quả nghệ thuật mạnh mẽ, sâu đậm về mối giao hòa giữa biển và bờ. Từ đó bài thơ xây dựng được một hình tượng tình yêu đích thực, trần thế, mãnh liệt và vĩnh cửu. Từ đó, nhà thơ khẳng định tình yêu lứa đôi là nguồn sống, nguồn hạnh phúc, là khát vọng tồn tại mãi mãi như biển cả, trời cao. Và cũng từ đó, bài thơ thể hiện một cách cảm nhận tình yêu  khác so với giai đoạn trưóc cách mạng ở nhà thơ: nồng nàn, say đắm mà vẫn ấm áp, tin yêu, đầy giao cảm, không cô đơn, mộng tưởng và cá nhân .

Điểm đặc sắc làm nên thành công đặc biệt ở Biển còn là sự chuyển đổi nhịp thơ và cách gieo vần trong toàn bài thơ, sức mê hoặc của bài thơ chính là ở nhạc điệu của nó khiến nó là “biển” thực sự trong cảm nhận người đọc dù chỉ là những con sóng ngữ ngôn. Mạch chảy của dòng thơ không chịu bó mình đứng yên ở một khuôn dạng thơ nào, những câu thơ vừa nằm trong thế ổn định, lại vừa như muốn cựa quậy không yên. Hai câu thơ mở đầu tựa như hai câu thơ lục bát (xét từ số lượng âm tiết ) nhưng lại biến cách trong luật bằng  trắc và gieo vần. Còn sau đó ở bốn khổ tiếp theo lại năm chữ theo thể ngũ ngôn. Không còn chất hoài niệm thông thường của thể thơ, nhịp thơ chuyển đổi dập dềnh và phập phồng như biển, xô đẩy như những con sóng lớn nhỏ tiến vào bờ, nhịp thơ không lặp lại hai câu thơ liên tiếp nhau nào, khi thì 3/2  khi thì 2/3. Những cặp vần được gieo linh hoạt không đều đặn, ẩn hiện, lúc dồn dập, lúc rời xa, gối tiếp nhau, nhiều loại: vần chân, vần lưng, vần gián cách, vần ôm. Đặc biệt bài thơ sử dụng khá nhiều vần lưng khá quen thuộc của ca dao mà theo Xuân Diệu, ông cho ông đã học tập từ lối hát giặm Nghệ Tĩnh. Hệ thống vần xuất hiện dày, nối tiếp nhau suốt cả bài thơ tạo nên một ngân vang, một nhạc điệu biển, và sóng trong lòng người đọc: xanh (1), anh (2), phẳng lặng (3), nắng (4), cát vàng (5), hàng thông (6), mơ màng (7), ngàn năm (8). Sự kết hợp, bố trí kỳ diệu này đã làm  cho câu thơ, bài thơ có một tiết điệu đặc biệt, vừa lạ, vừa quen, vừa du dương, ngân nga mà chắc chắn, khỏe khắn. Những nhóm từ “anh không xứng”, “nhưng anh muốn”, “anh không xứng”, “nhưng cũng xin” lặp đi lặp lại ở các đoạn thơ như những điệp khúc tình cảm nghe sao tha thiết khẩn cầu, lời khẩn cầu của một trái tim khao khát chân thành. Vì thế đọc thơ là lúc ta sống trong cái rào rạt của sóng và cũng là sự dào dạt của lòng yêu hiển hiện không cùng.

Cuối đời khi sắp bước vào cõi vĩnh hằng, Xuân Diệu đã để lại lời nhắn gởi:

                        Hãy để cho tôi được vẫy chào                         Giả từ cõi thực để vào hư                         Trong hơi thở chót dâng trời đất                         Mà vẫn si tình đến ngất ngư.

Không tan biến đâu cả, những dòng thơ mang hồn Xuân Diệu như Biển sẽ vẫn mãi mãi còn lại ngân nga bên trong con người chúng ta và nói lên những  điều cần thiết nhất của đời sống.

LÊ QUANG ĐỨC

[email protected]

0.000000 0.000000

Chia sẻ:

  • Facebook
  • X
Thích Đang tải...

Có liên quan

Từ khóa » Thuyền Và Biển Xuân Diệu