Biên Dịch:Di Chúc Văn – Wikisource Tiếng Việt

Di chúc văn - 遺囑文 của Nguyễn Khuyến, do Wikisource dịch từ Văn ngôn Bài này Nguyễn Khuyến làm trước khi mất, ông Trần Tán Bình dịch ra chữ Nôm với nhan đề Di chúc.[1]. Theo tạp chí Hán Nôm số 2 -2009 thì bài này có tên là "Trị mệnh[2]". 6798Di chúc văn - 遺囑文Nguyễn Khuyến
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa Bản dịch của Wikisource

我年值八八 我數逢九九 嗟哉我德涼 壽紀邁先考 嗟哉我學淺 魁然占龍首 豈非先考齡 留以錫爾父 豈非先考名 不做以留後 平日無寸功 俯仰已慚負 足矣亦何求 死葬勿淹久 死幸得全歸 葬幸得親附 棺衾不可美 只以斂足手 具饌不可豊 只以答奔走 不可寫祝文 不可為對句 不可設銘旌 不可題神主 不可達門生 不可訃僚友 賓客不可招 賵吊不可受 此皆纍於生 死者亦奚有 惟以重吾過 囂然眾多口 惟於葬之日 旗扁導前柩 竽工八九人 吹送列左右 草草死葬完 酹我以杯酒 所得新敕憑 封還納使府 爰題某石碑 皇阮故休叟

Ngã niên trị bát bát[3] Ngã số phùng cửu cửu[4] Ta tai ngã đức lương Thọ kỷ mại tiên khảo Ta tai ngã học thiển Khôi nhiên chiêm long thủ[5] Khởi phi tiên khảo linh Lưu dĩ tích nhĩ phụ Khởi phi tiên khảo danh Bất tố dĩ lưu hậu Bình nhật vô thốn công Phủ ngưỡng dĩ tàm phụ Túc hĩ diệc hà cầu Tử táng vật yêm cửu Tử hạnh đắc toàn quy[6] Táng hạnh đắc thân phụ Quan khâm bất khả mỹ Chỉ dĩ liễm túc thủ Cụ soạn bất khả phong Chỉ dĩ đáp bôn tẩu Bất khả tả chúc văn Bất khả vi đối cú Bất khả thiết minh tinh Bất khả đề thần chủ[7] Bất khả đạt môn sinh Bất khả phó liêu hữu Tân khách bất khả chiêu Phúng điếu bất khả thụ Thử giai lụy ư sinh Tử giả diệc hề hữu[8] Duy dĩ trọng ngô quá Hiêu nhiên chúng đa khẩu Duy ư táng chi nhật Kỳ biển đạo tiền cữu Vu công bát cửu nhân Xuy tống liệt tả hữu Thảo thảo tử táng hoàn Lỗi ngã dĩ bôi tửu Sở đắc tân sắc bằng Phong hoàn nạp sứ phủ[9] Viên đề mỗ thạch bi Hoàng Nguyễn cố hưu tẩu

Tuổi thầy gặp quẻ bát thuần (vừa hết). Số thầy gặp quẻ dương cùng (đã hết). Thương thay đức thầy mỏng, Tuổi thọ lại hơn ông. Thương thay thầy học nông cạn, Bảng được ghi đầu rồng. Chẳng phải ông để tuổi Cho thầy được hưởng (hay sao)? Há chẳng phải cái danh của ông, Chẳng dùng mà để cho thầy (hay sao)? Ngày thường thầy không có công trạng gì, Ngửa lên, cúi xuống mà thẹn với trời đất. Lúc chết được trở về toàn thân. Được chôn trên đất gò quê hương. Thế là đủ còn cần gì nữa. Đồ khâm liệm không được dùng đồ tốt, Chỉ để kín chân tay Cỗ bàn không được sửa bày linh đình, Chỉ đủ để mời đáp lễ người giúp đám. Không được viết văn tế. Không được làm câu đối. Không được viết minh tinh. Không được đề thần chủ. Không được gọi môn sinh. Không được báo bạn quan của thầy. Không được mời quan khách. Không được thu đồ phúng điếu. Những thứ đó đều làm lụy người sống, Mà không có ích gì với người chết, Lại làm cho thầy thêm nặng lỗi Sau này lại làm nhiều người cười chê. Còn trong ngày đưa ma thầy, Cờ biển của vua ban dàn đi trước linh cữu. Thợ kèn tám chín người, Đi hai bên thổi tiễn đưa. Chôn thầy qua loa xong, Rưới cho thầy một chén rượu lên mộ. Những sắc bằng mới được cấp, Gói cả lại, đem nộp trả phủ sứ. Đề vào bia trên mộ: "Ông già về hưu triều Nguyễn".

Tuổi thầy quẻ bát thuần (đã hết) Số thầy cũng quẻ hết (dương cùng) Đức thầy cũng mỏng như không, Mà thầy được thọ hơn ông những là... Học vấn thầy chẳng qua nông cạn Đỗ được ghi lên bảng đầu rồng. Tuổi thầy là tuổi của ông, Để cho thầy hưởng, về cùng tổ tiên. Danh tiếng ông cũng liền để lại, Thầy làm nên cũng bởi ông cho. Báo đền thầy chửa thể lo, Trông lên, cúi xuống thẹn cho thân này. Trở về, chết được toàn thây, Lại còn được táng ở ngay quê nhà. Thế là đủ kêu ca gì nữa, Chết là chôn, chớ có để lâu. Đồ khâm liệm chớ kỳ cầu, Cốt là bọc kín gót đầu thì thôi. Cỗ bàn không vẽ vời bày sắm, Đủ mời người giúp đám thì thôi. Không viết văn tế con ơi. Không làm câu đối lôi thôi làm gì. Minh tinh cũng phải bỏ đi. Không đề thần chủ nọ kia thêm phiền. Môn sinh thầy không nên cho gọi. Bạn quan thầy báo với cũng không. Không mời quan khách tây đông, Những đồ lễ phúng trả không nhận vào. Những thứ ấy vướng bao người sống, Người chết rồi trông ngóng nỗi gì? Thầy thêm tội nặng, tội gi? Mai sau lắm kẻ cười chê luận bàn. Cờ biển của vua ban ngày trước, Lúc đưa thầy đem rước đầu tiên. Lại thuê tám chín thợ kèn, Thổi khúc đưa tiễn mỗi bên dăm người. Chôn thầy việc đã xong xuôi, Cho thầy một chén rượu thôi, rưới mồ. Sắc bằng Phủ sứ mới cho, Gói đem nộp trả, chẳng lo giữ gìn. Bia trên mộ chỉ ghi lên: "Ông già triều Nguyễn hưu" trên quê nhà.

   

Chú thích

  1. Thơ Nguyễn Khuyến, NXB Đồng Nai, 1994, trang 112
  2. Trị mệnh: Lời trăng trối khi còn tỉnh táo (Di chúc)
  3. Bát bát: Có ba cách giải thích, ở đây theo cách thứ ba: Bát bát là một quẻ trong kinh Dịch, là quẻ "bát thuần", một quẻ xấu không biến đổi được. Tức tuổi đời của tác giả đến đây là hết. Tạp chí "Sông Châu" (Hà Nam) đã dùng cách tính Dịch số đơn giản của dân gian tính rằng: cặp quái (quẻ) âm dương "bát bát" "cửu cửu" vế trên hai hào, vế dưới ba hào nên (8x8) = 64 và (9x9)+3=84. Cộng cả hai vế, chia đôi bằng 75. 75 chính là tuổi thọ thật của tác giả tính theo âm lịch.
  4. Cửu cửu: Quẻ dương cùng (quẻ hết). (Số dương, cửu là số cuối cùng).
  5. Long thủ: Đầu rồng, người thi đỗ tiến sĩ ngày xưa được ghi tên trên giấy vàng có vẽ đầu rồng dán trên bảng. Người đỗ đầu được ghi tên vào đầu rồng.
  6. Toàn quy: Người xưa đi xa quê, lúc chết ước sao được hai điều: một là được toàn vẹn thân xác, hai là được chôn trên đất quê hương để tránh mang tiếng là đã bị hình phạt vì tội lỗi hay vì bất hạnh nào đó.
  7. Đề thần chủ: mảnh giấy ghi tên tuổi, chức vụ, công trạng của người đã mất, bên cạnh ghi tên người thờ cúng. Mảnh ván được đặt lên bàn thờ để thờ. Phải mời người có học thức, có uy tín viết thân chủ.
  8. Ô hữu: không có gì, không được gì.
  9. Phủ sứ: Tức phủ Thống sứ của thực dân Pháp, bộ máy cai trị của chúng thiết lập sau khi chúng được triều đình nhà Nguyễn dâng đất Bắc Kỳ. Mọi việc thưởng, phạt đều do chúng quyết định, nhưng lại lấy danh nghĩa triều đình nhà Nguyễn. Nguyễn Khuyến quá hiểu âm mưu xảo quyệt này của chúng nên đã dặn con cháu sau khi mình chết sẽ đem trả những thứ chúng ban tặng để tỏ rõ thái độ bất hợp tác với chúng.
 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.  Bản gốc: 

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1931, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

  Public domainPublic domainfalsefalse  Bản dịch: 

Tác phẩm này được phát hành theo Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 3.0 Chưa chuyển đổi, cho phép sử dụng, phân phối, và tạo tác phẩm phái sinh một cách tự do, miễn là không được thay đổi giấy phép và ghi chú rõ ràng, cùng với việc ghi công tác giả gốc.

  Public domainPublic domainfalsefalse

Tác phẩm này được phát hành theo các điều khoản của Giấy phép Tài liệu Tự do GNU.

Điều khoản sử dụng của Wikimedia Foundation yêu cầu văn bản được cấp phép theo GFDL được nhập sau tháng 11 năm 2008 cũng phải cấp phép kép với một giấy phép tương thích khác. "Nội dung chỉ khả dụng trong GFDL không được phép" (§7.4). Điều này không áp dụng cho phương tiện phi văn bản.

Public domainPublic domainfalsefalse

Từ khóa » Chữ Dĩ Trong Hán Nôm