Biên Luận | ĐOÀN THUẬN | Trang 19
Có thể bạn quan tâm
về CHẾ LAN VIÊN 
CUỘC ĐỜI VĂN NGHIỆP
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.
Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của “Trường Thơ Loạn”. Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định.
Năm 1939, ông ra học tại Hà Nội. Sau đó Chế Lan Viên vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942, ông cho ra đời tập văn Vàng sao, tập thơ triết luận về đời với mầu sắc siêu hình, huyền bí.
Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh. Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn-đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương[1].
Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học. Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ). Từ năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư kí Hội nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V và VI, ủy viên Ban văn hóa – giáo dục của quốc hội.
Sau 1975, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, thọ 69 tuổi.
Ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996).
Con gái ông, bà Phan Thị Vàng Anh, cũng là một nhà văn nổi tiếng.
Quan điểm và phong cách sáng tác
Con đường thơ của Chế Lan Viên “trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ”[2], thậm chí có một thời gian dài im lặng (1945-1958).
Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa “trường thơ loạn”: “kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn [3] với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm”. Những tháp Chàm “điêu tàn” là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên. Qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ.
Sau Cách mạng tháng Tám, thơ ông đã “đến với cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng”[4], và có những thay đổi rõ rệt. Trong thời kì 1960-1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự. Sau năm 1975, “thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái “tôi” trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống”[5].
Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo. Thơ ông là sức mạnh trí tuệ được biểu hiện trong khuynh hướng suy tưởng – triết lí. “chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa”[6] Khai thác triệt để các tương quan đối lập. Và nổi bật nhất là năng lực sáng tạo hình ảnh phong phú , độc đáo nhiều ý nghĩa biểu tượng.
Các bút danh
Ngoài bút danh Chế Lan Viên ( được hiểu là tác giả tự nhận mình là bông hoa lan trong khu vườn nhà họ Chế- dòng họ vua chúa của dân tộc Chàm ở nước Chiêm Thành xưa) nổi tiếng, trong bài giới thiệu tập tiểu luận Những bước đường tư tưởng của tôi của Xuân Diệu, đăng trên báo Văn học tháng 9 năm 1958, ông ký bút danh Thạch Hãn (tên một con sông tỉnh Quảng Trị quê ông). Nhiều bài báo in trên báo Thống Nhất, xuất bản ở Hà Nội trước tháng 5 năm 1975, ông cũng ký bằng bút danh này.
Từ năm 1959 đến năm 1963, trong thời gian làm biên tập báo Văn học, phụ trách chuyên mục Nói chuyện văn thơ, trả lời bạn đọc, ông ký bút danh Chàng Văn. Năm 1961, Nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản hai tập Vào nghề và Nói chuyện văn thơ của tác giả Chàng Văn.
Trong mục Nụ cười xuân trên báo Văn học, Chế Lan Viên có hai bài viết ngắn là Ngô bói Kiều và Lý luận Đờ Gônký tên Oah (tức Hoan).
Tác phẩm chính
Thơ
- XuânChế Lan Viên
- Điêu tàn (1937)
- Gửi các anh (1954)
- Ánh sáng và phù sa (1960)
- Hoa ngày thường (1967)
- Chim báo bão (1967)
- Những bài thơ đánh giặc (1972)
- Đối thoại mới (1973)
- Ngày vĩ đại (1976)
- Hoa trước lăng Người (1976)
- Dải đất vùng trời (1976)
- Hái theo mùa (1977)
- Hoa trên đá (1984)
- Tuyển tập thơ Chế Lan Viên (tập I, 1985; tập II, 1990)
- Ta gửi cho mình (1986)
- Di cảo thơ I, II, III (1992, 1993, 1995)
- Tuyển tập thơ chọn lọc
Văn
- Vàng sao (1942)
- Thăm Trung Quốc (bút ký, 1963)
- Những ngày nổi giận (bút ký, 1966)
- Bác về quê ta (tạp văn, 1972)
- Giờ của đô thành (bút ký, 1977)
- Nàng tiên trên mặt đất (1985)Tiểu luận phê bình * Kinh nghiệm tổ chức sáng tác(1952)
- Nói chuyện thơ văn (1960)
- Vào nghề (1962)
- Phê bình văn học (1962)
- Suy nghĩ và bình luận (1971)
- Bay theo đường bay dân tộc đang bay (1976)
- Nghĩ cạnh dòng thơ (1981)
- Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981)
- Ngoại vi thơ (1987)
- Nàng và tôi (1992).
.
TIỂU LUẬN về CHẾ LAN VIÊN ____________________________
.
Chế Lan Viên , thi sĩ của vương quốc Chiêm Thành ______________________________________
HÀN MẶC TỬ
Trăng sáng như hào quang của ngọc lạ.
Tôi đã đốt đỉnh trầm đặt trên án…trong thanh khí của nguồn mơ hoa…, vì tối hôm nay tôi chuốt lại [a] ngòi bút, mượn hương thơm đưa đẩy lời văn…để giới thiệu một nhà thơ mới. Tôi đã lấy hết tinh lực của hồn, của máu, hấp lại thành một sức mạnh. Nhưng chưa đủ. Tôi đến phải thành tâm, lạy các vì tinh tú, cầu nguyện với những linh hồn thơ, từ muôn năm trước về giúp cho ngòi bút tôi thêm thành thực, lột được chút ít tinh thần văn thơ của ông Chế Lan Viên.
Đảo ngược lại thời gian trong giây phút, ta mơ thấy cả một dân tộc hào hùng! Chiêm Lạp (hay là Lâm Ấp) mà lâu đài tráng lệ đóng từ Quảng Bình, Quảng Ngãi vào tới Phan Rang, Bình Thuận, lấn hết cả giang san của nước Việt…Nhưng sau cuộc “Nam tiến” oanh liệt, còn đâu những thành quách kiêu căng của đám người Hời?
Một dân tộc có lịch sử, có văn minh như Chiêm Thành ngờ đâu lại chịu số kiếp điêu tàn, tiêu diệt! Còn chăng chỉ những ngọn tháp lở lói rải rác đôi nơi cùng với thời gian cố ngạo lại làn nắng úa, và trong đêm sương nặng nề, lắng nghe tiếng oán hờn không bờ bến của những cô hồn vong tộc.
Tôi được ông Chế Lan Viên cho xem tập thơ Điêu tàn của ông trước khi xuất bản. Điêu tàn đã hình dung cả một thời sáng sủa táo bạo, lẫy lừng, trong hơi nặc nồng của máu người tử sĩ, thơm tho bên mình nàng Chiêm nữ…và ủ ê như gió lạnh ngập không gian, và não nùng như tơ trăng ngã im lìm trên cỏ ướt.
Tôi phải kinh ngạc như mọi người khi nhìn thấy ông Chế Lan Viên, một thư sinh hiền lành như một nàng gái mới lớn lên…Làm sao trong tấm linh hồn chất phác ấy đã sớm nở ra những nguồn thơ mới lạ mằn mặn như nước suối Vichy song vẫn ngon môi và mát dạ. Đọc hết tập Điêu tàn, tôi chỉ nghe mãi những tiếng căm hờn đắm đuối như ánh sáng của vừng trăng tan ra thành khí lạnh; tôi chỉ thấy những vẻ hoang tàn rã rời một khi sao vỡ… Ông Chế Lan Viên, nếu không phải là trích tiên ở thượng giới bị đưa xuống trần gian thì hẳn là một người có “máu” Chàm, nghĩa là kiếp trước ông vốn nòi giống Chiêm Thành vậy. Không thế làm sao ông lại khóc được, − khóc một cách ngon lành…Tôi nhận thấy cái khóc của ông bằng nước mắt thì ít, mà khóc bằng phổi bằng tim bằng hồn bằng máu thì nhiều.
Trong khi ông mường tượng [b] đến cảnh khốc liệt của giải đất Chàm, tự nhiên bùng lửa đỏ, tiếng vàng ngọc tan chảy với tiếng đền đài đổ nát thì ông cảm thấy:
Máu đào tuôn tràn ngập [c] cả lòng ta Cả thân ta dầu tan trong hơi thở…
Nhìn thời gian tàn phá những cảnh tráng lệ nguy nga trước, “trên đường về” hôm nay ông chỉ còn gặp những dấu điêu tàn:
Đây, những tháp gầy mòn vì mong đợi, Những đền xưa đổ nát dưới thời gian, Những sông vắng lê mình trong đêm tối Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
và này:
Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn, Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.
Trên những mô đất nhuốm thắm ánh tà dương, biết đâu, đấy chẳng phải là cung điện phi tần, mà những hàng đế vương Hời đã mê mệt với hồng nhan: Đây trong ánh ngọc lưu ly mờ ảo,
Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà, [d] Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo Cùng nhịp nhàng uyển chuyển uốn mình hoa.
Thi sĩ nghiệm rằng những cảnh hoan lạc đê mê ấy là hình ảnh của thảm hoạ mất nước, nên chi càng nghĩ đến cuộc binh đao, thi sĩ càng hoảng hốt:
Mà vì đâu những đêm mờ vắng vẻ, Bên tai ta xào xạc tiếng chân người Mà rộn ràng loa vang và ngựa hí, Mà đao thương xoang xoảng dân Chiêm ơi!
Ông Chế Lan Viên đã làm sống lại cả một thời kinh hãi, nhuộm màu lưu huyết. Ta đọc đến phải hồi hộp, có lúc sửng sốt, rít lên như một bại quân tẩu thoát trong ngàn sâu…những cảnh xương máu hỗn độn nặng nề như bước chân con chiến tượng chuyển rừng, đã qua…Thi nhân bấy giờ chỉ ngồi than và mường tượng [b] nhớ tiếc ngày trôi, phác hoạ lại trong tâm hồn những mẩu đời rạng rỡ, phấp phới như lá cờ trương…
Cái cảnh hồn nhiên phớt màu an lạc thật là tài tình trong những nét đơn sơ:
Đây những cảnh thái bình trong Chiêm quốc, Những cô thôn hồng nhuộm nắng chiều tươi Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay về ấp Áo hồng nâu phủ phất xoã lời vui…
Trước vẻ hoang tàn, những đêm “không một mối trăng ngà rung muôn lá − mà bóng đêm đầy đặc khí u buồn”, chập chờn theo lửa đốm: Ta hãy nghe trong mồ sâu lạnh lẽo, Tiếng thịt người nẩy nở, tiếng xương rên. Ta hãy nghe mơ màng trong cỏ héo Tiếng cô hồn lặng thở khí giời đêm.
Nhưng với những hình ảnh mơ hồ, rờn rợn ấy, với tiếng kêu thiêng không chạm vỡ ấy cũng chưa linh động và mầu nhiệm bằng dáng của ma trơi trong lúc lặng:
Đôi cành khô tìm gì trong đêm vắng Vươn thân gầy ngăn đón gót ma Hời, Lắng nghe xem bóng người bay lẳng lặng Về tinh cầu giá lạnh chốn xa xôi…
Bãi tha ma hiu quạnh ấy từng phút lại ghê thêm như bóng tối lan tràn, vồ vập cả bao la…
Ông Chế Lan Viên thi sĩ của dân Chiêm đã sống với những giờ trầm mặc giữa đồng hoang đã thấy và đã nghe những hình những tiếng mơ hồ và huyền bí, và đã nhập hồn vào với gió với mây.
Những khi ông nằm dài trên cửa tháp há miệng chực đớp sao rơi, ông thấy hình như núi đá biến dần ra mây khói, trôi ngập cả dải Ngân Hà, ông lại than thở:
Ta vẫn biết nước kia trôi mãi mãi, Chẳng bao giờ còn giở lại nguồn xa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Mạch máu ta là những suối đau thương Mà quả đất là khối sầu vô hạn Mà mỗi người là một lời ta thán
Văn thơ của ông cũng ví như ánh sáng không nguồn, như dư âm của một cung đàn cuối mãi đến ngàn xa, và vì thế người ta càng nhận rõ một triết lý, một ý định, một thở dài, trong những bài não nuột. Cả thế giới, cả ánh sáng thơm tho, cả những lời thiết tha thương nhớ đều tan dần trong bóng tối…Đời chỉ là hư ảo, là một làn hương mơ…Cả tập Điêu tàn như một bài văn tế của Bossuet, như một lời than của Shakespeare, như một tiếng sao rụng im lìm không tiếng dội:
Vì có bao giờ tiếng lòng tôi vang động Tiếng lòng tôi vang động đến Hư Vô…
Sự khủng khiếp với sự chết đối với Chế Lan Viên không có gì là dấu diếm nữa. Đây, một sọ dừa rỏn gáy, để trước mặt ông, hãy nghe lời ông phán hỏi:
Này chiếc sọ dừa người kia mi hỡi Dưới làn xanh mỏng mảnh của đầu mi Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối Mi trông mong, ao ước những điều chi Mi nhớ đến những cảnh pháp trường ghê rởn Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn Hồn mi bay trong đám lửa ma trơi?
Nhưng cái sọ dừa vô tri ấy vẫn còn nhe hai hàm răng trắng tinh nguyền rủa lại lời của ông, khiến cho ông điên tiết lên:
Hỡi chiếc sọ! ta vô cùng rồ dại Muốn giết mi trong sức mạnh tay ta Để những giọt máu đào còn đọng lại Theo hồn ta tuôn chảy những lời thơ Ta muốn cắn mi ra từng mảnh vụn Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô Để nếm lại cả một thời xưa cũ Cả một giòng năm tháng đã trôi qua.
Nói tóm lại trong tập Điêu tàn, một lời thơ là một lời nức nở, như hạt sương nức nở dưới trời mai. Tôi đã hớp từng búng máu [e] mê man từng ngụm buồn lả lướt và đã nút [g] hết chất ngọt ngào trong lỗ miệng người Chiêm nữ. Tôi đã để lại những niềm kinh hãi, ở trên bãi tha ma, bịt hết tai mắt để đừng nghe thất tuỷ xương nghiến âm thầm trong những cỗ quan tài mục nát.
Tôi đã sống với phút giây choáng váng mà một người tráng sĩ Hời một khi lâm trận mà mí mắt vụt nhiên trào huyết.
Tôi đã lẳng lặng nhìn trăng mơ tưởng cái cảnh hồn nhiên của một xứ mà sắc đẹp hay phô phang dưới làn nắng mỏng.
Linh hồn tôi, tuỷ não tôi đã thấm thía, đã ăn sâu những mùi vị não nề.
Và tôi đã no nóc, đã hả hê, đã sung sướng khi nhận chân được cái tài hoa của ông Chế Lan Viên và thấy ở ông: một linh hồn thi sĩ. . HÀN MẶC TỬ [Nguồn: Tràng an báo, Huế, 6 Juillet 1937].
______________ Chú thích: (của Lại Nguyên Ân, người sưu tầm) [a] báo gốc là “chuốc lại”, ở đây sửa là “chuốt lại”. [b] báo gốc là “mườn tượng”, ở đây sửa là “mường tượng”. [c] báo gốc là “tràng ngập”, ở đây sửa là “tràn ngập”. [d] báo gốc là “vua quan say đắm thịt da ngà”, ở đây thêm “Chiêm” sau từ thứ ba, thành “vua quan Chiêm..” như trong bản “Điêu tàn” hiện hành. [e] báo gốc là “lớp từng bưng máu”, ở đây sửa là “hớp từng búng máu”. [g] báo gốc là “đủ nút”, ở đây sửa là “đã nút”.
.
Đọc “Điêu tàn” của Chế Lan Viên _____________________________________
TRẦN THANH ĐỊCH
Một hôm, Chế Lan Viên viết thư cho tôi bằng những hàng này:
Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết Những sắc màu hình ảnh của Trần Gian! Thịt bại rồi, nhãn quan đà lả mệt Thú điên cuồng ao ước vẫn khôn ngăn!
Đấy là một thi sĩ của sự Đau Thương.
Những xúc động của tâm hồn (manifestation de l’âme) ở Chế Lan Viên đã xúi giục thi sĩ viết nên những tiếng than rền rỉ, có thể vang động ngay đến lòng ta khi đọc nó. Tôi nhận thấy những tiếng rền rỉ ấy cũng đã có trong người Hàn Mặc Tử, ở một bức thư mà thi sĩ đã bàn với tôi về chuyện sắp cho xuất bản “Thơ điên”.
Nhưng hai nhà thi sĩ trẻ tuổi ấy − Hàn Mặc Tử mới được 25, Chế Lan Viên chỉ mới có 17 − khác nhau ở chỗ: Hàn Mặc Tử ca ngợi sự đau thương của riêng lòng mình, Chế Lan Viên ca ngợi sự đau thương của điêu tàn, của dân Chiêm quốc nghìn xưa.
Vừa mới một năm nay, trước Ban Thờ văn học Việt Nam chúng ta đã có thêm ba nhà thơ lẳng lặng dùng toàn những thành ngữ táo bạo: Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu và Chế Lan Viên.
“Táo bạo” đây không phải có nghĩa là vô nghĩa như thơ của Huy Thông hay khó chịu như những thi sĩ Parnassiens [a] đã làm ra lối thơ khó hiểu (vers sibyllins). Cái táo bạo trong lối dùng chữ của ba nhà thơ này vẫn làm cho người đọc hiểu ngay ý thơ của mình bằng sự thâm trầm và kín đáo, nó làm giàu cho nền văn học chúng ta rất nhiều. Và sau cùng, ba người ấy cũng đang đi đến bờ cõi Triết Lý. (Một điều không ngờ là chính ba nhà thơ ấy cũng đều sinh trưởng vào một chỗ đất Quy Nhơn, nơi đã tạo ra bao nhiêu văn sĩ, thi sĩ hiện đang lẫy lừng [b] trên võ đài Văn Chương).
Charles Plisnier, [c] nhà văn sĩ đã được phần thưởng Goncourt năm vừa rồi, có viết: “Với thơ, không ai cấm sự dùng chữ táo bạo. Và tôi có thể bảo thêm rằng nó lại rất cần nữa…”
Điêu tàn là một áng thơ tuyệt tác của tủ sách Việt Nam.
Tôi đã thành một người dân Chiêm quốc để khóc than, kêu gào, rền rĩ, khi thấy người ta kể lại một thời vẻ vang nghìn xưa oanh liệt: lúc đọc Điêu tàn.
Tôi cũng đã đọc nó với một sự Buồn não nuột, một sự Chán ê chề…
Nhưng những Buồn Phiền não nuột ấy, những Chán Nản ê chề ấy, tôi lại tìm thấy nó ở trong sự say sưa và mê mẩn. . TRẦN THANH DỊCH [Nguồn: Tràng an báo, Huế, số 299, 1er Mai 1938.]
______________________
GHI CHÚ (của Lại Nguyên Ân, người sưu tầm)
[a] “những thi sĩ Parnassiens”: ý nói các nhà thơ Pháp thuộc nhóm “Parnasse” (tên gọi này được xác lập sau việc xuất bản các tập sách mang nhan đề “Parnasse hiện thời” vào các năm 1866, 1871, 1876) gồm: Théodore de Banville (1823-91), Sully Prudhome (1839-1907), François Coppé (1842-1908), Léon Dierx (1838-1912), Jean Lahor (1840-1909), J.-M. de Heredia (1842-1905); nhóm này hướng theo các nguyên tắc thẩm mỹ (“nghệ thuật vị nghệ thuật”) của Théophile Gautier (1811-72); một thủ lĩnh khác của nhóm là Leconte de Lisle (1818-94).
[b] chỗ này báo gốc là “lay lừng”, ngờ là in sai, ở đây sửa là “lẫy lừng”.
[c] Charles Plisnier (1896-1952): nhà báo, nhà văn, nhà thơ Bỉ, đạt giải thưởng Goncourt năm 1937 với tác phẩm Faux passeports.
Chế Lan Viên, thi sĩ của trí tuệ _________________________________
Thu Hoa
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 14/1/1920. Xuất hiện trên thi đàn, làm kinh ngạc đông đảo người đọc ngay từ khi mới 16, 17 tuổi nhưng suốt trong những năm sống, làm việc và sáng tác hầu như không ngừng, không nghỉ của mình, ngay cả sau lúc đi xa vào ngày 24/6/1989, Chế Lan Viên vẫn tiếp tục làm ngỡ ngàng, kinh ngạc với bạn đọc hôm nay. Và chắc chắn cả mai sau về năng lực sáng tạo to lớn, đa dạng, phong phú và ẩn chứa nhiều điều chưa thể khám phá hết về cuộc đời và thơ văn của ông.
Chế Lan Viên có một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Với tác phẩm đầu tay là tập Điêu tàn, Chế Lan Viên nghiễm nhiên trở thành kiện tướng của phong trào thơ mới – cuộc cách mạng lớn trong thơ ca Việt Nam thế kỷ 20. Sau năm 1945, Chế Lan Viên viết Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường – Chim báo bão, Hoa trước Lăng Người, Hoa trên đá. Với những tập thơ này, Chế Lan Viên đã chuyển ngòi bút sầu đau, điên cuồng, hư vô, siêu hình trong Điêu tàn sang những vần thơ giàu tư tưởng, triết lý sâu sắc, mới mẻ, khoẻ mạnh.
Suốt cả cuộc đời, Chế Lan Viên đã viết đến hơn 10 tập thơ, làm nên một đời thơ vạm vỡ, bề thế. Đó là chưa kể hơn 600 bài thơ trong các tập Di cảo xuất bản sau khi Chế Lan Viên mất mà theo các nhà nghiên cứu văn học, chỉ riêng Di cảo cũng đủ làm nên một tầm vóc thơ ca lớn.
Điều đáng nói là để có thể sống và sáng tác văn học nghệ thuật thì hầu như ai cũng cần phải có được sự tổng hoà của 3 yếu tố: trí, tâm, tài đến mức cần thiết.
Nhưng với Chế Lan Viên thì các yếu tố này đều quá lớn, quá sắc sảo và nhạy cảm. Điều đó khiến cho thơ Chế Lan Viên phong phú về mặt nội dung. Biên độ cảm xúc của ông rất rộng, đề tài thơ ông viết là muôn mặt của cuộc đời. Có khi ông nghe thấy những biến động nhỏ bé của tâm hồn con người trong những tình cảm riêng tư nhưng ông cũng chia sẻ kịp thời những tình cảm rộng của toàn dân tộc. Chế Lan Viên cũng rất phong phú về giọng điệu. Nhà thơ Vũ Quần Phương, người đã dày công nghiên cứu các tác phẩm của Chế Lan Viên nói về điều này như sau: “Có lúc thơ ông thầm thì trò chuyện, nói tiếng thở dài trong một câu thơ ngắn, lúc ông sang sảng hùng biện, thơ âm vang như cáo, như hịch, lúc mát mẻ lạnh lùng trong kiểu thơ ngụ ngôn, lúc bừng bừng giận giữ trong hơi thơ đả kích, khi thâm trầm ung dung như người thoát tục nhìn hoa đại, hoa sen. Cái phong phú ấy trong thơ hiện đại chưa ai bằng Chế Lan Viên”.
Chế Lan Viên cũng là người phong phú trong hình thức biểu hiện. Ông là người tích cực bậc nhất trong việc tìm tòi đổi mới dáng vẻ câu thơ và bài thơ thế kỷ 20. Bạn đọc khó có thể tìm được câu thơ nào dễ dãi trong thi phẩm của Chế Lan Viên. Ông hàm xúc trong tứ tuyệt và ông còn mở rộng câu thơ để ôm lấy hiện thực. Ông sáng tạo nhiều cách ngắt nhịp, nhiều kiểu qua hàng, nhiều lối buông vần cho phù hợp với cảm xúc nội tâm.
Chế Lan Viên là một tài năng chín sớm. Ông kế thừa tinh hoa của thi ca phương Đông như thơ Đường, thơ Tống rồi thi ca phương Tây như thơ lãng mạn, thơ hiện thực. Ông có ý thức sâu sắc về vai trò nhà thơ trong đời sống hiện thực. Chế Lan Viên chính luận, Chế Lan Viên triết lý, Chế Lan Viên trữ tình nhưng tất cả đều thống nhất từ nguồn cảm xúc lớn nhất là cảm xúc trách nhiệm với cộng đồng, với dân tộc của ông.
THU HOA
.
Chế Lan Viên, Thi sĩ tài hoa và sâu nặng ân tình _____________________________________
THIÊN LINH
Mặc dù Chế Lan Viên đã giã biệt cõi đời hơn hai mươi năm nhưng đến nay thơ ông vẫn còn nóng hổi trong đời sống văn học Việt Nam.
Để tưởng nhớ đến thi sĩ được đánh giá là tài hoa và độc đáo bậc nhất của văn học Việt Nam thế kỷ XX, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức lễ kỷ niệm 90 ngày sinh của Người vào sáng 19/11 trong một bầu không khí ấm áp.
Thi sĩ tài hoa
Nhắc đến nhà thơ Chế Lan viên, nhà văn Lê Thành Nghị, Chủ tịch Hội đồng lý luận, Hội Nhà văn Việt Nam đã thốt lên rằng: “Từ thuở viết ‘Điêu tàn’ cho đến những tập cuối cùng của ‘Di cảo’, Chế Lan Viên đã làm cho người đọc đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác. Sức sáng tạo của Chế Lan Viên có thể nói là phi thường và dấu ấn thơ ông để lại trong đời sống tinh thần thời đại mà ông sống quả là hết sức sâu sắc.”
Có thể nói rằng, đến Chế Lan Viên, thơ Việt Nam đã phát lộ hết chiều kích, trở nên sang trọng với những vẻ đẹp hiện đại.
Bà Đặng Anh Đào (con gái của Giáo sư Đặng Thai Mai), người chuyên nghiên cứu về văn học phương Tây đã nhận xét về thơ Chế Lan Viên: Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng của văn học Pháp. Ông đọc tác phẩm trực tiếp bằng tiếng Pháp nhiều nên có sự tiếp nhận trong máu thịt chứ không phải là sự vận dụng. Trong thơ Chế Lan Viên có hướng về ngoại lai, mơ về những xứ Chàm, tiếng ma hời khóc than. Nhưng đó vẫn là một sắc màu của quê hương Chế lan Viên.
Sau này, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông có những bài thơ bốn chữ không thể quên được. Ví như, bài nói về tấm ảnh liệt sĩ trên bàn thờ của một bà mẹ Việt Nam có những câu rất tài tình: “Mười năm ảnh giỗ phai màu thuốc/ Đôi mắt còn thiêu sạch trại đồn.”
Đi vào những đề tài tưởng chừng rất “xương” như những vấn đề chính trị, xã hội nhưng Chế Lan Viên vẫn mang được cái duyên dáng cho thơ.
Còn, theo cách nói của Giáo sư Hà Minh Đức, với tập thơ “Hoa ngày thường,” “Chim báo bão,” tư duy thơ của Chế Lan Viên phát triển năng động và tài hoa qua nhiều lĩnh vực.
Nhà thơ không nhìn đời thuận chiều đến đơn điệu mà nhạy cảm phát hiện ra những mặt đối lập trong cuộc sống qua mỗi sự kiện chính trị, xã hội, hay trong chính tư tưởng nhận thức của con người…
Từ nhiều nguồn mạch đổ về, đặc biệt sự giàu có của suy tưởng, liên tưởng, tưởng tượng cùng với vốn hiểu biết nhiều trải nghiệm nên thơ Chế Lan Viên luôn tạo cho người đọc thỏa mãn với đầy đủ ý thơ và cảm xúc thơ.
Tư duy triết luận kết hợp với tư duy chính luận tạo nên sự sắc sảo, mạnh mẽ của ngòi bút Chế Lan Viên. Trong thơ ông có những tứ thơ sâu sắc kết đọng tình nghĩa với Đảng, với quê hương, mang cảm hứng hào hùng về Tổ quốc có không khí “Xuân bốn bề tình ái lại đưa thoi.”
Cũng bởi thơ Chế Lan Viên trí tuệ, súc tích về ý tưởng, tư duy cộng với nghệ thuật thi ca điêu luyện đã giúp thi sĩ làm được điều khó là đưa thơ ra nước ngoài thành công.
“Nóng nảy và ân tình”
Nhà văn Phan Quang là người đồng hương và thân thiết với Chế Lan Viên kể rằng, ông biết Chế Lan Viên từ lúc ông hai mươi tuổi. Chế Lan Viên là người trung trực, sự trung trực mang tính nghệ sĩ, đôi khi thẳng thắn thái quá. Ông là người “ra đường thấy cảnh bất bình chẳng tha” nên thấy gì không đúng là hay cãi khiến nhiều người yêu và cũng nhiều người không ưa ông.
Bên cạnh đó, Chế Lan Viên còn được những thân hữu nhận xét là rất ân tình. Ngay cả những buồn đau của ông cũng có tính nghệ sĩ nên ông dễ rơi nước mắt.
Đặc điểm tính cách của Chế Lan Viên có vẻ như mâu thuẫn, mãi về sau khi ông nằm xuống mọi người mới hiểu và đánh giá đúng về con người cũng như thơ của ông.
Nhà thơ Ngô Văn Phú, một người đàn em được Chế Lan Viên dìu dắt và đã có khoảng thời gian được làm việc cùng ông ở tuần báo Văn học (nay là báo Văn nghệ) xúc động ôn lại ôn lại những kỷ niệm xưa.
Nhà thơ Ngô Văn Phú kể rằng, ông gặp Chế Lan Viên trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Lúc đó vào khoảng năm 1967-1968, Chế Lan Viên ở 51 Trần Hưng Đạo, chỗ tuần báo Văn học. Ông Phú khi ấy vừa ra trường về làm ở tổ lý luận của báo. Chế Lan Viên lúc đó vừa rất “ghê gớm” lại vừa vui. Thấy Ngô Văn Phú, Chế Lan Viên liền giơ tay vái vái: “Xin chào sĩ phu Bắc Hà”.
“Mình vừa mới ở trường ra còn ‘non choẹt’ mà ông gọi là sĩ phu Bắc Hà thì không biết có phải ông đang giễu mình hay không,” nhà thơ Ngô Văn Phú nhớ lại.
Theo ông Phú, Chế Lan Viên là người kỹ tính và cẩn thận lắm. Kể cả người lớn hơn ông mà làm ẩu thì ông cũng mắng ngay. Nhưng ông chả có bụng dạ gì, mắng xong là thôi.
Kỷ niêm xúc động nhất với Chế Lan Viên khiến ông Phú không bao giờ quên được là thời điểm Chế Lan Viên mang bệnh trọng lúc cuối đời. Khi ấy, Chế Lan Viên chuyển về nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh, ông bị xuất huyết não đã mê man, không tỉnh được. Nhà thơ Ngô Văn Phú cùng một người của báo văn học đi vào thăm ông.
“Lúc tôi tới, thật bất ngờ Chế Lan Viên tỉnh và hỏi tôi: ‘Phú đấy à, vào lâu chưa?’ Lúc ấy chúng tôi mừng lắm. Bà Thường vợ ông bảo rằng, bình thường ông không tỉnh vậy mà Ngô Văn Phú vào ông lại tỉnh,” nhà thơ Ngô Văn Phú nói trong niềm xúc động…
Đến với Lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhà thơ Chế Lan Viên, còn nhiều nữa những con người đã từng có thời gian gắn bó với thi sĩ. Họ muốn kể nhiều hơn những kỷ niệm của họ với thi sĩ Chàm. Nhà văn Phan Quang đã mượn hai câu thơ của nhà thơ Pháp để bày tỏ nỗi lòng với Chế Lan Viên: “Tôi có quá nhiều kỷ niệm/ Như thế đã sống cả ngàn năm.”/.
Thiên Linh
.
.
Thơ văn xuôi của Chế Lan Viên ___________________________________
LÝ TOÀN THẮNG
“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao – từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.
| Đặc biệt là nghệ thuật thơ của bài “Cành phong lan bể”. Ta ngỡ ngàng khi đọc những câu thơ theo lối tự do này của ông: chúng đẹp cả về ngôn từ và tình ý, chúng khiến ta phải nghĩ khác đi về cái ta quen gọi là “Thơ Văn xuôi” – vốn thường hay bị coi như một thứ thơ “không vần” (và không hiếm khi được thực hiện bởi một bản lĩnh thơ xoàng nhưng lại nhân danh một tư duy nghệ thuật mới). |
Thơ, cho dù là dưới bất kỳ hình thức nào – thơ cách luật, thơ tự do, thơ không vần – nó vẫn khác văn xuôi ở chỗ: bao giờ nó cũng phải có “nhạc điệu/nhạc tính” là cái vốn có được trước hết do sự hòa hợp khéo léo về thanh âm, sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm thanh mạnh nhẹ hay cao thấp (mà ta quen gọi là “âm điệu”, “nhịp điệu”/ “tiết tấu”), gây khiến được ở nơi người đọc những ấn tượng, những cảm giác cần có.
Thơ không thể hay, nếu nhà thơ không giữ được cho câu thơ, đoạn thơ, bài thơ một nhịp thơ, bước thơ thích hợp. Hãy thử xem một đoạn thơ sau, trong bài “Cành phong lan bể”, rất nổi tiếng của Chế Lan Viên, thường được trích dẫn như tiêu biểu cho phong cách thơ văn xuôi của ông. Đoạn thơ này nguyên văn trong bản in năm 1960 như sau: Xanh biếc màu xanh, bể như hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm hồn nằm đọng lại Sóng như nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm trời Nếu núi là con trai thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương đã biến thành con gái Mỗi đêm hè da thịt sóng sinh sôi
Thoạt nhìn đoạn thơ trích dẫn trên, với những câu thơ dài suýt soát 20 chữ, rõ ràng không phải là lối thơ cách luật truyền thống. Nó khiến ta tưởng như Chế Lan Viên đang làm một thứ thơ rất tự do, rất mới, rất khác. Có vẻ như đây không phải là thơ đích thực, mà là một cái gì đó từa tựa như cái ông đã đặt tên cho nó: văn xuôi về một vùng thơ!
Cả đoạn thơ, bề ngoài, Chế Lan Viên chỉ xuống dòng và nối dòng thành có 04 câu thơ tự do khá dài: ngoại trừ câu cuối ngắn nhất là 08 chữ, ba câu còn lại có độ dài tăng tiến dần lên – câu thơ thứ nhất dài 18 chữ, câu thứ hai dài 19 chữ, và câu thơ thứ ba dài nhất 20 chữ. Dường như nó cũng y chang những bài thơ văn xuôi tầm tầm khác, với nhiều sự phá cách, xuống dòng khá tự do, nhiều khi không còn theo luật lệ ngữ pháp thông thường.
Nhưng xem ra thì không phải, và càng ngẫm kỹ thì càng thấy là không phải. Đằng sau cái vẻ ngoài phóng túng ấy, ẩn sâu trong nó, hóa ra vẫn là thơ đích thực. Chế Lan Viên đã rất khéo léo tài hoa, vượt qua cái căn bệnh trầm kha mà ta thường hay mắc phải ở những câu thơ văn xuôi kiểu đó – ấy là cái bệnh nhịp thơ nặng nề, các bước thơ không hòa hợp, nó giống như một trái tim bị bệnh, không thể xướng họa theo dòng cảm xúc lúc buồn lúc vui của thi nhân, khi bừng lên, khi chậm xuống.
Để dễ thấy sự tinh diệu này của Chế Lan Viên, bây giờ, dựa theo các mạch lạc ngữ nghĩa và liên kết ngữ pháp của đoạn thơ, ta hãy thử sắp xếp lại các câu thơ với những bước thơ như sau: Xanh biếc màu xanh// Biển như hàng nghìn mùa thu qua / Còn để tâm hồn nằm đọng lại //
Sóng như nghìn trưa xanh // trời đã tan xanh ra thành bể / và thôi không trở lại làm trời //
Nếu núi là con trai/ thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương / đã biến thành con gái //
Mỗi đêm hè / da thịt sóng sinh sôi //
Tách hợp đoạn thơ lại theo cách như ở trên, khôi phục lại cấu trúc, câu cú của nó, giống như khi ta vẫn làm khi thưởng thức một đoạn văn xuôi tài hoa vậy, ngay lập tức cái diện mạo thực của đoạn thơ hiển lộ ra trước mắt ta. Hóa ra rằng, kỳ thực, trong nội bộ mỗi dòng thơ, Chế Lan Viên đều có tính toán phân nhịp, chia cắt thành những bước thơ.
Đoạn thơ tuy có 04 câu nhưng có tới 11 bước thơ, mỗi bước đều được ông hạn định về số lượng tiếng (chữ), chủ đạo là nhịp 05 và 07 tiếng (như thể ngũ ngôn và thất ngôn điển hình một thời Thơ Mới). Thêm nữa, cả ba câu thứ nhất, thứ hai và thứ ba đều gồm 03 nhịp như nhau, chỉ riêng câu cuối là 02 nhịp. Cụ thể như sau:
+ Câu thứ nhất: 03 nhịp – bước 1: 04 tiếng: Xanh biếc màu xanh – bước 2: 07 tiếng: biển như hàng nghìn mùa thu qua – bước 3: 07 tiếng: còn để tâm hồn nằm đọng lại + Câu thứ hai: 03 nhịp – bước 4: 05 tiếng: Sóng như nghìn trưa xanh – bước 5: 07 tiếng: trời đã tan xanh ra thành bể – bước 6: 07 tiếng: và thôi không trở lại làm trời + Câu thứ ba: 03 nhịp – bước 7: 05 tiếng: Nếu núi là con trai – bước 8: 10 tiếng: thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương – bước 9: 05 tiếng: đã biến thành con gái + Câu thứ tư: 02 nhịp – bước 10: 03 tiếng: Mỗi đêm hè – bước 11: 05 tiếng: da thịt sóng sinh sôi
Tất cả những điều ấy làm cho đoạn thơ văn xuôi dường như quay trở về với lối thơ cách luật truyền thống, đọc lên đích thực có tiết tấu, nghe uyển chuyển và du dương. Nhưng tài hoa Chế Lan Viên trong đoạn thơ đang dẫn không chỉ hiện hữu ở cái nghệ thuật tạo ra tiết điệu của thơ, mà còn ở những dụng công khác, ở những thủ pháp khác của ông.
Bên cạnh nhịp điệu, trước hết, phải nói tới vần điệu, một yếu tố quan trọng khác, làm nên nhạc tính của thơ. Thơ văn xuôi thường được xếp cùng một ô, thậm chí đánh đồng với thơ không vần – trong nhiều nghiên cứu về thơ người ta vẫn hay viết vậy. Nhưng điều này không hẳn đúng với Chế Lan Viên, ông là một trường hợp ngoại lệ, bởi thơ văn xuôi của ông có vần, và có vần rất khéo léo, tài hoa. Hãy trở lại đoạn thơ đã trích của ông (mà ta đã sắp xếp lại ở trên):
Xanh biếc màu xanh bể như hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm hồn nằm đọng lại
Sóng như nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm trời
Nếu núi là con trai thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương đã biến thành con gái
Mỗi đêm hè da thịt sóng sinh sôi
Một cách hiển thị, ta có thể dễ dàng nhận ra 04 cặp vần của ông, lần lượt từ câu thơ đầu đến câu thơ cuối như sau: lại/ trời/ gái/ sôi. Nếu đi xuống một nấc cấu trúc nữa, đến các bước thơ, thì số các vần này sẽ tăng lên tới ở 07 vị trí: xanh/ lại/ xanh/ trời/ trai/ gái/ sôi.
Tất cả đoạn có 11 bước thơ mà có tới 07 bước có vần như thế, khi bắt vần xa khi bắt vần gần, được khéo léo ngụy trang trong những câu thơ văn xuôi dài 20 chữ, tưởng như thơ không vần, thực là tài hoa vậy thay!
Bảy bước vần ấy lại được âm vang thêm nhờ vào cách Chế Lan Viên sử dụng phép lặp từ trong nội bộ mỗi bước thơ và giữa các dòng thơ. Phép này làm cho nhịp thơ dễ được tạo ra hơn và làm cho nhạc tính của đoạn thơ được tăng thêm nhờ vào sự cộng hưởng âm thanh: cứ mỗi lần ta nghe một từ được lặp lại trong câu thơ thì cũng giống như mỗi lần ta hú trong rừng vắng và nghe tiếng vọng của ta hồi âm lại từ vách núi cao. Những âm thanh nối nhau, nương tựa vào nhau, hô ứng cho nhau, như những làn sóng gợn, đuổi nhau trên mặt hồ thu.
Hãy xem những dòng thơ có chứa các từ được Chế Lan Viên lặp lại (in đậm), chúng chỉ gồm 07 tiếng nhưng xuất hiện dày đặc trong mỗi dòng, tới 17 lần trong tổng số 57 tiếng (chữ) của cả đoạn. Cụ thể là: “xanh” – 04 lần, “bể” – 03 lần, “nghìn” – 02 lần, “trời” – 02 lần, “con” – 02 lần, “là” – 02 lần, “đã” – 02 lần:
Xanh biếc màu xanh bể như hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm hồn nằm đọng lại Sóng như nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm trời Nếu núi là con trai thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương đã biến thành con gái
Một yếu tố quan trọng khác, cùng với nhịp điệu và vần điệu, làm nên nhạc tính của thơ, đó là thanh điệu. Cần chú ý rằng: tất cả những khái niệm như “nhạc điệu”, “âm điệu” của một câu thơ, một đoạn thơ, hay cả bài thơ, đều là dựa trên ý niệm cơ bản về sự trầm bổng, cao thấp của các âm thanh, mà điều này thì gắn kết chặt chẽ với thanh điệu vốn là sự lên giọng hay xuống giọng trong lời.
Khác với tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Chăm v.v…, tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu; bởi vậy đi tìm nhạc tính của thơ tiếng Việt không thể không đặc biệt chú trọng tới 06 thanh điệu của nó, bao gồm: thanh Ngang (không được ghi dấu trên chữ viết), thanh Huyền, thanh Sắc, thanh Nặng, thanh Hỏi, thanh Ngã.
Một trong những quy luật hòa phối thanh điệu của thơ tiếng Việt là phải có sự đăng đối, đắp đổi về thanh: hoặc giữa các thanh Bằng (Ngang, Huyền) với các thanh Trắc (Sắc, Nặng, Hỏi, Ngã), hoặc giữa thanh Bằng Cao (thanh Ngang) với thanh Bằng Thấp (thanh Huyền), ở các tiếng (chữ) đứng cuối mỗi bước thơ.
Những câu thơ hay thường có sự “đổi thanh” như vậy. Hãy nhớ lại Xuân Diệu (chú ý những chỗ in đậm) thời Thơ Mới:
Mây biếc về đâu/ bay gấp gấp Con cò trên ruộng/ cánh phân vân và Hàn Mạc Tử: Khách xa/ gặp lúc mùa xuân chín Lòng trí bâng khuâng/ chợt nhớ làng và Huy Cận: Gió về/ lòng rộng không che Hơi may hiu hắt/ bốn bề tâm tư và bản thân Chế Lan Viên thời ấy: Ai đâu/ trở lại mùa thu trước Nhặt lấy cho tôi/ những lá vàng
Nhưng, hãy trở lại với đoạn thơ đang xét của Chế Lan Viên. Ta cũng thấy ở đây, trong mỗi câu thơ, cuối mỗi bước thơ, các tiếng (in đậm) thường có sự đổi thanh Bằng – Trắc, Cao – Thấp với nhau: Xanh biếc màu xanh// bể như hàng nghìn mùa thu qua / còn để tâm hồn nằm đọng lại Sóng như nghìn trưa xanh // trời đã tan xanh ra thành bể / và thôi không trở lại làm trời Nếu núi là con trai/ thi bể là phần yểu điệu nhất của quê hương/ đã biến thành con gái Mỗi đêm hè / da thịt sóng sinh sôi
Và cũng như một số nhà thơ tài danh khác, Chế Lan Viên rất chú ý tới sự phân bổ và hòa phối thanh điệu giữa các tiếng trong mỗi dòng thơ. Trong trường hợp này, có thể thấy ông đã sử dụng phép đổi thanh giữa hai tiếng bắt đầu và kết thúc một bước thơ (những chữ in đậm):
Xanh biếc màu xanh // bể như hàng nghìn mùa thu qua / còn để tâm hồn nằm đọng lại //
Sóng như nghìn trưa xanh // trời đã tan xanh ra thành bể / và thôi không trở lại làm trời //
Nếu núi là con trai/ thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương / đã biến thành con gái //
Mỗi đêm hè / da thịt sóng sinh sôi//
Đoạn thơ gồm 11 bước nhưng có tới 07 bước tuân thủ quy luật đổi thanh Bằng – Trắc, cụ thể là như sau: – bước 2: bể … qua – bước 3: còn … lại – bước 4: Sóng … xanh – bước 5: trời … bể – bước 7: Nếu … trai – bước 8: thì … hương – bước 10: Mỗi … hèchỉ có 04 bước là có sự trùng thanh: – bước 1: Xanh … xanh – bước 6: và … trời – bước 9: đã … gái – bước 11: da … sôi
Nhưng cần thấy rằng đó là do tình ý của câu thơ buộc Chế Lan Viên phải chọn dùng những từ có thanh như vậy; và hơn nữa, ông đã rất dụng công xếp những bước thơ có sự trùng thanh này không đi sát cạnh nhau liên tiếp, nhờ vậy chúng không làm hỏng cái âm hưởng chung của câu thơ và cả đoạn thơ.
Để thấy rõ hơn tài thơ Chế Lan Viên ở đây, ta hãy thử mạo muội thay đổi thanh điệu và câu chữ ở một vài chỗ trong đoạn thơ và ta sẽ thấy ngay nhãn tiền cái hậu quả âm điệu tồi tệ của nó: + Nguyên văn: Sóng như nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm trời + Cải biên: Mây như nghìn trưa xanh mây đã tan xanh ra thành trời và thôi không trở lại làm mây
Đổi thanh để đạt đến sự khác biệt, không trùng lặp về thanh điệu, làm cho câu thơ lên bổng xuống trầm, là một sự dụng công bậc thầy của Chế Lan Viên trong lối thơ văn xuôi ở “Ánh sáng và phù sa”. Hãy xem thêm điều này trong một trích đoạn khác, cũng rất nổi tiếng của ông:
Một mùi hương/ của rừng hồng hoang cổ đại/ khi rừng chết đi/ thì ánh nắng/ mùi hoa/ lời chim/ chất nhựa/ cũng vùi theo
Mùa xuân không biết/ không hay/ sáng ấy / vẫn lấy máu mình/ nuôi mạch lá
Với “Ánh sáng và phù sa”, Chế Lan Viên đã làm một cuộc hành trình “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”. Hơn thế nữa, có thể nói, ông đã thực hiện một chuyến bay thể nghiệm, từ khung trời thơ cách luật ra khoảng trời thơ tự do, và xa hơn, sang nẻo trời của thơ văn xuôi, rất thành công. Nhưng… trời rất cao, rất xa và rất rộng. Thơ ông vẫn không khỏi có chỗ vấn vương trong vòng truyền thống, với những khuôn thước thi luật ngàn năm.
Cho dù vậy, thì mấy ai đã có được những câu “văn xuôi về một vùng thơ” hay như của ông, đẹp như của ông, khéo léo và tài hoa như của ông, làm cho ông trở thành một trong số đôi ba nhà thơ ít ỏi đã có công dựng nên nền thơ văn xuôi Việt Nam hiện đại. Còn gì quý hơn điều ấy với một nhà thơ!
Hà Nội, tháng Chạp 2007 LÝ TOÀN THẮNG
.
.
Chuyện tình của thi sĩ Chế Lan Viên ___________________________________
HẢI DƯƠNG
Có một câu danh ngôn nổi tiếng đại ý rằng “Trái đất rộng thêm nhờ diện tích tâm hồn của thi sĩ”. Và xưa nay, ở đâu có thi sĩ thì ở đó có tình yêu. Chế Lan Viên cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ.
Khi mới 17 tuổi, ông đã viết tập Điêu tàn như một tháp Chàm bí mật và lẻ loi ngả bóng xuống cánh đồng thơ Việt Nam. Khi nhắc đến Điêu tàn, nhiều người nghĩ ngay đến một thế giới của mồ hoang, sương lạnh, sọ người mà ít biết được rằng nó còn là một thế giới lung linh nhờ những bóng hồng bên tháp cổ u hoài.
Chế Lan Viên (tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920), quê gốc ở Cam Lộ, Quảng Trị, nhưng Chế Lan Viên lớn lên ở An Nhơn, Bình Định, bên thành cổ Đồ Bàn.
Thành cổ Đồ Bàn, với những tháp Chàm u huyền, những thiếu nữ Chiêm Thành đã để lại dấu ấn rất sâu đậm trong đời thơ Chế Lan Viên. Tập thơ đầu tay Điêu tàn có lời tựa đồng thời cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của “Trường Thơ Loạn”.
Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định. Trong thơ của ông thời kì Điêu tàn, có những người con gái có thật nhưng cũng có những bóng hồng thấp thoáng trong tưởng tượng.
Người tình có thực
Những cụ già bên thành cổ Đồ Bàn còn nhớ vào khoảng những năm 1936, 1937, hàng ngày vẫn thấy một cậu bé mang khuôn mặt u buồn, thơ thẩn quanh nền thành cổ. Họ đâu ngờ rằng cậu bé ấy rồi đây sẽ trở thành một cây đại thụ của thơ ca Việt Nam.
Nhà thơ Yến Lan, một bạn thơ của Chế Lan Viên trong nhóm thơ Bình Định, kể lại mối tình đầu chớm nở, không thể nguôi quên của thi sĩ mang họ người Chàm. Đó là mối tình với người con gái mang tên Ngọc Anh.
Người đọc thơ ông ít có người để ý đến bài A và H. A là Anh, còn H là Hoan (tên thật của Chế Lan Viên). Ngọc Anh là con nhà dòng dõi “trâm anh thế phiệt”. Nhà bà Ngọc Anh vốn ở Diêu Trì, huyện Tuy Phước, Bình Định.
Chế Lan Viên ở An Nhơn, xưa là thành Đồ Bàn, sau Nguyễn Nhạc tiếp quản gọi là thành Hoàng Đế. Diêu Trì cách An Nhơn không xa cho nên Chế Lan Viên thường hay lui tới nhà Ngọc Anh.
Mối tình đầu của Chế Lan Viên, từ thuở nhà thơ mới 15, 16 tuổi đầu, lúc ấy yêu với Chế Lan Viên nghĩa là si mê, nhưng nhà thơ thì vẫn xem người mình yêu như một thần tượng được tôn thờ muôn thuở.
Mãi cho đến năm 1987, Chế Lan Viên còn nhắc đến tên bà. Nhà thơ Yến Lan bình luận: “Ngọc Anh của Chế là tên một loài hoa, lại là tên của người yêu, tình yêu mới chớm, yêu thầm lặng chỉ riêng mình biết; nên mãi mãi giấu kín để rồi đêm đêm lại chiêm bao, gối đầu trên gối lại thấy hình bóng người yêu.
Hay cũng có thể nói là mối tình đầu tha thiết và kín đáo thì mỗi khi nằm ngủ mới thoạt thấy hình ảnh người yêu từ cõi lòng e ấp. Mối tình này ít người biết tới, ngay cả đến Ngọc Anh cũng chưa bao giờ được Chế ngỏ ý”.
Có nhiều kiều nữ đã từng đi qua đời thơ Chế Lan Viên, trong đó, có một thiếu nữ tên là Nguyễn Thị Giáo. Bà Giáo mang vẻ đẹp mặn mòi, duyên dáng của một tiểu thư khuê các. Nét quyến rũ nhất của người con gái này là cặp chân mày mảnh mai, hình vòng cung, cong như trăng đầu tháng.
Nhiều chàng trai theo đuổi nhưng bà đã nặng lòng với người thi sĩ mang họ Chàm từ khá sớm. Vượt qua nhiều khó khăn trở ngại từ phía gia đình, bà nhất quyết đi theo tiếng gọi của lòng mình. Mối tình của hai người được ghi dấu bằng một bài thơ tứ tuyệt hết sức độc đáo lúc chia ly đôi ngả:
“Đến chỗ đông người anh biệt em – Quay đi thôi chớ để anh nhìn – Mày em trăng mới in ngần thật – Cắt đứt lòng anh trăng của em”.
Tình nhân trong mộng
Tình nhân của Chế Lan Viên có người có tên, có người lại không tên nhưng thi sĩ luôn nhớ về họ. Đó có thể là một cô học trò xứ Quảng, nơi có cụm tháp Chàm trên thánh địa Mỹ Sơn có thể là cô gái mang tên Xuyến Nhi nào đó như sau này nhà thơ viết:
“Xuyến nhi, yểu điệu hồn ta – em sẽ ngồi đây. Hơi thở trăng sao đang đến nảy mầm cho những hạt giống trên kia quý báu, và chẳng bao lâu nữa, chưa tới dấu hiệu bình minh đâu, chúng ta có thể cùng nhau gặt hái những gì hoa quả sắp ra đời”.
Trong cuộc hành trình đi vào cõi âm bằng thơ, Chế Lan Viên đã bắt gặp rất nhiều những điều kỳ dị: Nào máu huyết, xương khô, thép lạnh, sọ người… Nhưng có một hình ảnh gây nhiều xúc động, trở thành ám ảnh đó là hình ảnh những tình nhân.
Chế Lan Viên đã lấy trí tưởng tượng, hư cấu cá nhân làm đối tượng để khám phá những bí ẩn của cuộc sống. Ông là người nối liền sự sống và cái chết, hữu thể và hư vô, dĩ vãng và tương lai bằng cái nhìn thực tại.
Cái không gian ảo ảnh về Chiêm Thành được tưởng tượng ra lại có khả năng hoán cải cái nhìn hiện thực của Chế Lan Viên. Những bầu trời đầy sao, những bóng trăng huyền hoặc những thiếu nữ Chiêm Thành đã làm ấm áp không gian.
Với Chế Lan Viên, tình yêu và cõi chết vẫn có thể hòa quyện với nhau không tách rời. Người ta kể rằng trong một lần đi bên những gì rêu phong đổ nát, Chế Lan Viên đã tình cờ gặp một thiếu nữ Chăm đi lang thang giữa núi đồi.
Chế đi theo nhưng không kịp nên cứ mãi tơ tưởng. Thế rồi từ đó ông cho rằng tất cả những thiếu nữ Chăm khi xưa cũng mang vẻ đẹp nguyên thủy, cổ sơ của loài người như người thiếu nữ vừa đi qua.
Thiếu nữ là hiện than của tình yêu và hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc như một cánh bướm, nắm mạnh sẽ vỡ tan. Người tình cần sự nâng niu. Chế không chấp nhận ngồi chờ người yêu đến trong đêm tân hôn quay cuồng.
Ông mong muốn hai trái tim đến với nhau bằng sự đồng cảm thế là đủ rồi. Tình yêu mà chỉ gắn với chuyện gối chăn với ông là thứ tình ích kỷ, mất đi nét đẹp của tâm hồn. Tình yêu của thi sĩ vượt ra ngoài sự giả dối tầm thường.
Có lần, Chế thật hạnh phúc khi bắt gặp người tình thướt tha trên cỏ biếc. Nàng vừa xuất hiện đã hôn ông bằng men say ngây ngất. Tóc cô gái dài như suối, mềm như liễu rủ, hong trong gió chiều. Thế rồi nàng chết, ông buồn thương u uẩn đi tìm.
Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Bình Định với trời xanh thẳm trên những tháp Chàm cô đơn đã dựng lên cõi hư vô ớn lạnh không ngừng ám ảnh Chế Lan Viên.
Với Chế Lan Viên, tình yêu sẽ đưa con người đi đến vĩnh cửu. Tình yêu vừa gần gũi vừa xa xăm, người tình thì có lúc gần gụi, lúc lại mong manh hư ảo. Chế Lan Viên đã bắt gặp những người tình của mình bằng tiếng hát.
Tiếng hát như mộng, như mơ vọng lên trên tận cõi trời rồi tan biến vào hư vô như dáng hình thiếu nữ Chăm càng chạy theo càng bặt vô âm tín.Chế khao khát một cuộc tình vĩnh cửu vượt ra khỏi mọi ràng buộc, vượt ra mọi giới hạn của kiếp người. Người yêu của ông là thiếu nữ Chăm.
Chế mê mẩn lắng nghe những điệu nhạc Chăm vào những buổi chiều về. Thế rồi điệu nhạc đi qua, đàn dơi bay vào đền tháp, bóng tối bao phủ thành Bình Định, Chế giật mình tiếc thương tình nhân.
Có lần ông thấy cả những điệu múa của sơn nữ Chăm biến hóa theo từng nhịp điệu của trống kèn. Tiếng đàn tiếng hát u buồn ấy đã dẫn lối cho Chế Lan Viên đi tìm dáng hình thiếu nữ khi xưa. Làm sao chàng có thể bắt gặp được người thiếu nữ trong điệu nhạc mê hồn:
Đâu điệu nhạc điên cuồng ta khao khát/ Chẳng vang lên tràn ngập suối trăng mơ (Điệu nhạc điên cuồng). Tiếng bổ củi của tiều phu từ đâu vọng lại kéo chàng trở lại với thực tại buồn thương. Đôi khi những âm điệu ấy len lỏi vào từng giấc mơ của Chế.
Những thiếu nữ đi qua để lại cho chàng những giây phút êm đềm: Ta vừa thấy bóng nàng trên cỏ biếc/ Suối tóc dài vừa chảy giữa lòng trăng (Mộng). Chế Lan Viên còn mơ ước đến điệu nhạc ngày xưa đã mất.
Có những hoàng hôn Chế nghe tiếng hát bên kia hàng giậu vẳng sang như trầm như bổng. Giọng hát ấy đã gieo vào lòng Chế một nỗi buồn vô hạn: Đừng hát nữa tiếng cô trong trẻo quá/ Khiến hồn tôi tê liệt khó bay cao (Hồn tôi).
Tiếng hát vẳng lên giữa hư vô, ám ảnh thế giới Điêu tàn của Chế Lan Viên. Đó là dư âm tiếng lòng thổn thức của lớp trí thức tiểu tư sản bế tắc trước cảnh mất nước những năm đầu thế kỷ trước như Chế Lan Viên.
Thế giới Điêu tàn đã tạo ra một thần thái buồn bã ảo nảo và đau đớn cùng cực của của Chế Lan Viên nói riêng và của trường thơ Loạn Bình Định nói chung. Chính nó đã làm nên tình điệu thẩm mỹ cho trường phái thơ nổi tiếng này.
Đánh giá về vẻ đẹp trần thế đa tình của tập Điêu tàn, nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét: “Trong thơ cổ đến nhiều nhà thơ cũng đã nói tới cõi âm… Niềm kinh dị (chữ của Hoài Thanh) do Chế Lan Viên gây nên xuất phát từ đây.
Nhưng, theo tôi, sức thu hút của Điêu tàn không chỉ ở kinh dị với ma khóc quỷ hờn, đầu lâu la hét…trong cõi âm mờ tối, mà nhiều hơn lại ở sự mê đắm. Mê đắm vẻ đẹp rất nhiều ánh sáng kỳ ảo của trần gian thanh thiên bạch nhật. Thiên nhiên tươi sáng, son trẻ, nghịch ngợm, đa tình:
Hàng dừa cao say sưa ôm bóng ngủ Vài quả xanh khảm bạc hớ hênh phô Xoan vươn cành khều mặt trời rực rỡ Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đ
Hải Dương
.
tứ tr.19
^^ về trang chủ << về đầu chương Biên luận
Đang tải...
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24
Từ khóa » Cành Lan Phong Bể
-
Bài Thơ: Cành Phong Lan Bể (Chế Lan Viên - Phan Ngọc Hoan)
-
A.Trong Bài Thơ Cành Phong Lan Bể Của Chế Lan Viên Có Câu
-
Bài Thơ “Cành Phong Lan Bể” Của Chế Lan Viên Có Câu: “Con Cá Cầm ...
-
Em Hãy Chép Chính Xác Khổ Thơ Có Câu Thơ đó Theo Sách Ngữ Văn 9 ...
-
Tìm Hiểu Về Cuộc đời Và Phong Cách Thơ Chế Lan Viên - Ngữ Văn 12
-
Trong Bài “Cành Phong Lan Bể” Có Câu: “Con Cá Song Cầm đuốc Dẫn ...
-
Trong Bài Thơ Cành Phong Lan Bể Của Chế Lan Viên Có Câu:'' Con Cá ...
-
Thơ Văn Xuôi Của Chế Lan Viên - Tạp Chí Sông Hương
-
Đề Thi Vào THPT 06-07 - Tài Liệu Text - 123doc
-
Bài Thơ "Cành Phong Lan Bể" được Trích Trong Tập Thơ Nào Của Nhà ...
-
Soạn Bài Ngữ Văn địa Phương Bài " Cành Phong Lan Bể ", (trang 43 ...
-
Tài Liệu ôn Thi Vào 10 Môn Ngữ Văn - Giáo Án Điện Tử
-
Hai ý Niệm Tương Phản - Nền Tảng Cho ẩn Dụ Tri Nhận Trong Thơ Chế ...