Bộ Vẹt – Wikipedia Tiếng Việt
Có thể bạn quan tâm
| Bộ Vẹt | |
|---|---|
| Thời điểm hóa thạch: 54–0 triệu năm trước đây TiềnꞒ Ꞓ O S D C P T J K Pg N Đầu thế Eocen[1] – Gần đây | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | Chordata |
| Lớp (class) | Aves |
| Phân thứ lớp (infraclass) | Neognathae |
| Nhánh | Psittacopasserae |
| Bộ (ordo) | PsittaciformesWagler, 1830 |
| Các liên họ | |
| |
Vẹt còn được gọi là chim két hay chim kơ tia là các loài chim gồm khoảng 393 loài trong 92 chi của Bộ Vẹt Psittaciformes,[2] được tìm thấy chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Bộ này được chia thành ba siêu họ: Psittacoidea (vẹt "thực sự"), Cacatuoidea (vẹt mào) và Strigopoidea (vẹt New Zealand).[3] Một phần ba các loài vẹt đang bị đe dọa bởi sự tuyệt chủng, với nguy cơ tuyệt chủng tổng hợp cao hơn (Sách đỏ IUCN) so với bất kỳ nhóm chim nào khác. Vẹt thường phân bố ở các địa hình nhiệt đới với một số loài sống ở vùng ôn đới ở Nam Bán cầu. Những nơi mà chúng đa dạng nhất là ở Nam Mỹ và Australasia.
Các điểm đặc trưng của vẹt bao gồm mỏ khỏe để đập vỡ vỏ hạt,cũng như rất cong, tư thế thẳng đứng, chân khỏe và chân có móng. Nhiều loài vẹt có màu sắc sặc sỡ, và một số con có nhiều màu. Đa số các loài vẹt biểu hiện ít hoặc không có dị hình giới tính trong phổ thị giác. Chúng tạo thành một bộ chim có kích thước thay đổi nhất về chiều dài. Các thành phần quan trọng nhất trong chế độ ăn của phần lớn các loài vẹt là hạt, quả hạch, quả, chồi và các loại thực vật khác. Một số loài đôi khi ăn động vật và xác chết, trong khi chim lory và chim lorikeet chuyên ăn mật hoa và trái cây mềm. Hầu như tất cả các loài vẹt làm tổ trong các hốc cây (hoặc hộp làm tổ trong điều kiện nuôi nhốt) và đẻ trứng trắng từ đó nở ra những con non yếu ớt.
Vẹt, cùng với quạ, giẻ cùi và chim ác là trong những loài chim thông minh nhất, và khả năng bắt chước tiếng người của một số loài khiến chúng trở thành những thú cưng phổ biến. Việc bẫy những con vẹt hoang dã để buôn bán thú cưng, cũng như săn bắt, sự mất môi trường sống và cạnh tranh từ các loài xâm lấn, đã làm giảm số lượng hoang dã, với loài vẹt bị khai thác nhiều hơn so với bất kỳ nhóm chim nào khác. Các biện pháp đã được thực hiện để bảo tồn môi trường sống của một số loài có sức lôi cuốn cao cũng đã bảo vệ nhiều loài ít có sức lôi cuốn sống trong cùng một hệ sinh thái.
Hệ thống phân loại
[sửa | sửa mã nguồn]
Liên họ Strigopoidea: Vẹt New Zealand.
- Họ Nestoridae: 2 chi có 2 loài còn sinh tồn và nhiều loài tuyệt chủng.
- Họ Strigopidae: không biết bay.
Liên họ Cacatuoidea
- Họ Cacatuidae
- Phân họ Nymphicinae: 1 chi đơn loài.
- Phân họ Calyptorhynchinae
- Phân họ Cacatuinae
- Tông Microglossini: 1 chi đơn loài.
- Tông Cacatuini: 4 chi gồm các loài màu trắng, hồng và xám.
Liên họ Psittacoidea: vẹt.
- Họ Psittacidae
- Phân họ Psittacinae: hai chi vẹt châu Phi, Psittacus và Poicephalus
- Phân họ Arinae
- Tông Arini: 15 chi
- Tông Androglossini: 7 chi
- Incertae sedis: 10 chi
- Họ Psittrichasiidae
- Phân họ Psittrichasinae: 1 loài
- Phân họ Coracopsinae: 1 chi.
- Họ Psittaculidae
- Phân họ Platycercinae
- Tông Pezoporini
- Tông Platycercini
- Phân họ Psittacellinae: 1 chi
- Phân họ Loriinae
- Tông Loriini
- Tông Melopsittacini: 1 chi đơn loài
- Tông Cyclopsittini
- Phân họ Agapornithinae: 3 chi
- Phân họ Psittaculinae
- Tông Polytelini: 3chi
- Tông Psittaculini
- Tông Micropsittini
- Phân họ Platycercinae
Nguồn gốc và tiến hóa
[sửa | sửa mã nguồn]
Sự đa dạng của bộ Vẹt (Psittaciformes) ở Nam Mỹ và châu Úc cho thấy bộ này có thể đã tiến hóa ở siêu lục địa Gondwana, với trung tâm là châu Úc. Tuy nhiên, sự khan hiếm của vẹt trong hồ sơ hóa thạch gây khó khăn cho việc xác nhận giả thuyết này. Hiện tại, số lượng hóa thạch được tìm thấy từ bắc bán cầu trong giai đoạn đầu Đại Tân Sinh lại nhiều hơn.[4] Các nghiên cứu phân tử cho rằng vẹt đã tiến hóa khoảng 59 triệu năm trước (trong khoảng 66–51 triệu năm trước) tại Gondwana. Các loài vẹt Tân nhiệt đới là một nhóm đơn ngành, và ba nhánh chính của chúng bắt nguồn từ khoảng 50 triệu năm trước.[5]
Một mảnh vỡ duy nhất dài 15 mm (0,6 in) từ một chiếc mỏ dưới lớn (mã hiệu UCMP 143274), được tìm thấy trong các trầm tích của Hệ tầng Lance Creek ở Hạt Niobrara, Wyoming, từng được cho là hóa thạch vẹt cổ nhất và được giả định có nguồn gốc từ cuối kỷ Phấn trắng, tức khoảng 70 triệu năm tuổi.[6] Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho rằng hóa thạch này không phải của một con chim, mà là của một loài khủng long oviraptorosaur thuộc họ Caenagnathidae (một loài khủng long không phải chim có mỏ giống chim). Lý do là vì một số chi tiết của hóa thạch được dùng để chứng minh nó là vẹt thực ra không chỉ có ở loài vẹt, và nó cũng không giống với các hóa thạch vẹt được biết đến sớm nhất.[7][8]
Người ta thường cho rằng bộ Vẹt đã tồn tại trong sự kiện tuyệt chủng Creta-Paleogen (tuyệt chủng K-Pg), cách đây 66 triệu năm. Chúng có lẽ là những loài chim sống trên cây nói chung và chưa có chiếc mỏ chuyên dụng để nghiền thức ăn như các loài hiện đại.[4][9] Phân tích bộ gen cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng vẹt là nhóm chị em của bộ Sẻ, tạo thành nhánh Psittacopasserae, và nhánh này lại là nhóm chị em của chim Cắt.[10]
Các hóa thạch vẹt rõ ràng đầu tiên có niên đại từ thế Eocen ở vùng nhiệt đới châu Âu, khoảng 50 triệu năm trước. Ban đầu, một loài chim có tên Mopsitta tanta, được phát hiện trong Hệ tầng Fur ở Đan Mạch có niên đại đầu thế Eocen (54 triệu năm trước), đã được xếp vào bộ Vẹt. Tuy nhiên, mảnh xương không mấy đặc sắc này không thể khẳng định chắc chắn là của bộ Vẹt, và nó có thể thuộc về chi cò quăm Rhynchaeites, vốn có hóa thạch chân được tìm thấy trong cùng các lớp trầm tích.[11]
Một vài bộ xương khá hoàn chỉnh của các loài chim giống vẹt đã được tìm thấy ở Anh và Đức.[12] Đây có lẽ không phải là các hóa thạch chuyển tiếp giữa vẹt tổ tiên và vẹt hiện đại, mà là các dòng dõi đã tiến hóa song song với các loài vẹt và vẹt mào thực sự.[13]
Các ghi nhận sớm nhất về vẹt hiện đại có niên đại khoảng 23–20 triệu năm trước.[14] Hồ sơ hóa thạch — chủ yếu từ châu Âu — bao gồm các mẩu xương có thể nhận dạng rõ ràng là thuộc về các loài vẹt có cấu trúc giải phẫu hiện đại.[15] Bán cầu Nam không có di tích nào giống vẹt được biết đến có niên đại sớm hơn đầu thế Miocen, tức khoảng 20 triệu năm trước.[14]
Tên gọi
[sửa | sửa mã nguồn]Tên gọi Psittaciformes (tên khoa học của bộ Vẹt) xuất phát từ một từ tiếng Hy Lạp cổ để chỉ loài vẹt là ψιττακός (Psittacus), vốn có nguồn gốc không rõ ràng. Ctesias (thế kỷ thứ 5 TCN) đã ghi lại cái tên Psittacus dựa trên tên gọi của một loài chim trong tiếng Ấn Độ, rất có thể là một con vẹt đuôi dài (hiện được xếp vào chi Psittacula). Pliny Già (23/24–79 SCN) trong cuốn Lịch sử Tự nhiên (quyển 10, chương 58) đã ghi nhận rằng người Ấn Độ gọi loài chim này là "siptaces"; tuy nhiên, người ta vẫn chưa tìm ra được bất kỳ tên gọi nào tương ứng trong tiếng Ấn Độ.[16][17] "Popinjay" là một thuật ngữ cũ hơn để chỉ loài vẹt, được sử dụng lần đầu trong tiếng Anh vào những năm 1500.[18]
Nguồn gốc của từ "vẹt" trong tiếng Việt để chỉ loài chim có mỏ cong, sặc sỡ và khả năng bắt chước tiếng người được cho là xuất phát từ đặc tính tượng thanh, tức mô phỏng âm thanh mà loài vật này tạo ra. Mặc dù không có tài liệu lịch sử nào ghi lại một cách chính xác thời điểm và nguồn gốc ra đời của từ này, các bằng chứng về ngôn ngữ học và cách người Việt đặt tên cho các loài vật khác đã củng cố mạnh mẽ cho giả thuyết này. Từ Hán Việt để chỉ loài vẹt là Anh Vũ (鸚鵡). Từ này mang sắc thái trang trọng, học thuật hơn và thường xuất hiện trong văn học cổ, thơ ca hoặc các văn bản khoa học. Ví dụ, trong bài thơ "Hoàng Hạc lâu" của Thôi Hiệu có câu "Phương thảo thê thê Anh Vũ châu" (Cỏ thơm xanh tốt bãi Anh Vũ).
Cấu tạo cơ thể
[sửa | sửa mã nguồn]
Các loài còn tồn tại có kích thước đa dạng, từ loài vẹt lùn mặt da bò với trọng lượng dưới 10 g (0,4 oz) và chiều dài 8 cm (3,1 in), cho đến vẹt macaw lục bình dài 1 m (3,3 ft) hay vẹt kākāpō nặng tới 4,0 kg (8,8 lb).Trong số các siêu họ, ba loài còn tồn tại của Strigopoidea đều là những loài vẹt lớn, và các loài vẹt mào (cockatoo) cũng thường là những con chim có kích thước lớn.[19]
Đặc điểm thể chất rõ ràng nhất của loài vẹt là chiếc mỏ khỏe, cong khoằm và rộng. Hàm trên (maxilla) nổi bật, cong xuống và kết thúc bằng một đầu nhọn. Một đặc điểm độc đáo là hàm trên không hợp nhất với hộp sọ mà được nối bằng một khớp linh hoạt (craniofacial hinge). Điều này cho phép nó có thể chuyển động độc lập, giúp vẹt có lực cắn cực mạnh. Ví dụ, một con vẹt Macaw lớn có lực cắn lên tới 35 kg/cm², tương đương với một con chó lớn.[20] Hàm dưới ngắn hơn, có cạnh sắc như một chiếc đục, di chuyển ngược lên phần phẳng của hàm trên để nghiền nát thức ăn. Vẹt sử dụng mỏ như một "chiếc chân thứ ba" để bám và leo trèo trên các cành cây. Bên trong mỏ có các thụ thể cảm ứng, giúp chúng có khả năng cầm nắm và thao tác đồ vật một cách khéo léo. Lưỡi của vẹt rất khỏe và linh hoạt, cũng chứa các thụ thể cảm ứng tương tự như ở đầu mỏ. Nó giúp chúng điều khiển hạt hoặc quả hạch trong miệng để mỏ có thể tác động một lực phù hợp.
Hộp sọ của vẹt lớn, với mắt nằm ở vị trí cao và hai bên. Điều này mang lại cho chúng một trường nhìn rất rộng, mặc dù không lớn bằng trường nhìn hai mắt của động vật linh trưởng, vẹt có thể quan sát được khu vực ngay dưới mỏ, phía trên đầu và cả phía sau mà không cần quay đầu.[21]

Đôi chân của vẹt có cấu trúc zygodactyl, một đặc điểm hình thái cực kỳ quan trọng giúp chúng thích nghi với đời sống trên cây. Mỗi bàn chân có bốn ngón, trong đó hai ngón hướng về phía trước (ngón thứ hai và thứ ba) và hai ngón hướng về phía sau (ngón thứ nhất và thứ tư). Cấu trúc này giống như một gọng kìm, tạo ra một lực kẹp cực kỳ chắc chắn. Cấu trúc chân zygodactyl giúp vẹt bám chặt vào cành cây, kể cả khi di chuyển lộn ngược. Vẹt thường dùng một chân để cầm thức ăn đưa lên miệng, tương tự như cách con người dùng tay. Điều này cho phép chúng giữ và xử lý các loại hạt và quả một cách hiệu quả. Một nghiên cứu được thực hiện với các loài vẹt Úc đã chứng minh rằng chúng có "chân thuận", tức là sự ưa thích rõ rệt đối với việc dùng một chân nhất định để cầm thức ăn. Những con vẹt trưởng thành hầu như chỉ "thuận chân trái" hoặc "thuận chân phải", và tỷ lệ của mỗi xu hướng này trong quần thể sẽ thay đổi tùy theo loài.[22]
Vẹt nổi tiếng với bộ lông sặc sỡ, đóng vai trò quan trọng trong việc ngụy trang, giao tiếp và lựa chọn bạn tình. Không giống như nhiều loài chim khác sử dụng sắc tố carotenoid (lấy từ thức ăn) để tạo ra màu đỏ và vàng, vẹt tự tổng hợp một loại sắc tố độc nhất gọi là psittacofulvins. Các sắc tố này tạo ra dải màu từ vàng, cam đến đỏ tươi. Màu sắc chủ đạo của bộ lông ở vẹt là màu xanh lá cây, mặc dù hầu hết các loài đều có một ít màu đỏ hoặc màu khác với số lượng nhỏ. Các loài vẹt mào chủ yếu có lông màu đen hoặc trắng với một ít lông màu đỏ, hồng hoặc vàng. Các màu như xanh lam và xanh lục rực rỡ không phải do sắc tố mà được tạo ra bởi màu sắc cấu trúc. Các cấu trúc nano cực nhỏ trong lông (tế bào bọt biển ở các sợi lông) tán xạ ánh sáng, chỉ phản xạ lại các bước sóng nhất định, tạo ra màu sắc mà chúng ta nhìn thấy. Ví dụ, màu xanh lục của nhiều loài vẹt là sự kết hợp giữa màu xanh lam cấu trúc và sắc tố psittacofulvin màu vàng. Mặc dù có màu sắc sặc sỡ, bộ lông của vẹt lại là một công cụ ngụy trang hiệu quả khi chúng ở trong tán lá xanh của rừng rậm. Màu sắc cũng đóng vai trò trong việc nhận diện đồng loại và trong các tập tính xã hội.
Giống như các loài chim biết bay khác, xương của vẹt thường rỗng (khí hóa) để giảm trọng lượng, nhưng đồng thời cũng rất chắc chắn với các thanh chống chéo bên trong để tăng cường độ cứng. Xương ức có một sống xương (keel) phát triển để các cơ bay khỏe mạnh bám vào. Vẹt không có thanh quản (vocal cords), chúng tạo ra âm thanh bằng cách sử dụng một cơ quan gọi là syrinx (minh quản), nằm ở đáy khí quản. Bằng cách điều khiển các cơ xung quanh syrinx, chúng có thể tạo ra một loạt các âm thanh phức tạp và bắt chước tiếng nói của con người.
Phân bố và môi trường sống
[sửa | sửa mã nguồn]Vẹt được tìm thấy trên tất cả các châu lục và khu vực nhiệt đới, cận nhiệt đới bao gồm Úc và Châu Đại Dương, Nam Á, Đông Nam Á, Trung Mỹ, Nam Mỹ và Châu Phi.[23] Một số đảo ở vùng Caribe và Thái Bình Dương là nơi sinh sống của các loài đặc hữu (chỉ có ở nơi đó). Cho đến nay, số lượng loài vẹt lớn nhất đến từ Úc và Nam Mỹ.[24] Các loài vẹt lori và lorikeet phân bố từ Sulawesi và Philippines ở phía bắc đến Úc và trải dài khắp Thái Bình Dương xa tới tận Polynesia thuộc Pháp, với sự đa dạng lớn nhất được tìm thấy ở khu vực New Guinea và xung quanh. Phân họ Arinae bao gồm tất cả các loài vẹt tân nhiệt đới, trong đó có vẹt amazon, vẹt macaw và vẹt conure, phân bố từ miền bắc Mexico và quần đảo Bahamas đến Tierra del Fuego ở mũi cực nam của Nam Mỹ.[25] Vẹt lùn, thuộc tông Micropsittini, tạo thành một chi nhỏ chỉ có ở New Guinea và quần đảo Solomon.[26] Siêu họ Strigopoidea chứa ba loài vẹt đặc biệt còn tồn tại ở New Zealand.[27] Vẹt đuôi rộng, thuộc phân họ Platycercinae, chỉ có ở Úc, New Zealand và các đảo Thái Bình Dương xa về phía đông tới tận Fiji.[28] Siêu họ vẹt thực thụ, Psittacoidea, bao gồm nhiều loài từ Úc và New Guinea đến Nam Á và Châu Phi. Trung tâm đa dạng sinh học của vẹt mào là Úc và New Guinea, mặc dù một số loài đã tới được quần đảo Solomon (và trước đây có một loài ở New Caledonia), Wallacea và Philippines [29] Wallacea and the Philippines.[30]

Một số loài vẹt sinh sống ở các vùng ôn đới mát mẻ của Nam Mỹ và New Zealand. Ba loài— vẹt mỏ dày, vẹt xanh nhỏ và vẹt Carolina hiện đã tuyệt chủng— từng sống xa về phía bắc tới tận miền nam Hoa Kỳ. Ngày nay, nhiều loài vẹt (đặc biệt là vẹt thầy tu) đã được con người mang đến các vùng khí hậu ôn đới và hình thành nên những quần thể ổn định tại nhiều nơi ở Hoa Kỳ (kể cả thành phố New York), Anh, Bỉ, Tây Ban Nha và Hy Lạp.[31][32][33][34][35] Chúng có thể thích nghi rất tốt ở môi trường mới; ví dụ như quần thể vẹt amazon vương miện đỏ du nhập vào Mỹ có số lượng đông đảo không kém gì ở quê nhà Mexico.[36] Loài vẹt duy nhất sống ở khí hậu núi cao là vẹt kea, loài đặc hữu của dãy núi Southern Alps trên đảo Nam của New Zealand.[37]
Rất ít loài vẹt sống cố định một chỗ hoặc di cư hoàn toàn theo mùa. Chúng thường di chuyển trong phạm vi khu vực theo những quy luật mà con người chưa hiểu rõ, một số loài thậm chí còn sống du mục hoàn toàn. Chỉ có ba loài được xác định là chim di cư thực sự là: vẹt bụng cam, vẹt cánh xanh và vẹt nhanh.[38]
Hành vi
[sửa | sửa mã nguồn]Việc nghiên cứu vẹt hoang dã gặp rất nhiều thách thức, vì chúng khó bắt và một khi đã bắt được thì lại khó đánh dấu. Hầu hết các nghiên cứu về chim hoang dã đều dựa vào việc đeo vòng chân hoặc gắn thẻ cánh, nhưng vẹt lại có thói quen cắn nát những thứ này.
Một số loài vẹt có kiểu bay thẳng và rất khỏe. Hầu hết các loài dành phần lớn thời gian đậu hoặc leo trèo trên các tán cây. Chúng thường dùng mỏ để leo trèo bằng cách quắp hoặc móc vào cành cây và các điểm tựa khác. Các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ New York đã công bố những phát hiện cho thấy vẹt sử dụng mỏ của chúng như một "chi thứ ba" để tạo lực đẩy cho cơ thể.[39] Khi ở trên mặt đất, vẹt thường đi với dáng đi lắc lư .
Chế độ ăn
[sửa | sửa mã nguồn]Chế độ ăn của vẹt rất đa dạng, bao gồm các loại hạt, quả, mật hoa, phấn hoa, chồi non, và đôi khi là cả động vật chân đốt.
Đối với hầu hết các loài vẹt thật sự và vẹt mào, hạt là nguồn thức ăn quan trọng nhất. Chiếc mỏ lớn và khỏe của chúng đã tiến hóa để có thể mở và ăn các loại hạt cứng. Tất cả các loài vẹt thật sự, ngoại trừ vẹt Pesquet, đều dùng chung một phương pháp để tách hạt ra khỏi vỏ: chúng kẹp hạt giữa hai hàm, dùng hàm dưới nghiền nát lớp vỏ, sau đó xoay hạt trong mỏ để loại bỏ nốt phần vỏ còn lại.[40]
Vẹt là động vật ăn hạt (granivore) chứ không phải là loài phát tán hạt. Trong nhiều trường hợp khi thấy chúng ăn quả, thực chất chúng chỉ ăn phần thịt quả để lấy hạt bên trong. Vì hạt thường chứa độc tố để tự vệ, vẹt phải cẩn thận loại bỏ vỏ hạt và các bộ phận được "phòng thủ hóa học" khác của quả trước khi ăn.[41]

Các loài vẹt lory, lorikeet, vẹt treo, và vẹt nhanh chủ yếu ăn mật hoa và phấn hoa. Lưỡi của chúng có đầu dạng bàn chải để dễ dàng thu thập loại thức ăn này, cùng với một số sự thích nghi chuyên biệt trong đường ruột. Nhiều loài vẹt khác cũng ăn mật hoa nếu như có sẵn.[42][43]
Tuy không phổ biến, một số loài vẹt cũng săn các loài động vật khác, đặc biệt là ấu trùng không xương sống. Vẹt đuôi dài cánh vàng săn ốc nước.[44] Vẹt kea ở New Zealand có thể, dù không phổ biến, săn cả cừu trưởng thành.[45] Vẹt đuôi dài Antipodes, một loài vẹt khác của New Zealand, được ghi nhận là có chui vào hang của chim hải âu bão lưng xám đang làm tổ và giết chết những con trưởng thành đang ấp trứng. Một số loài vẹt mào và vẹt kākā của New Zealand đục khoét cành cây và gỗ để ăn ấu trùng; phần lớn khẩu phần ăn của vẹt mào đen đuôi vàng là côn trùng.[46][47] Một số loài chim giống vẹt đã tuyệt chủng cũng có chế độ ăn thịt. Họ Pseudasturidae có lẽ là loài ăn côn trùng giống chim cu cu hay chim puffbird, trong khi họ Messelasturidae là loài ăn thịt giống chim săn mồi.[48]
Sinh sản
[sửa | sửa mã nguồn]Hầu hết các loài vẹt đều là loài sinh sản một vợ một chồng (monogamous), chúng làm tổ trong các hốc cây (hoặc các khoang rỗng) và không có lãnh thổ nào khác ngoài khu vực làm tổ của mình.[40][49]
Mối quan hệ cặp đôi của vẹt cũng như vẹt mào rất bền chặt; một cặp sẽ luôn ở gần nhau trong suốt mùa không sinh sản, ngay cả khi chúng gia nhập các đàn lớn hơn. Trước khi giao phối, các cặp vẹt sẽ thực hiện những nghi thức ve vãn phức tạp để củng cố mối quan hệ. Một số loài sẽ xòe cánh, gật gù đầu hoặc thực hiện những điệu bộ đặc trưng để thu hút bạn tình.[40] Việc rỉa lông cho nhau (allopreening) hoặc mớm mồi cho nhau cũng được cặp đôi sử dụng để giúp duy trì mối quan hệ.
Việc sinh sản hợp tác, tức là những con chim khác ngoài cặp bố mẹ giúp nuôi con non (một hành vi phổ biến ở một số họ chim), lại cực kỳ hiếm ở loài vẹt. Hành vi này chỉ được nhìn thấy một cách rõ ràng ở vẹt El Oro và vẹt vàng (loài này cũng có hành vi đa thê và sinh sản theo nhóm, với nhiều con mái cùng đẻ trứng vào một ổ).[50]
Hầu hết các loài vẹt và vẹt mào đều làm tổ trong các hốc rỗng, chẳng hạn như hốc cây hoặc các hốc được khoét vào vách đá, bờ đất. Việc sử dụng các hốc trên vách đá phổ biến hơn ở châu Mỹ. Tuy nhiên, cũng có những ngoại lệ: vẹt thầy tu và năm loài vẹt yến phụng (lovebirds) xây tổ trên cây. Ba loài vẹt đất của Úc và New Zealand làm tổ ngay trên mặt đất. Nhiều loài còn tận dụng các gò mối bỏ hoang, có thể là để giảm sự dễ bị phát hiện của nơi làm tổ hoặc để tạo ra một môi trường vi khí hậu thuận lợi.[51] Trong hầu hết các trường hợp, cả chim bố và chim mẹ đều tham gia vào việc đào tổ. Chiều dài của tổ thay đổi tùy loài, nhưng thường dài từ 0,5 đến 2 m (1,6 đến 6,6 ft). Tổ của vẹt mào thường được lót bằng que củi, dăm gỗ và các vật liệu thực vật khác.

Đối với các loài vẹt và vẹt mào lớn hơn, số lượng hốc làm tổ có thể bị hạn chế, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt để giành lấy chúng, không chỉ trong cùng một loài mà còn giữa các loài khác nhau cũng như với các họ chim khác.[52][53] Việc sống theo bầy đàn không phổ biến ở vẹt như người ta tưởng, có lẽ vì hầu hết các loài chỉ tận dụng các hốc cũ thay vì tự đào hang mới.[54]
Trứng của vẹt có màu trắng tuyền và hình bầu dục. Ở hầu hết các loài, con mái đảm nhận toàn bộ việc ấp trứng, mặc dù ở vẹt mào, vẹt lory xanh và vẹt treo vernal thì cả hai bố mẹ cùng chia sẻ nhiệm vụ này. Con mái ở trong tổ gần như trong toàn bộ thời gian ấp trứng và được con trống cho ăn.
Thời gian ấp trứng dao động từ 17 đến 35 ngày, các loài lớn hơn có thời gian ấp dài hơn. Chim non mới nở rất yếu, không có lông hoặc chỉ có một lớp lông tơ trắng thưa thớt. Tùy thuộc vào loài, con non sẽ ở trong tổ từ ba tuần đến bốn tháng.[54] Chúng sẽ được mớm cho ăn cho đến khi đủ lông đủ cánh và có thể tự bay đi kiếm ăn. Cả chim bố và chim mẹ đều tham gia vào việc nuôi con. Chúng ăn thức ăn, tiêu hóa một phần trong diều rồi mớm lại (regurgitation) cho con non. Hỗn hợp này rất giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa. Sau khi rời tổ, vẹt con vẫn sẽ được bố mẹ tiếp tục mớm mồi và dạy các kỹ năng sinh tồn trong một thời gian nữa trước khi có thể sống độc lập.
Vẹt mất khá nhiều thời gian để đạt đến tuổi trưởng thành sinh dục. Các loài nhỏ có thể sinh sản sau 1-2 năm, trong khi các loài lớn như Macaw có thể mất tới 5 năm hoặc hơn. Vẹt là một trong những loài chim sống lâu nhất. Tuổi thọ cao (từ 15 đến hơn 80 năm) có nghĩa là chúng có nhiều cơ hội sinh sản trong suốt cuộc đời, bù lại cho số lượng trứng ít và thời gian nuôi con kéo dài.
Trí thông minh và khả năng học hỏi
[sửa | sửa mã nguồn]
Cùng với các loài trong họ Quạ (quạ, quạ gáy xám, và chim giẻ cùi), vẹt được coi là loài chim thông minh nhất. Một số con vẹt xám châu Phi đã cho thấy khả năng liên kết từ ngữ với ý nghĩa của chúng và hình thành các câu đơn giản.
Tỷ lệ kích thước não trên cơ thể của bộ Vẹt và họ Quạ tương đương với các loài linh trưởng bậc cao.[55] Thay vì sử dụng vỏ não như động vật có vú, các loài chim sử dụng vùng HVC trung-mỏ để thực hiện các chức năng nhận thức.[56] Vẹt không chỉ thể hiện trí thông minh qua các bài kiểm tra khoa học về khả năng sử dụng ngôn ngữ, mà một số loài như vẹt kea còn rất thành thạo trong việc sử dụng công cụ và giải đố.[57]
Việc học hỏi trong giai đoạn đầu đời dường như rất quan trọng đối với tất cả các loài vẹt, và phần lớn quá trình học đó là học hỏi xã hội. Các tương tác xã hội thường được thực hành với anh chị em cùng lứa, và ở một số loài, các "nhà trẻ" (crèche) được hình thành từ nhiều lứa chim non khác nhau.
Vui chơi chiếm một phần lớn trong việc học hỏi của vẹt; chúng có thể chơi một mình hoặc chơi theo nhóm. Các loài vẹt có thể tham gia vào các trận chiến giả hoặc các chuyến bay hoang dã để thực hành kỹ năng trốn tránh kẻ săn mồi.
Sự thiếu hụt các yếu tố kích thích có thể làm chậm sự phát triển của chim non. Điều này được chứng minh qua một nhóm vẹt vasa được nuôi trong những chiếc lồng nhỏ xíu cùng với gà nhà từ khi ba tháng tuổi; đến chín tháng tuổi, những con chim này vẫn hành xử như những con ba tháng tuổi, nhưng đã bắt chước một số hành vi của gà . Tương tự, chim bị nuôi nhốt trong sở thú hoặc làm thú cưng, nếu bị thiếu các yếu tố kích thích, có thể phát triển các hành vi rập khuôn và có hại như tự nhổ lông. Vì vậy, những người nuôi chim cảnh đã xác định được sự cần thiết của việc làm giàu môi trường sống để giữ cho vẹt luôn được kích thích.[58]
Bắt chước âm thanh và lời nói
[sửa | sửa mã nguồn]Nhiều loài vẹt có thể bắt chước tiếng người hoặc các âm thanh khác. Một nghiên cứu của nhà khoa học Irene Pepperberg đã cho thấy khả năng học hỏi cao ở một con vẹt xám tên là Alex. Alex được huấn luyện để sử dụng các từ ngữ nhằm nhận dạng đồ vật, mô tả, đếm chúng, và thậm chí trả lời các câu hỏi phức tạp như "Có bao nhiêu hình vuông màu đỏ?" với độ chính xác trên 80%.[59] N'kisi, một con vẹt xám khác, đã được chứng minh là có vốn từ vựng khoảng một nghìn từ, và đã thể hiện khả năng sáng tạo cũng như sử dụng từ ngữ đúng ngữ cảnh và đúng thì.[60]
Vẹt không có dây thanh quản; âm thanh được tạo ra bằng cách đẩy không khí qua miệng khí quản trong một cơ quan gọi là minh quản (syrinx).[61] Vẹt xám nổi tiếng với khả năng vượt trội trong việc bắt chước âm thanh và tiếng người, điều này đã khiến chúng trở thành thú cưng phổ biến từ thời cổ đại.[62]
Mặc dù hầu hết các loài vẹt đều có thể bắt chước âm thanh, một số loài vẹt amazon thường được coi là những loài bắt chước và nói giỏi thứ hai trong thế giới loài vẹt. Câu hỏi tại sao vẹt lại bắt chước vẫn còn bỏ ngỏ, nhưng những con có khả năng này thường đạt điểm rất cao trong các bài kiểm tra được thiết kế để đo lường khả năng giải quyết vấn đề. Người ta đã quan sát thấy vẹt xám hoang dã bắt chước các loài chim khác.[63]
Ngoài việc bắt chước, vẹt cũng có thể được huấn luyện để sử dụng các công cụ giao tiếp đơn giản, ví dụ, yêu cầu thức ăn bằng cách nhấn nút.[64]
Quan hệ với loài người
[sửa | sửa mã nguồn]Làm thú cưng
[sửa | sửa mã nguồn]
Vẹt có thể không phải là thú cưng phù hợp với hầu hết mọi người vì những bản năng hoang dã tự nhiên của chúng như la hét và cắn phá. Mặc dù vẹt có thể rất tình cảm và đáng yêu khi còn nhỏ, chúng thường trở nên hung dữ khi trưởng thành (một phần do cách chăm sóc sai lầm và huấn luyện kém) và có thể cắn, gây thương tích nghiêm trọng.[65] Vì lý do này, các nhóm cứu hộ vẹt ước tính rằng hầu hết các con vẹt đều bị chủ bỏ rơi và đổi qua ít nhất năm đời chủ trước khi tìm được một mái ấm thực sự, hoặc chết sớm do bị bỏ mặc hay ngược đãi, dù là vô tình hay cố ý. Khả năng bắt chước tiếng người cùng với màu sắc sặc sỡ và vẻ đẹp của vẹt đã thúc đẩy những người tiêu dùng thiếu hiểu biết mua chúng một cách bốc đồng. Loài vẹt yến phụng (budgerigar) đã được thuần hóa, một loài vẹt nhỏ, là loài chim cảnh phổ biến nhất trong tất cả các loại.[66] Năm 1992, tờ báo USA Today công bố rằng chỉ riêng ở Hoa Kỳ đã có 11 triệu con chim cảnh, trong đó có rất nhiều vẹt.[67]
Vẹt cưng có thể được nuôi trong lồng hoặc chuồng chim lớn (aviary); tuy nhiên, những con vẹt đã được thuần hóa nên được cho ra ngoài thường xuyên để chơi trên cầu đứng hoặc khu vui chơi riêng. Tùy thuộc vào địa phương, vẹt có thể bị bắt từ tự nhiên hoặc được nhân giống trong môi trường nuôi nhốt, mặc dù ở hầu hết các khu vực không có vẹt bản địa, vẹt cưng đều được nhân giống. Các loài vẹt thường được nuôi làm thú cưng bao gồm vẹt má xanh (conure), vẹt macaw, vẹt amazon, vẹt mào (cockatoo), vẹt xám, vẹt uyên ương (lovebird), vẹt mào Úc (cockatiel), vẹt yến phụng (budgerigar), vẹt caique, vẹt parakeet, và các loài vẹt Eclectus, Pionus, và Poicephalus. Tính khí và tính cách của chúng cũng đa dạng ngay cả trong cùng một loài, giống như các giống chó vậy. Vẹt xám được cho là loài nói rất giỏi, nhưng không phải con vẹt xám nào cũng muốn nói, mặc dù chúng có khả năng đó. Mức độ ồn ào, khả năng nói, sự quấn quýt với con người và nhu cầu chăm sóc đôi khi có thể phụ thuộc vào cách con chim được chăm sóc và sự quan tâm mà nó thường xuyên nhận được.[68]

Vẹt luôn đòi hỏi sự quan tâm, chăm sóc và kích thích trí tuệ ở mức độ rất cao để có thể phát triển khỏe mạnh, tương đương với một đứa trẻ ba tuổi, điều mà nhiều người nuôi nhận thấy mình không thể đáp ứng được về lâu dài.[69] Những con vẹt được nhân giống để làm thú cưng có thể được con người đút ăn bằng tay hoặc cho làm quen với việc tương tác từ nhỏ để đảm bảo chúng trở nên hiền lành và tin tưởng. Tuy nhiên, ngay cả khi được đút ăn bằng tay, vẹt vẫn quay trở lại hành vi cắn phá và hung dữ trong giai đoạn thay đổi nội tiết tố (dậy thì) hoặc nếu bị chăm sóc sai cách hay bỏ mặc.[70] Vẹt không phải là loài thú cưng không cần nhiều công chăm sóc; chúng cần được cho ăn, chăm chút bộ lông, chăm sóc thú y, huấn luyện, và làm giàu môi trường sống thông qua việc cung cấp đồ chơi, cho vận động và tương tác xã hội (với những con vẹt khác hoặc con người) để có sức khỏe tốt.[71]
Một số loài vẹt lớn, bao gồm vẹt mào (cockatoo), vẹt amazon và vẹt macaw, có tuổi thọ rất dài, được ghi nhận là 80 năm,[72] và kỷ lục là hơn 100 năm.[73] Các loài vẹt nhỏ hơn, chẳng hạn như vẹt uyên ương (lovebird), vẹt lorikeet, và vẹt yến phụng (budgie), có tuổi thọ ngắn hơn, lên đến 15–20 năm.[73] Một số loài vẹt có thể khá ồn ào, và nhiều loài vẹt lớn có thể cắn phá đồ đạc, đòi hỏi một chiếc lồng rất lớn và cần được cung cấp thường xuyên đồ chơi mới, cành cây, hoặc các vật dụng khác để chúng gặm nhấm.[68] Trí thông minh của vẹt giúp chúng học rất nhanh các trò và các hành vi khác—cả tốt lẫn xấu—để đạt được những gì chúng muốn, chẳng hạn như sự chú ý hoặc phần thưởng.
Sự phổ biến, tuổi thọ cao và trí thông minh của nhiều loài vẹt cảnh cỡ lớn cùng với các đặc tính hoang dã của chúng như la hét, đã dẫn đến việc nhiều con vẹt cần phải được tìm chủ mới trong suốt cuộc đời dài của chúng. Một vấn đề phổ biến là những con vẹt lớn vốn rất quấn quýt và hiền lành khi còn nhỏ, khi lớn lên lại trở thành những sinh vật trưởng thành thông minh, phức tạp, thường đòi hỏi cao, có thể sống lâu hơn cả chủ nhân và cũng có thể trở nên hung dữ hoặc nguy hiểm. Do số lượng vẹt vô gia cư ngày càng tăng, chúng đang bị tiêu hủy nhân đạo giống như chó và mèo, và các trung tâm nhận nuôi cũng như khu bảo tồn vẹt đang trở nên phổ biến hơn.[74]:77–78 Vẹt thường không thích nghi tốt trong môi trường nuôi nhốt, khiến một số con bị rối loạn tâm lý và phát triển các hành vi lặp đi lặp lại, chẳng hạn như lắc lư và la hét, hoặc chúng trở nên cực kỳ sợ hãi. Việc tự phá hoại lông và tự làm hại bản thân, mặc dù hiếm thấy trong tự nhiên, lại thường xuyên xảy ra trong môi trường nuôi nhốt.[75][76]
Buôn bán
[sửa | sửa mã nguồn]Sự phổ biến của vẹt như một loài thú cưng đã dẫn đến hoạt động buôn bán loài chim này phát triển mạnh—và thường là bất hợp pháp—khiến một số loài hiện đang bị đe dọa tuyệt chủng. Sự kết hợp giữa việc săn bắt chim hoang dã và việc môi trường sống của chúng bị phá hủy khiến sự sinh tồn trở nên khó khăn hoặc thậm chí là không thể đối với một số loài vẹt. Việc nhập khẩu vẹt bị bắt từ tự nhiên vào Mỹ và châu Âu là bất hợp pháp sau khi Đạo luật về Quần thể Chim hoang dã (Wild Bird Population Act) được thông qua vào năm 1992.[77] Quy mô của vấn đề có thể được thấy rõ qua vụ án của Tony Silva vào năm 1996, trong đó một chuyên gia về vẹt và cựu giám đốc tại Loro Parque ở Tenerife (công viên vẹt lớn nhất châu Âu) đã bị bỏ tù 82 tháng tại Hoa Kỳ và bị phạt 100.000 đô la Mỹ vì tội buôn lậu vẹt macaw lục bình (loài chim này có giá rất cao).[78]
Các quốc gia khác nhau có những phương pháp khác nhau để xử lý việc buôn bán trong nước và quốc tế. Úc đã cấm xuất khẩu các loài chim bản địa của mình từ năm 1960.[79] Vào tháng 7 năm 2007, sau nhiều năm vận động của các tổ chức phi chính phủ (NGO) và sự bùng phát của dịch cúm gia cầm, Liên minh châu Âu (EU) đã ngưng nhập khẩu tất cả các loài chim hoang dã bằng một lệnh cấm vĩnh viễn.[80] Trước lệnh cấm tạm thời được đưa ra vào cuối tháng 10 năm 2005, EU đã nhập khẩu khoảng hai triệu con chim sống mỗi năm, chiếm khoảng 90% thị trường quốc tế: trong số đó có hàng trăm nghìn con là vẹt.[81]
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Waterhouse, David M. (2006). "Parrots in a nutshell: The fossil record of Psittaciformes (Aves)". Historical Biology. Quyển 18 số 2. tr. 223–234. doi:10.1080/08912960600641224.
- ^ "Zoological Nomenclature Resource: Psittaciformes (Version 9.013)". ngày 29 tháng 12 năm 2008.
- ^ Joseph, Leo (2012). "A revised nomenclature and classification for family-group taxa of parrots (Psittaciformes)" (PDF). Zootaxa. Quyển 3205. tr. 26–40.
- ^ a b Mayr, G. (2009). Paleogene fossil birds. Springer.
- ^ Tavares ES, Baker AJ, Pereira SL, Miyaki CY (2006). "Phylogenetic relationships and historical biogeography of neotropical parrots (Psittaciformes: Psittacidae: Arini) inferred from mitochondrial and nuclear DNA sequences". Systematic Biology. 55 (3): 454–470. doi:10.1080/10635150600697390. PMID 16861209.
- ^ Stidham, T. (1998). "A lower jaw from a Cretaceous parrot" (PDF). Nature. 396 (6706): 29–30. Bibcode:1998Natur.396...29S. doi:10.1038/23841. S2CID 204995638.
- ^ Dyke, G. J.; Mayr, G. (1999). "Did parrots exist in the Cretaceous period?". Nature. 399 (6734): 317–8. Bibcode:1999Natur.399..317D. doi:10.1038/20583. S2CID 204993284.
- ^ Waterhouse, D. M. (2006). "Parrots in a nutshell: The fossil record of Psittaciformes (Aves)". Historical Biology. 18 (2): 227–238. Bibcode:2006HBio...18..227W. doi:10.1080/08912960600641224. S2CID 83664072.
- ^ Ksepka, Daniel T.; Clarke, Julia A.; Grande, Lance (2011). "Stem Parrots (Aves, Halcyornithidae) from the Green River Formation and a Combined Phylogeny of Pan-Psittaciformes". Journal of Paleontology. 85 (5): 835–852. Bibcode:2011JPal...85..835K. doi:10.1666/10-108.1. ISSN 1937-2337. S2CID 86618579.
- ^ Suh, A.; Paus, M.; Kiefmann, M.; Churakov; Franke; Brosius; Kriegs; Schmitz (2011). "Mesozoic retroposons reveal parrots as the closest living relatives of passerine birds". Nature Communications. 2 (8): 443–8. Bibcode:2011NatCo...2..443S. doi:10.1038/ncomms1448. PMC 3265382. PMID 21863010.
- ^ Waterhouse, D.M.; Lindow, B.E.K.; Zelenkov, N.; Dyke, G.J. (2008). "Two new fossil parrots (Psittaciformes) from the Lower Eocene Fur Formation of Denmark" (PDF). Palaeontology. 51 (3): 575–582. doi:10.1111/j.1475-4983.2008.00777.x.
- ^ Dyke, GJ; Cooper, JH (2000). "A new psittaciform bird from the London clay (Lower Eocene) of England". Palaeontology. 43 (2): 271–285. Bibcode:2000Palgy..43..271D. doi:10.1111/1475-4983.00126.
- ^ Ksepka, Daniel T.; Clarke, Julia A.; Grande, Lance (2011). "Stem Parrots (Aves, Halcyornithidae) from the Green River Formation and a Combined Phylogeny of Pan-Psittaciformes". Journal of Paleontology. 85 (5): 835–852. Bibcode:2011JPal...85..835K. doi:10.1666/10-108.1. ISSN 1937-2337. S2CID 86618579.
- ^ a b Cameron 2007, p. 43.
- ^ Toft, Catherine A.; Wright, Timothy F. (2015). Parrots of the Wild: A Natural History of the World's Most Captivating Birds. Oakland, California: University of California Press. tr. 14. ISBN 978-0-520-23925-8.
- ^ Ball, V. (1889). "Further Notes on the Identification of the Animals and Plants of India, Which Were Known to Early Greek Authors". Proceedings of the Royal Irish Academy. 1: 1–9. JSTOR 20503820.
- ^ Schrader, O. (1890). Prehistoric antiquities of the Aryan Peoples: A manual of comparative philology and the earliest culture. Being the "Sprachvergleichung und Urgeschichte" translated by Frank Byron Jevons. London: Charles Griffin and Co. tr. 270.
- ^ "Popinjay Definition & Meaning - Merriam-Webster". Merriam-Webster. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2023.
- ^ Dunning, John B. Jr., biên tập (2008). CRC Handbook of Avian Body Masses (ấn bản thứ 2). CRC Press. ISBN 978-1-4200-6444-5.
- ^ Sweat, Rebecca. "Powerful Bird Beaks". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2016.
- ^ Demery, Zoe P.; Chappell, J.; Martin, G. R. (2011). "Vision, touch and object manipulation in Senegal parrots Poicephalus senegalus". Proceedings of the Royal Society B. 278 (1725): 3687–93. doi:10.1098/rspb.2011.0374. PMC 3203496. PMID 21525059.
- ^ Brennand, Emma (ngày 2 tháng 2 năm 2011). "Parrots prefer 'left handedness'". BBC Earth News. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2011.
- ^ Martin, Rowan O; Perrin, Michael R; Boyes, Rutledge S; Abebe, Yilma D; Annorbah, Nathaniel D; Asamoah, Augustus; Bizimana, Dieudonné; Bobo, Kadiri S; Bunbury, Nancy; Brouwer, Joost; Diop, Moussa S; Ewnetu, Mihret; Fotso, Roger C; Garteh, Jerry; Hall, Philip (ngày 2 tháng 9 năm 2014). "Research and conservation of the larger parrots of Africa and Madagascar: a review of knowledge gaps and opportunities". Ostrich. 85 (3): 205–233. Bibcode:2014Ostri..85..205M. doi:10.2989/00306525.2014.948943. ISSN 0030-6525. S2CID 55821856.
- ^ Bradford, Alina (2014). "Parrot Facts: Habits, Habitats and Species". LiveScience. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2016.
- ^ Forshaw, Joseph M. (1989). Parrots of the World (ấn bản thứ 3). London: Blandford Press. ISBN 978-0-7137-2134-8.
- ^ "Pygmy parrots". BBC Nature. 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2016.
- ^ Bonaparte, C. L. (1850). Conspectus Generum Avium (bằng tiếng La-tinh). Lugduni Batavorum.
- ^ Heads, Michael (2012). Molecular Panbiogeography of the Tropics. Quyển 4. Berkeley, California: University of California Press. tr. 296. ISBN 978-0-520-27196-8.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Steadman
- ^ Cameron 2007, p. 86.
- ^ Steve Baldwin. "about the Wild Parrots of Brooklyn". BrooklynParrots.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2013.
- ^ Mayer-Hohdahl, Alexandra (ngày 22 tháng 8 năm 2015). "Exotic parakeets set hearts, dread aflutter in Brussels". Gulf Times. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Butler05
- ^ Sol, Daniel; Santos, David M.; Feria, Elías; Clavell, Jordi (1997). "Habitat Selection by the Monk Parakeet during Colonization of a New Area in Spain". Condor. 99 (1): 39–46. doi:10.2307/1370222. JSTOR 1370222. S2CID 88376216.
- ^ Kalodimos, Nicholas P. (2013). "First Account of a Nesting Population of Monk Parakeets, Myiopsitta monachus With Nodule-shaped Bill Lesions in Katehaki, Athens, Greece" (PDF). Bird Populations. 12 (1–6).
- ^ "Red-crowned Parrot". American Bird Conservancy. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2019.
- ^ Benham, W. B. (1906). "Notes on the Flesh-eating Propensity of the Kea (Nestor notabilis)". Transactions of the Royal Society of New Zealand. 39: 71–89.
- ^ Juniper, Tony; Mike Parr (2010). Parrots: A Guide to Parrots of the World. A & C Black. tr. 21. ISBN 978-1-4081-3575-4.
- ^ Carolyn Wilke (ngày 30 tháng 1 năm 2024). "Parrots Use Their Beaks to Swing Like Monkeys". The New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2024.
- ^ a b c Collar, N. (1997). "Family Psittacidae (Parrots)". Trong del Hoyo, J.; Elliott, A.; Sargatal, J. (biên tập). Handbook of the Birds of the World. Quyển Sandgrouse to Cuckoos. Barcelona: Lynx Editions. ISBN 978-84-87334-22-1.
- ^ Diamond, J (1999). "Evolutionary biology: Dirty eating for healthy living". Nature. 400 (6740): 120–1. Bibcode:1999Natur.400..120D. doi:10.1038/22014. PMID 10408435. S2CID 4404459.
- ^ Gartrell, B; Jones, S; Brereton, R; Astheimer, L (2000). "Morphological Adaptations to Nectarivory of the Alimentary Tract of the Swift Parrot Lathamus discolor". Emu. 100 (4): 274–9. Bibcode:2000EmuAO.100..274G. doi:10.1071/MU9916. S2CID 86013058.
- ^ Schweizer, Manuel; Güntert, Marcel; Seehausen, Ole; Leuenberger, Christoph; Hertwig, Stefan T. (2014). "Parallel adaptations to nectarivory in parrots, key innovations and the diversification of the Loriinae". Ecology and Evolution. 4 (14): 2867–83. Bibcode:2014EcoEv...4.2867S. doi:10.1002/ece3.1131. PMC 4130445. PMID 25165525.
- ^ "Golden-winged Parakeet (Brotogeris chrysoptera)". World Parrot Trust. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2016.
- ^ Jackson, J. R. (1962). "Do Keas Attack Sheep?" (PDF). Notornis. 10 (1).
- ^ Greene, Terry (November–December 1999). "Aspects of the ecology of Antipodes Parakeet (Cyanoramphus unicolor) and Reischek's Parakeet (C. novaezelandiae hochstetten) on Antipodes Island" (PDF). Notornis. 46 (2). Ornithological Society of New Zealand: 301–310. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2011.
- ^ Cameron 2007, p. 114–116.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên doi10.1080/14772019.2010.505252
- ^ Rowley, I. (1997). "Family Cacatuidae (Cockatoos)". Trong del Hoyo, J.; Elliott, A.; Sargatal, J. (biên tập). Handbook of the Birds of the World. Quyển 4. Barcelona: Lynx Editions. ISBN 978-84-87334-22-1.
- ^ Oren, David C.; Novaes, Fernando (1986). "Observations on the golden parakeet Aratinga guarouba in Northern Brazil". Biological Conservation. 36 (4): 329–337. Bibcode:1986BCons..36..329O. doi:10.1016/0006-3207(86)90008-X.
- ^ Sanchez-Martinez, Tania; Katherine Renton (2009). "Availability and selection of arboreal termitaria as nest-sites by Orange-fronted Parakeets Aratinga canicularis in conserved and modified landscapes in Mexico". Ibis. 151 (2): 311–320. doi:10.1111/j.1474-919X.2009.00911.x.
- ^ Heinsohn, Robert; Murphy, Stephen; Legge, Sarah (2003). "Overlap and competition for nest holes among eclectus parrots, palm cockatoos and sulphur-crested cockatoos". Australian Journal of Zoology. 51 (1): 81–94. doi:10.1071/ZO02003. S2CID 83711585.
- ^ Pell, A; Tidemann, C (1997). "The impact of two exotic hollow-nesting birds on two native parrots in savannah and woodland in eastern Australia". Biological Conservation. 79 (2): 145–153. Bibcode:1997BCons..79..145P. doi:10.1016/S0006-3207(96)00112-7.
- ^ a b Eberhard, Jessica (2002). "Cavity adoption and the evolution of coloniality in cavity-nesting birds". Condor. 104 (2): 240–7. doi:10.1650/0010-5422(2002)104[0240:CAATEO]2.0.CO;2. ISSN 0010-5422. S2CID 59455644.
- ^ Iwaniuk, A. N.; Nelson, J. E. (2003). "Developmental differences are correlated with relative brain size in birds: a comparative analysis". Canadian Journal of Zoology. 81 (12): 1913–28. Bibcode:2003CaJZ...81.1913I. doi:10.1139/z03-190.
- ^ Emery, Nathan J. (2006). "Cognitive ornithology: the evolution of avian intelligence". Philosophical Transactions of the Royal Society B: Biological Sciences. 361 (1465): 23–43. doi:10.1098/rstb.2005.1736. PMC 1626540. PMID 16553307.
- ^ Beynon, Mike (tháng 4 năm 2000). "Who's a clever bird, then?". BBC News. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2007.
- ^ Cussen, Victoria A.; Mench, Joy A. (2015). Wicker-Thomas, Claude (biên tập). "The Relationship between Personality Dimensions and Resiliency to Environmental Stress in Orange-Winged Amazon Parrots (Amazona amazonica), as Indicated by the Development of Abnormal Behaviors". PLOS ONE. 10 (6): e0126170. Bibcode:2015PLoSO..1026170C. doi:10.1371/journal.pone.0126170. PMC 4482636. PMID 26114423.
- ^ Pepperberg, Irene M. (1988). "Comprehension of "Absence" by an African Grey Parrot: Learning with Respect to Questions of Same/Different". Journal of the Experimental Analysis of Behavior. 50 (3): 553–564. doi:10.1901/jeab.1988.50-553. PMC 1338917. PMID 16812572.
- ^ Dunayer, Joan (2013). Corbey, Raymond; Lanjouw, Annette (biên tập). The Politics of Species: Reshaping our Relationships with Other Animals. New York: Cambridge University Press. tr. 33. ISBN 978-1-107-03260-6.
- ^ Patterson, Dianne K.; Pepperberg, Irene M.; Story, Brad H.; Hoffman, Eric A. (1997). "How parrots talk: Insights based on CT scans, image processing, and mathematical models". Trong Hoffman, Eric A. (biên tập). Medical Imaging 1997: Physiology and Function from Multidimensional Images. Proceedings of the SPIE. Quyển 3033. tr. 14–24. Bibcode:1997SPIE.3033...14P. doi:10.1117/12.274039. S2CID 108771414.
- ^ BirdLife International (2018). "Psittacus erithacus". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2018: e.T22724813A129879439. doi:10.2305/IUCN.UK.2018-2.RLTS.T22724813A129879439.en. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2021.
- ^ Cruickshank, A; Gautier, J; Chappuis, C (1993). "Vocal mimicry in wild African Grey Parrots Psittacus erithacus". Ibis. 135 (3): 293–9. doi:10.1111/j.1474-919X.1993.tb02846.x.
- ^ Anthes, Emily (ngày 12 tháng 5 năm 2024). "Can Parrots Converse? Polly Says That's the Wrong Question". The New York Times. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Choosing a New Pet Bird". Petco. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
- ^ Grindol, Diane (2013). "Budgie Vs. Cockatiel – Which Right For You?". Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
- ^ Ward, Sam (ngày 21 tháng 12 năm 1992). "USA Snapshots: Most Popular Pets". USA Today. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009.
- ^ a b "Pet Birds, Parrots, Cockatiels, Macaws, Conures, Parakeets Care". BirdChannel. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
- ^ The National Parrot Sanctuary. "The National Parrot Sanctuary – Europe's Only Dedicated Parrot Zoo". parrotsanctuary.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2008.
- ^ Noeth, Gay; Johnson, Sibylle. "Biting: The Sharp Beak". Avian Web: Beauty of Birds. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
- ^ Patt, Jill M. "Bird Behavior and Training". Avian Web: Beauty of Birds. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
- ^ Leisure, Susan. "How Long can a Parrot Live?". The nest. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016.
- ^ a b "Winston's obscene parrot lives on". BBC News. 2004. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016.
- ^ Tweti, Mira (2008). Of Parrots and People (ấn bản thứ 1). New York: Viking Penguin. ISBN 978-0-14-311575-5.
- ^ "The Truth About Parrots as Pets". In Defense of Animals. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
- ^ Kelly, Denise; Rae, Joan; Menzel, Krista (2007). "The True Nature of Parrots". Avian Welfare Coalition. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2016.
- ^ Vallery, Anna (tháng 1 năm 2015). "The Truth About the Exotic Bird Trade Will Make You Rethink Buying a Parrot in the Pet Shop". One Green Planet. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016.
- ^ Lowther, Jason; Cook, Dee; Roberts, Martin (ngày 5 tháng 8 năm 2002). Crime and Punishment in the Wildlife Trade (PDF). World Wildlife Federation. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2007.
- ^ Soucek, Gayle (2008). Gouldian Finches. Barron's Educational Series. tr. 7. ISBN 978-0-7641-3850-8.
- ^ "New rules for captive bird imports to protect animal health in the EU and improve the welfare of imported birds". European Commission: Press Release Database. 2015. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2016.
- ^ "EU Permanently Bans Import of Wild Birds". Defenders of Wildlife. tháng 1 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- World Parrot Trust — Saving Parrots Worldwide
- Parrots, Macaws and Allies Lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine
- Parrot videos on the Internet Bird Collection
| Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn | |
|---|---|
| Quốc tế |
|
| Quốc gia |
|
| Khác |
|
| Thẻ nhận dạng đơn vị phân loại |
|
|---|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giải phẫu học |
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Hành vi |
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Tiến hóa |
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Hóa thạch |
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Tương tác với người |
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Danh sách |
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Từ khóa » Két Vẹt
-
Cách Phân Biệt Két,vẹt - Agriviet
-
Chim Két (Vẹt) ăn Gì? Cách Nuôi Két Mỏ đen, Mỏ đỏ Biết Nói
-
Chim Vẹt Xanh, Vẹt Yến Phụng Biết Nói Giỏi, Giá Rẻ Toàn Quốc
-
Con Vẹt Và Con Két - Thủ Thuật, Tin Tổng Hợp Thế Giới
-
Con Két Có Phải Là Con Vẹt Không
-
Vẹt Con Chim Két Con 1 Triệu đồng Ai Mua Không - YouTube
-
Độc đáo “bộ Sưu Tập” Chim Vẹt Trị Giá Hơn Nửa Tỷ đồng - YouTube
-
Pet School Shop - VẸT VÀ KÉT CÓ GÌ KHÁC NHAU ??? Thật Ra...
-
(Két) Vẹt Ngực Hồng - PetXinh
-
Vẹt Ngực Hồng - Chim Két | Đặc Điểm Nổi Bật, Cách Nuôi & Chăm ...
-
Bột Cho Vẹt Con , Két , Ngực Hồng , Xích Con ăn..- Hand Feeding Food ...
-
Xích Chân Chim Vẹt Ngực Hồng ( Két). | Shopee Việt Nam