Bộ 3 đề Thi Thử THPT QG Môn Ngữ Văn Năm 2021 Trường ... - HOC247

TRƯỜNG THPT TRẦN THỊ TÂM

ĐỀ THI THỬ THPT QG

MÔN: NGỮ VĂN

NĂM HỌC: 2021

(Thời gian làm bài: 120 phút)

ĐỀ SỐ 1

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích và thực hiện yêu cầu dưới đây:

Các nhà tâm lý học nhận thấy từ trẻ sơ sinh cho đến người trưởng thành đều luôn khao khát mối quan hệ tác động qua lại giữa người với người. Những đứa trẻ không được lớn lên trong tình yêu thương thì khi trưởng thành, dù rất khao khát nhưng vẫn rất khó để có được một đời sống ổn định về cảm xúc. Người trưởng thành cũng gặp những tổn thương tương tự. Thiếu vắng những mối giao lưu thân tình với người khác, tâm hồn chúng ta thường bị lệch lạc.

Thật vậy, cuộc sống của chúng ta được hình thành từ các mối quan hệ khác nhau, là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Qua đó, ta nhận thức về thế giới, về bản thân và ngay cả “số phận” của mình. Những người có mối quan hệ tốt đẹp với người khác thì mau trưởng thành hơn, sống hạnh phúc hơn, tâm hồn trở nên rộng rãi hơn. Linh mục Thomas Merton đã từng viết: “Tâm hồn của chúng ta cũng giống như các vận động viên, luôn cần có đối thủ ngang sức ngang tài để thể hiện đầy đủ sức mạnh của mình”. Các cơ bắp sẽ trở nên yếu đi nếu không được luyện tập thường xuyên và đầy đủ. Tâm hồn của bạn cũng như thế! Và cách luyện tập tuyệt vời nhất là hãy biết chia sẻ và làm điều tốt cho người khác những khi có thể.

(Cho đi là còn mãi –Azim Jamal & Harvey McKinno, NXB Tổng hợp TPHCM,2018)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.

Câu 2: Theo văn bản, điều gì xảy ra nếu những đứa trẻ không được lớn lên trong tình thương?

Câu 3: Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến: “Thiếu vắng những mối giao lưu thân tình với người khác, tâm hồn chúng ta thường bị lệch lạc”?

Câu 4: Thông điệp mà anh/chị tâm đắc nhất từ văn bản trên là gì? Nêu lí do vì sao.

PHẦN II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1. (2.0 điểm)

Viết đoạn văn 200 chữ bày tỏ suy nghĩ của anh/ chị về giá trị của sự chia sẻ và làm điều tốt cho người khác những khi có thể được gợi ra ở phần đọc hiểu.

Câu 2. (5.0 điểm)

Trong phần đầu đoạn trích “Đất Nước” (Trích trường ca “Mặt đường khát vọng”), nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết:

“Khi ta lớn lên

Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết tròng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…”

(Đất Nước – Trích trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.118)

Nêu cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên, từ đó làm rõ tư tưởng sâu sắc, mới mẻ của Nguyễn Khoa Điềm về Đất Nước.

---- HẾT ----

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

1.

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

2.

Nếu những đứa trẻ không được lớn lên trong tình yêu thương thì khi trưởng thành, dù rất khao khát nhưng vẫn rất khó để có được một đời sống ổn định về cảm xúc.

3.

HS có thể giải thích như sau:

- Thiếu những mối quan hệ tốt đẹp, tâm hồn con người sẽ dần trở nên khô cằn, chai sạn, khó đồng cảm, sẻ chia mọi người. Họ luôn bó buộc mình trong vỏ bọc, không nhận thấy được giá trị cuộc sống, luôn mất niềm tin mọi người xung quanh.

- Điều này đôi lúc khiến con người có những suy nghĩ, hành động không đúng đắn.

4.

Thông điệp có thể là: Luôn biết chia sẻ và làm những điều tốt nhất khi có thể. Hoặc xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp.

Học sinh có thể đưa ra các thông điệp khác nhau và lí giải hợp lí, thuyết phục.

PHẦN II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1:

a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân - hợp, móc xích hay song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: giá trị của sự chia sẻ và làm điều tốt cho người khác những khi có thể.

c. Triển khai vấn đề nghị luận

HS có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ giá trị của sự chia sẻ và làm điều tốt cho người khác những khi có thể. Có thể triển khai theo hướng sau: - Giải thích: sự chia sẻ là quan tâm, giúp đỡ người khác; những khi có thể là những thời điểm có điều kiện để thực hiện sự giúp đỡ người khác.

- Bàn luận ý nghĩa của sự chia sẻ và làm điều tốt: luôn được người khác quan tâm, yêu thương và tôn trọng; cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn; truyền cảm hứng, khơi dậy niềm khát khao chia sẻ cho mình và những người xung quanh; thắp sáng niềm tin nơi tâm hồn mọi người…

- Cần phải phê phán những người ích kỷ, luôn chỉ biết sống cho bản thân mình.

- Bài học và liên hệ bản thân: luôn quan tâm và chia sẻ với người khác khi có thể dù là việc nhỏ nhất, tham gia tích cực các hoạt động tình nguyện do đoàn thể tổ chức.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2:

a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân - hợp, móc xích hay song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: giá trị của sự chia sẻ và làm điều tốt cho người khác những khi có thể.

---(Để xem tiếp đáp án những câu còn lại vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---

ĐỀ SỐ 2

I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Đọc đoạn trích

Nếu như không có cách nào để thay đổi thế giới bên ngoài, hãy thay đổi chính mình, bởi vì đó là điều có thể thay đổi được. Khi bạn tập trung sự chú ý để hoàn thiện bản thân, cuộc sống của bạn cũng sẽ trở nên tốt đẹp. Chấp nhận những điều bạn không thể thay đổi, thay đổi những điều bạn có thể thay đổi được, và nhìn nhận được sự khác biệt giữa hai điều này, đó là bài học mà chúng ta cần phải theo đuổi suốt cuộc đời. Ngoài việc thay đổi hành vi của chính mình, bạn có thể thay đổi được thái độ nhìn nhận của bản thân. Khó khăn trắc trở có nhiều tới đâu cũng phải chịu thua trước thái độ và phản ứng của bạn trước chúng. Thái độ tiêu cực khi nhìn nhận một sự việc thường sẽ làm tổn thương lòng tự tin, mài mòn ý chí phấn đấu của con người. Cũng giống như khi nhìn một nửa ly nước, có người nói “chỉ còn nửa ly nước", cũng có người nói “vẫn còn nửa ly nước". Thái độ khác nhau sẽ tạo ra những cuộc đời khác nhau, bạn có thể thay đổi thế giới của chính mình thông qua việc thay đổi cách nhìn và thái độ của bản thân.

(Trích Sống chậm lại rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi, Alpha book biên soạn, NXB Lao động xã hội, 2014, tr 13)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích

Câu 2. Theo tác giả: “bài học mà chúng ta cần phải theo đuổi suốt cuộc đời” là gì?

Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về sự khác nhau giữa hai cách nói: “chỉ còn nửa ly nước” và “vẫn còn nửa ly nước”?

Câu 4. Lời khuyên: “Nếu như không có cách nào để thay đổi thế giới bên ngoài, hãy thay đổi chính mình” trong đoạn trích có ý nghĩa gì với anh/chị?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của việc thay đổi chính mình

Câu 2 (5,0 điểm)

Cảm nhận của anh/ chị về nét hung bạo và vẻ đẹp trữ tình của hình tượng sông Đà trong Tùy bút Người lái đò Sông Đà - Nguyễn Tuân.

---- HẾT ----

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2

I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

1.

Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

2.

- “Bài học mà chúng ta cần phải theo đuổi suốt cuộc đời” là: Chấp nhận những điều bạn không thể thay đổi, thay đổi những điều bạn có thể thay đổi được, và nhìn nhận được sự khác biệt giữa hai điều này

3.

Hai cách nói: “chỉ còn nửa ly nước” và “vẫn còn nửa ly nước” thể hiện 2 thái độ, 2 cái nhìn của con người trước cùng một hiện tượng:

- Từ “chỉ” trong cách nói: “chỉ còn nửa ly nước” gợi cái nhìn bi quan, tiêu cực

- Từ “vẫn” trong cách nói: “vẫn còn nửa ly nước” thể hiện cái nhìn lạc quan, tích cực

4.

Học sinh trình bày theo quan điểm của mình về ý nghĩa lời khuyên: “Nếu như không có cách nào để thay đổi thế giới bên ngoài, hãy thay đổi chính mình” nhưng cần đảm bảo các ý sau:

- Trong cuộc sống, có những điều ta không thể thay đổi được theo ý muốn chủ quan của mình vì đó là những điều trở thành quy luật, tất yếu. Nếu tìm mọi cách để thay đổi, ta sẽ mất công vô ích, gặp thất bại cay đắng;

- Tuy nhiên, nếu có những điều có thể thay đổi, ta sẽ tìm cách thay đổi để nó phù hợp với hoàn cảnh mới, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, đem lại hạnh phúc cho cá nhân và cộng đồng.

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1:

a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Ý nghĩa của việc thay đổi chính mình

c. Triển khai vấn đề nghị luận

Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ Ý nghĩa của việc thay đổi chính mình. Có thể triển khai theo hướng:

- Thay đổi chính mình là làm cho bản thân mình khác đi, loại bỏ cái xưa cũ, lạc hậu đểm tìm đến cái mới mẻ tiến bộ từ nhận thức, tình cảm đến hành động.

- Nhờ thay đổi bản thân mà con người luôn biết tìm tòi, học hỏi, sáng tạo. Từ đó, cuộc sống vật chất và tinh thần sẽ được cải thiện, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

- Người biết thay đổi bản thân luôn đạt thành công nhờ trải qua thử thách, được trải nghiệm, rèn luyện ý chí, nghị lực, có niềm tin vào chính mình.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Nét hung bạo và vẻ đẹp trữ tình của hình tượng sông Đà

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

* Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, Tùy bút “Người lái đò sông Đà”

* Cảm nhận hình tượng sông Đà

- Nét hung bạo của sông Đà

+ Bờ sông dựng vách thành: lòng sông hẹp, bờ sông dựng vách thành, đúng ngọ mới có mặt trời, chỗ vách đá ... chẹt lại như một cái yết hầu

+ Ở mặt ghềnh Hát Loóng: nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió một cách hỗn độn, lúc nào cũng như đòi nợ suýt những người lái đó.

+ Ở quãng Tà Mường Vát: có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông, chúng thở và kêu như cửa cống cái bị sặc nước

+ Trận địa thác đá được miêu tả từ xa đến gần:

- Nhận xét: Sông Đà mang diện mạo và tâm địa của một con thủy quái, “dòng thác hùm beo”, thứ kẻ thù số một của con người

- Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà

+ Từ trên cao nhìn xuống: Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình; Sông đà đổi màu theo từng mùa một cách độc đáo: mùa xuân xanh ngọc bích, mùa thu đỏ.

+ Khi đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại: Sông Đà gợi cảm như một cố nhân, mang vẻ đẹp Đường thi.

+ Khi đi thuyền trên sông phía hạ lưu: bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử; Sông Đà như một “người tình nhân chưa quen biết”

- Nhận xét: Sông Đà trữ tình như một cố nhân, một tình nhân.

- Nghệ thuật: Nét hung bạo và vẻ đẹp trữ tình của sông Đà được miêu tả bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, lối hành văn tài hoa; nghệ thuật nhân hóa, so sánh, liên tưởng bất ngờ, thú vị.

- Hình tượng sông Đà đã thể hiện tình cảm của Nguyễn Tuân với thiên nhiên Tây Bắc.

---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 2 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---

ĐỀ SỐ 3

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4.

Chúng ta ai cũng khao khát thành công. Tuy nhiên mỗi người định nghĩa thành công theo cách riêng. Có người gắn thành công với sự giàu có về tiền bạc, quyền lực, tài cao học rộng; có người lại cho rằng có một gia đình êm ấm, con cái nên người là thành công...vv. Chung qui lại, có thể nói thành công là đạt được những điều mong muốn, hoàn thành mục tiêu của mình.

Nhưng nếu suy ngẫm kỹ, chúng ta sẽ nhận ra rằng thật ra câu hỏi quan trọng không phải là “Thành công là gì?” mà là “Thành công để làm gì?”. Tại sao chúng ta khát khao thành công? Suy cho cùng, điều chúng ta muốn không phải bản thân thành công mà là cảm giác mãn nguyện và dễ chịu mà thành công mang lại, khi chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Chúng ta nghĩ rằng đó chính là hạnh phúc. Nói cách khác, đích cuối cùng mà chúng ta nhắm tới thật ra là hạnh phúc, còn thành công chỉ là phương tiện.

Quan niệm cho rằng thành công hơn sẽ giúp chúng ta hạnh phúc hơn chỉ là sự ngộ nhận, ảo tưởng. Bạn hãy để hạnh phúc trở thành nền tảng cuộc sống, là khởi nguồn giúp bạn thành công hơn chứ không phải điều ngược lại! Đó chính là “bí quyết” để bạn có một cuộc sống thực sự thành công.

(Theo: http://songhanhphuc.net/tintuc).

Câu 1. Đoạn trích trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2. Chỉ ra đích cuối cùng mà con người hướng tới trong cuộc sống qua đoạn trích.

Câu 3. Dựa vào đoạn trích, anh/chị hãy cho biết thế nào là “Thành công”? Thế nào là “Hạnh phúc”?

Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng quan niệm thành công hơn sẽ giúp chúng ta hạnh phúc hơn chỉ là sự ngộ nhận, ảo tưởng?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm). Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc-hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về mối quan hệ giữa thành công và hạnh phúc.

Câu 2 (5.0 điểm). Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh,

Áo bào thay chiếu anh về đất,

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

(Trích Tây Tiến - Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập 1, NXB GD Việt Nam 2016, tr 88-89)

---- HẾT ----

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3

I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

1.

Chính luận.

2.

Hạnh phúc.

3.

- Thành công là đạt được những điều mong muốn, hoàn thành mục tiêu của mình.

- Hạnh phúc là cảm giác mãn nguyện và dễ chịu mà thành công mang lại, khi chúng ta đạt được mục tiêu của mình.

4.

Vì: Trên thực tế, chúng ta chứng kiến biết bao người thành công vượt bậc, nổi tiếng, giàu có mà vẫn bất hạnh, trầm cảm, nhiều người bế tắc phải tìm đến cái chết…

Vì vậy, thành công chỉ là phương tiện, không phải là nền tảng của hạnh phúc.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1:

a. Đảm bảo về hình thức đoạn văn

Đoạn văn 200 chữ, có bố cục 3 phần: Mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, qui nạp, tổng-phân-hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:

Mối quan hệ giữa thành công và hạnh phúc.

c. Triển khai vấn đề nghị luận

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách. Có thể theo hướng sau:

- Lí giải: Thế nào là thành công, thế nào là hạnh phúc?

- Bàn về mối quan hệ hai chiều giữa thành công và hạnh phúc.

+ Thành công là phương tiện của hạnh phúc.

+ Hạnh phúc là khởi nguồn của thành công.

- Đánh giá vai trò của hạnh phúc là nền tảng, là yếu tố quan trọng, là cái đích hướng đến của con người.

- Bài học nhận thức và hành động: Làm gì để có thành công và hạnh phúc.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt

e. Sáng tạo

Suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ

Câu 2:

Viết bài nghị luận văn học trình bày cảm nhận về hình tượng người lính Tây Tiến

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận

Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm

Thí sinh cần vận dụng tốt các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng nhưng phải đảm bảo các ý sau:

1. Giới thiệu khái quát về tác giả Quang Dũng, bài thơ “Tây Tiến”, vẻ đẹp của hình tượng người lính trong đoạn thơ.

2. Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng người lính:

- Vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn:

+ Chân dung người lính kiêu hùng trong gian khổ: không mọc tóc, quân xanh màu lá, dữ oai hùm.

+ Ý chí mãnh liệt và tâm hồn mộng mơ: mắt trừng gửi mộng, dáng kiều thơm.

- Vẻ đẹp bi tráng:

+ Mất mát đau thương mà không bi lụy: mồ viễn xứ, áo bào, anh về đất, gầm lên khúc độc hành.

+ Sẵn sàng dâng hiến sự sống, tuổi trẻ: chẳng tiếc đời xanh.

---(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập tải về máy)---

Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 3 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021 Trường THPT Trần Thị Tâm. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang Hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.

Chúc các em học tập tốt !

Từ khóa » Chỉ Còn Nửa Ly Nước Và Vẫn Còn Nửa Ly Nước