Björk – Wikipedia Tiếng Việt

Ca sĩ người Iceland (sinh năm 1965)Bản mẫu:SHORTDESC:Ca sĩ người Iceland (sinh năm 1965) Bài này viết về ca sĩ. Đối với album mang chính tên cô, xem Björk (album). Đối với những định nghĩa khác, xem Björk (định hướng). Đây là tên người Iceland. Tên thứ hai là phụ danh, không phải họ; người này nên được gọi bằng tên riêng là Björk.
BjörkOTF
Björk trình diễn năm 2022
SinhBjörk Guðmundsdóttir21 tháng 11, 1965 (60 tuổi)Reykjavík, Iceland
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • nhạc sĩ
  • nhà soạn nhạc
  • nhà sản xuất âm nhạc
  • diễn viên
Năm hoạt động1976–hiện tại
Tác phẩm nổi bật
  • Danh sách đĩa nhạc
  • bài hát thu âm
  • video
  • biểu diễn trực tiếp
Phối ngẫuÞór Eldon(cưới 1986⁠–⁠ld.1987)
Bạn đờiMatthew Barney (2000–2013)[1]<
Con cái2
Cha mẹ
  • Guðmundur Gunnarsson (cha)
Giải thưởngDanh sách đầy đủ
Websitebjork.com
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
  • Art pop
  • avant-garde
  • electronica
  • experimental
  • alternative rock (giai đoạn đầu)
  • punk rock (giai đoạn đầu)
Nhạc cụ
  • Hát
  • sáo
  • đàn phím
Hãng đĩa
  • Fálkinn
  • One Little Independent
  • Polydor
  • Universal
  • Elektra
  • Atlantic
  • Nonesuch
  • Megaforce
  • RED
Cựu thành viên của
  • The Sugarcubes
  • Kukl
  • Tappi Tíkarrass
  • Björk Guðmundsdóttir & tríó Guðmundar Ingólfssonar
Chữ ký

Björk Guðmundsdóttir OTF (/bjɜːrk/ BYURK, tiếng Iceland: [pjœr̥kˈkvʏðmʏntsˌtouhtɪr̥] ; sinh ngày 21 tháng 11 năm 1965) hay được biết đến với nghệ danh Björk, là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, nhà sản xuất âm nhạc và diễn viên người Iceland. Nổi tiếng với giọng hát đặc biệt, âm vực quãng tám và tính cách dị biệt trước công chúng, nữ ca sĩ đã phát triển phong cách âm nhạc đa dạng trong sự nghiệp kéo dài năm thập kỷ, kết hợp giữa electronica, pop, dance, trip hop, jazz và nhạc avant-garde. Cô là một trong những nghệ sĩ tiên phong có tầm ảnh hưởng nhất của nhạc điện tử và thể nghiệm.[2]

Sinh ra và lớn lên ở Reykjavík, Björk bắt đầu sự nghiệp âm nhạc ở tuổi 11 và được biết đến trên toàn cầu khi trở thành ca sĩ chính của ban nhạc alternative rock The Sugarcubes khi mới 21 tuổi.[3] Sau khi Sugarcubes tan rã vào năm 1992, cô trở nên nổi tiếng với tư cách nghệ sĩ hát đơn thông qua ba album Debut (1993), Post (1995) và Homogenic (1997), đều được các nhà phê bình đánh giá cao bởi sự kết hợp giữa nhạc điện tử và avant-garde. Nữ ca sĩ tiếp tục thử nghiệm nhiều hơn trong những đĩa nhạc tiếp theo, bao gồm Vespertine (2001) chịu ảnh hưởng của glitch, Medúlla (2004) theo phong cách a cappella, Volta (2007) tập trung vào nhạc pop và Biophilia (2011), một album tương tác với ứng dụng trên iPad. Sau khi cộng sự lâu năm Mark Bell qua đời, Björk hợp tác với nghệ sĩ người Venezuela Arca trong những album Vulnicura (2015) và Utopia (2017), trong khi Fossora (2022) đánh dấu bước đột phá đầu tiên của nữ ca sĩ với tư cách nhà sản xuất độc lập.

Với doanh số tiêu thụ hơn 40 triệu bản trên toàn thế giới, Björk là một trong những nghệ sĩ nhạc alternative bán chạy nhất mọi thời đại. Một số album của cô cũng vươn đến top 20 trên bảng xếp hạng Billboard 200 tại Hoa Kỳ. Nhiều đĩa đơn của nữ ca sĩ đã lọt vào top 40 trên các bảng xếp hạng nhạc pop trên toàn cầu, bao gồm những đĩa đơn top 10 tại Vương quốc Anh "It's Oh So Quiet", "Army of Me" và "Hyperballad", cũng như những đĩa đơn top 20 "Play Dead", "Big Time Sensuality" và "Violently Happy".[4][5] Những giải thưởng và danh hiệu của cô bao gồm Huân chương Chim Ưng, năm giải BRIT và 16 đề cử giải Grammy (bao gồm chín đề cử ở hạng mục Album nhạc Alternative xuất sắc nhất, nhiều hơn bất kỳ nghệ sĩ nào). Năm 2015, Time vinh danh cô là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới.[6][7] Rolling Stone xếp cô là ca sĩ vĩ đại thứ 64[8] và nhạc sĩ vĩ đại thứ 81[9] mọi thời đại vào năm 2023.

Björk thủ vai chính trong bộ phim năm 2000 Dancer in the Dark của Lars von Trier, giúp cô chiến thắng giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes năm 2000,[10] và được đề cử giải Oscar cho Bài hát gốc xuất sắc nhất với "I've Seen It All". Björk cũng là người ủng hộ các vấn đề môi trường ở Iceland. Một triển lãm hồi tưởng tri ân đến Björk đã được tổ chức tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại New York vào năm 2015.[11]

Danh sách đĩa nhạc

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Danh sách đĩa nhạc của Björk, Danh sách bài hát thu âm bởi Björk, và Danh sách video của Björk
  • Björk (1977)
  • Debut (1993)
  • Post (1995)
  • Homogenic (1997)
  • Vespertine (2001)
  • Medúlla (2004)
  • Volta (2007)
  • Biophilia (2011)
  • Vulnicura (2015)
  • Utopia (2017)
  • Fossora (2022)

Phim ảnh

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Danh sách video của Björk § Phim ảnh
  • The Juniper Tree (1990)
  • Dancer in the Dark (2000)
  • Drawing Restraint 9 (2005)
  • The Northman (2022)

Lưu diễn

[sửa | sửa mã nguồn] Xem thêm: Danh sách buổi biểu diễn trực tiếp của Björk
  • Debut Tour (1993–1994)
  • Post Tour (1995–1997)
  • Homogenic Tour (1997–1999)
  • Vespertine World Tour (2001)
  • Greatest Hits Tour (2003)
  • The Volta Tour (2007–2008)
  • Biophilia Tour (2011–2013)
  • Vulnicura Tour (2015–2017)
  • Utopia Tour (2018)
  • Cornucopia (2019–2023)
  • Björk Orkestral (2021–2023)

Sách

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Um Úrnat frá Björk (1984)
  • Post (1995)
  • Björk/Björk as a book (2001)
  • Live Book (2003)
  • Biophilia – Manual Edition (2011)
  • Biophilia Live (2012)
  • Björk: Archives (2015)
  • 34 Scores for Piano, Organ, Harpsichord and Celeste (2017)
  • Cornucopia: The Book (2024)

Giải thưởng và đề cử

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Danh sách giải thưởng và đề cử của Björk

Vào ngày 26 tháng 4 năm 1997, Björk nhận được Huân chương Chim Ưng.[12]

Hội viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Björk là thành viên nước ngoài của Học viện Âm nhạc Hoàng gia Thụy Điển.[13]

Xem thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Björk Guðmundsdóttir & tríó Guðmundar Ingólfssonar
  • Kraumur – một quỹ âm nhạc mà Björk là thành viên hội đồng cố vấn
  • Danh sách nghệ sĩ đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng nhạc dance tại Mỹ
  • Danh sách nghệ sĩ trip hop
  • Âm nhạc của Iceland
  • Vegvísir – hình xăm của Björk, nằm trên cánh tay trái của cô
  • Danh sách nhạc sĩ người Iceland

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Pareles, Jon (ngày 30 tháng 1 năm 2015). "Sometimes Heartbreak Takes a Hostage". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2015.
  2. ^ "Björk Biography by Stephen Thomas Erlewine". AllMusic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2023.
  3. ^ "Pazz & Jop 1988: Critics Poll". Robert Christgau. ngày 28 tháng 2 năm 1989. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015.
  4. ^ "Bjork | full Official Chart History". www.officialcharts.com (bằng tiếng Anh). Official Charts Company. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2018.
  5. ^ Roberts, David. Guinness Book of British Hit Singles & Albums. Guinness World Records Ltd 17th edition (2004), p. 60 ISBN 0-85112-199-3
  6. ^ Abramović, Marina (ngày 16 tháng 4 năm 2015). "Björk". Time. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2015.
  7. ^ "Kanye West, Björk & Taylor Swift named among Time's 100 Most Influential People". Fact. ngày 16 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2015.
  8. ^ ”200 Best Singers of All Time Lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2023 tại Wayback Machine”. Rolling Stone. Published 1 January 2023. Accessed 9 September 2023.
  9. ^ ”The 100 Greatest Songwriters of All Time Lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2018 tại Wayback Machine”. Rolling Stone. Accessed 9 September 2023.
  10. ^ "Festival de Cannes: Dancer in the Dark". festival-cannes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2009.
  11. ^ "Bjork". MoMA Press. Museum of Modern Art. ngày 17 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2014.
  12. ^ "Eleven awarded Order of the Falcon". Dagur Tíminn. Dagsprent. ngày 26 tháng 4 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2020.
  13. ^ "Ledamöter". Kungl. Musikaliska Akademien (bằng tiếng Thụy Điển). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2024.

Tài liệu

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Pytlik, Mark (2003). Björk: Wow and Flutter. ECW Press. ISBN 1-55022-556-1.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Björk – The Illustrated Story, by Paul Lester. Hamlyn (1996).
  • Björk – An Illustrated Biography, by Mick St. Michael. Omnibus Press (1996).
  • Björk Björkgraphy, by Martin Aston. Simon & Schuster (1996).
  • Björk, Colección Imágenes de Rock, N°82, by Jordi Bianciotto. Editorial La Máscara (1997).
  • Dancer in the Dark, by Lars von Trier. Film Four (2000).
  • Lobster or Fame, by Ólafur Jóhann Engilbertsson. Bad Taste (2000).
  • Army of She: Icelandic, Iconoclastic, Irrepressible Björk, by Evelyn McDonnell. Random House (2001).
  • Human Behaviour, by Ian Gittins. Carlton (2002).
  • Björk: There's More to Life Than This: The Stories Behind Every Song, by Ian Gittins. Imprint (2002).
  • Björk, by Nicola Dibben. Equinox (2009).
  • “Follow My Voice”: Structure and Improvisation in Björk’s ‘Mouth’s Cradleʼ, by Árni Heimir Ingólfsson. European Journal of Musicology, vol. 18/1 (2019).

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Björk. Wikiquote có bộ sưu tập danh ngôn về: Björk
  • Website chính thức Sửa đổi này tại Wikidata
  • Björk trên Twitter
  • Danh sách đĩa nhạc của Björk trên Discogs
  • Björk trên IMDb
  • x
  • t
  • s
Björk
  • Giải thưởng và đề cử
  • Danh sách đĩa nhạc
  • Biểu diễn trực tiếp
  • Bài hát thu âm
  • Video
Album phòng thu
  • Björk
  • Debut
  • Post
  • Homogenic
  • Vespertine
  • Medúlla
  • Volta
  • Biophilia
  • Vulnicura
  • Utopia
  • Fossora
Nhạc phim
  • Selmasongs
  • Drawing Restraint 9
Album tổng hợp
  • Greatest Hits
  • Family Tree
  • Live Box
  • Surrounded
  • Voltaïc
Album phối lại
  • The Best Mixes from the Album-Debut
  • Telegram
  • Army of Me: Remixes and Covers
  • Bastards
  • Vulnicura Strings
Album trực tiếp
  • Debut Live
  • Post Live
  • Homogenic Live
  • Vespertine Live
  • Songs from the Volta Tour
  • Björk: Biophilia Live
  • Vulnicura Live
  • Apple Music Live: Björk (Cornucopia)
Album trực tiếp
  • Gling-Gló
  • Mount Wittenberg Orca
  • The Powers That B
  • Country Creatures
Phim hòa nhạc
  • Vessel
  • Live at Shepherds Bush Empire
  • Live in Cambridge
  • Live at Royal Opera House
  • Björk: Biophilia Live
  • Cornucopia
Video
  • Volumen
  • MTV Unplugged / Live
  • Volumen Plus
  • Later with Jools Holland
  • The Medúlla Videos
  • Vulnicura VR
Phim tài liệu
  • Inside Björk
  • Minuscule
  • The Inner or Deep Part of an Animal or Plant Structure
  • When Björk Met Attenborough
Lưu diễn
  • Debut tour
  • At the Union Chapel
  • Vespertine world tour
  • Greatest Hits tour
  • The Volta tour
  • Biophilia tour
  • Vulnicura tour
  • Utopia tour
  • Cornucopia
  • Björk Orkestral
Album khác
  • Kórsafn
  • Björk: Sonic Symbolism
  • Nature Manifesto
Sách
  • Um Úrnat frá Björk
  • Björk (sách)
  • Björk: Archives
  • 34 Scores for Piano, Organ, Harpsichord and Celeste
  • Cornucopia: The Book
Triển lãm
  • Björk (triển lãm)
  • Björk Digital
Ban nhạc và hãng đĩa
  • Fálkinn
  • Tappi Tíkarrass
  • Kukl
  • The Elgar Sisters
  • Bad Taste
  • One Little Independent
  • The Sugarcubes
  • Björk Guðmundsdóttir & tríó Guðmundar Ingólfssonar
Bài viết liên quan
  • Matthew Barney
  • Enjoyed: A Tribute to Björk's Post
  • Guðmundur Gunnarsson
  • Ricardo López
  • Pterourus bjorkae
  • Váy thiên nga
  • Thể loại Thể loại
Giải thưởng của Björk
  • x
  • t
  • s
Giải thưởng Liên hoan phim Cannes cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất
1946–1975
  • Michèle Morgan (1946)
  • Isa Miranda (1949)
  • Bette Davis (1951)
  • Lee Grant (1952)
  • Shirley Booth (1953)
  • Dàn diễn viên Bolshaya Semya (1955)
  • Susan Hayward (1956)
  • Giulietta Masina (1957)
  • Bibi Andersson/Eva Dahlbeck/Barbro Hiort af Ornäs/Ingrid Thulin (1958)
  • Simone Signoret (1959)
  • Melina Mercouri / Jeanne Moreau (1960)
  • Sophia Loren (1961)
  • Katharine Hepburn / Rita Tushingham (1962)
  • Marina Vlady (1963)
  • Anne Bancroft / Barbara Barrie (1964)
  • Samantha Eggar (1965)
  • Vanessa Redgrave (1966)
  • Pia Degermark (1967)
  • Vanessa Redgrave (1969)
  • Ottavia Piccolo (1970)
  • Kitty Winn (1971)
  • Susannah York (1972)
  • Joanne Woodward (1973)
  • Marie-José Nat (1974)
  • Valerie Perrine (1975)
1976–2000
  • Dominique Sanda / Mari Törőcsik (1976)
  • Shelley Duvall / Monique Mercure (1977)
  • Jill Clayburgh / Isabelle Huppert (1978)
  • Sally Field (1979)
  • Anouk Aimée (1980)
  • Isabelle Adjani (1981)
  • Jadwiga Jankowska-Cieślak (1982)
  • Hanna Schygulla (1983)
  • Helen Mirren (1984)
  • Norma Aleandro/Cher (1985)
  • Barbara Sukowa/Fernanda Torres (1986)
  • Barbara Hershey (1987)
  • Barbara Hershey/Jodhi May/Linda Mvusi (1988)
  • Meryl Streep (1989)
  • Krystyna Janda (1990)
  • Irène Jacob (1991)
  • Pernilla August (1992)
  • Holly Hunter (1993)
  • Virna Lisi (1994)
  • Helen Mirren (1995)
  • Brenda Blethyn (1996)
  • Kathy Burke (1997)
  • Élodie Bouchez/Natacha Régnier (1998)
  • Séverine Caneele/Émilie Dequenne (1999)
  • Björk (2000)
2001–nay
  • Isabelle Huppert (2001)
  • Kati Outinen (2002)
  • Marie-Josée Croze (2003)
  • Trương Mạn Ngọc (2004)
  • Hana Laszlo (2005)
  • Penélope Cruz / Carmen Maura / Lola Dueñas / Chus Lampreave / Blanca Portillo / Yohana Cobo (2006)
  • Jeon Do-yeon (2007)
  • Sandra Corveloni (2008)
  • Charlotte Gainsbourg (2009)
  • Juliette Binoche (2010)
  • Kirsten Dunst (2011)
  • Cristina Flutur / Cosmina Stratan (2012)
  • Bérénice Bejo (2013)
  • Julianne Moore (2014)
  • Emmanuelle Bercot / Rooney Mara (2015)
  • Jaclyn Jose (2016)
  • x
  • t
  • s
Người đoạt giải thưởng âm nhạc Polar
Thập niên 1990
  • Paul McCartney / Các nước Baltic (1992)
  • Dizzy Gillespie / Witold Lutosławski (1993)
  • Quincy Jones / Nikolaus Harnoncourt (1994)
  • Elton John / Mstislav Rostropovich (1995)
  • Joni Mitchell / Pierre Boulez (1996)
  • Bruce Springsteen / Eric Ericson (1997)
  • Ray Charles / Ravi Shankar (1998)
  • Stevie Wonder / Iannis Xenakis (1999)
Thập niên 2000
  • Bob Dylan / Isaac Stern (2000)
  • Burt Bacharach / Robert Moog / Karlheinz Stockhausen (2001)
  • Miriam Makeba / Sofia Gubaidulina (2002)
  • Keith Jarrett (2003)
  • B.B. King / György Ligeti (2004)
  • Gilberto Gil / Dietrich Fischer-Dieskau (2005)
  • Led Zeppelin / Valery Gergiev (2006)
  • Sonny Rollins / Steve Reich (2007)
  • Pink Floyd / Renée Fleming (2008)
  • Peter Gabriel / José Antonio Abreu / El Sistema (2009)
Thập niên 2010
  • Björk / Ennio Morricone (2010)
  • Kronos Quartet / Patti Smith (2011)
  • Paul Simon / Yo-Yo Ma (2012)
  • Youssou N'Dour / Kaija Saariaho (2013)
  • Chuck Berry / Peter Sellars (2014)
  • Emmylou Harris / Evelyn Glennie (2015)
  • Max Martin / Cecilia Bartoli (2016)
  • Sting / Wayne Shorter (2017)
  • Metallica / Viện âm nhạc quốc gia Afghanistan (2018)
  • Grandmaster Flash / Anne-Sophie Mutter / Playing for Change (2019)
  • x
  • t
  • s
Giải Vệ Tinh cho bài hát nguyên tác xuất sắc nhất
Thập niên 1990
  • "You Must Love Me" – Nhạc của Andrew Lloyd Webber; Lời của Tim Rice (1996)
  • "My Heart Will Go On" – Nhạc của James Horner; Lời của Will Jennings (1997)
  • "I Don't Want to Miss a Thing" – Nhạc và lời của Diane Warren (1998)
  • "When She Loved Me" – Nhạc và lời của Randy Newman (1999)
2000s
  • "I've Seen It All" – Nhạc của Björk; Lời của Sjón và Lars von Trier (2000)
  • "All Love Can Be" – Nhạc của James Horner; Lời của Will Jennings (2001)
  • "Something to Talk About" – Nhạc và lời của Badly Drawn Boy (2002)
  • "Siente Mi Amor (Feel My Love)" – Nhạc và lời của Robert Rodriguez (2003)
  • "Million Voices" – Nhạc và lời của Wyclef Jean, Jerry 'Wonder' Duplessis và Andrea Guerra (2004)
  • "A Love That Will Never Grow Old" – Nhạc của Gustavo Santaolalla; Lời của Bernie Taupin (2005)
  • "You Know My Name" – Nhạc và lời của Chris Cornell (2006)
  • "Grace is Gone" – Nhạc của Clint Eastwood; Lời của Carole Bayer Sager (2007)
  • "Another Way to Die" – Nhạc và lời của Jack White (2008)
  • "The Weary Kind" – Nhạc và lời của Ryan Bingham và T Bone Burnett (2009)
2010s
  • "You Haven't Seen the Last of Me" – Nhạc và lời của Diane Warren (2010)
  • "Lay Your Head Down" – Nhạc của Brian Byrne; Lời của Glenn Close (2011)
  • "Suddenly" – Nhạc của Claude-Michel Schönberg; Lời của Alain Boublil và Herbert Kretzmer (2012)
  • "Young and Beautiful" – Nhạc và lời của Lana Del Rey và Daniel Heath (2013)
  • "We Will Not Go" – Nhạc và lời của J. Ralph (2014)
  • "Til It Happens to You" – Nhạc và lời của Lady Gaga và Diane Warren (2015)
  • "City of Stars" – Nhạc của Justin Hurwitz; Lời của Benj Pasek và Justin Paul (2016)
  • "Stand Up for Something" – Nhạc của Diane Warren; Lời của Common và Diane Warren (2017)
  • "Shallow" – Nhạc và lời của Lady Gaga, Mark Ronson, Anthony Rossomando và Andrew Wyatt (2018)
  • "(I'm Gonna) Love Me Again" – Nhạc của Elton John; Lời của Bernie Taupin (2019)
Thập niên 2020
  • "Io sì (Seen)" – Nhạc và lời của Niccolò Agliardi, Laura Pausini và Diane Warren (2020)
  • "Colombia, Mi Encanto" – Nhạc và lời của Lin-Manuel Miranda (2021)
  • "Hold My Hand" – Nhạc và lời của Lady Gaga và BloodPop (2022)
  • "What Was I Made For?" – Nhạc và lời của Billie Eilish và Finneas O'Connell (2023)
  • "Mi Camino" – Nhạc và lời của Clément Ducol và Camille (2024)

Từ khóa » Bjork Là Ai