BỐN NHIỆM KỲ LO HẠT “GẠO TÁNH LINH”

HÀ THANH TÚ

Ký kết hợp tác giữa Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long với UBND huyện Tánh Linh

1.

Tánh Linh và câu chuyện thủy lợi

“Lên thì lên sớm nghe. Chiều thứ Sáu đi vắng rồi”, giữa những ngày tháng ba năm nay, Võ Văn Ty, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tánh Linh, nhắn tôi.

15 năm với những chuyến đi về Tánh Linh, tôi quen Ty, một anh chàng ngoài năm mươi, da ngăm ngăm, vẻ mặt cương nghị từ lúc nào.

Ty có lần kể: “Nói tới Tánh Linh trước đây là nói tới cá và lúa. Nhà Ty nhìn ra cánh đồng lớn, một phần của thung lũng La Ngà. Những năm cuối thập kỷ 70 thế kỷ trước, đồng lớn cá nhiều vô kể. Đầu đêm cắm chiếc cần câu ven ruộng, sáng ra y rằng sẽ được cá tràu, nhẹ bằng cổ tay, lớn bằng bắp chân người lớn. Còn cá rô thì vô thiên lủng!. Chỗ nào trũng, lấy rổ tre xúc thẳng một đường (chớ dùng tay) thì khó mà đếm hết có bao nhiêu con rô trong rổ…”.

Nói chung, anh chàng Ty rất yêu vùng quê mình đang sống và thông qua anh chàng, tôi biết thêm về nông nghiệp Tánh Linh, chuyện bao công khó nhọc để làm ra hạt “gạo Tánh Linh” của ngày hôm nay. .

Ty kể: “Giữa năm 2003, sau một buổi họp, anh Đoàn Sáu, Bí thư Huyện ủy Tánh Linh khóa V, nhiệm kỳ 2000 - 2005, vẫn chưa rời phòng họp ngay mà nói với anh Nguyễn Hữu Trí, khi ấy là Phó Bí thư huyện ủy: “Thấy người ta khen gạo Đồng Tháp Mười, tui mong Tánh Linh mình cũng có loại gạo ngon như vậy, ông Trí à. Những ngày kháng chiến, ở trên Núi Ông, ông nhớ không, có lúc hai đứa mình nhìn xuống đồng Tánh Linh, ao ước bữa nào đó được ăn bữa cơm gạo dẻo đồng bằng. Tui nhớ có lần ngồi trên mõm đá cơ quan Tỉnh ủy, đón ngọn gió đồng thổi lên, ông tưởng tượng trong gió có mùi thơm lúa chín, rồi ước được về đi gặt với bà con một buổi. Vì yêu cánh đồng mà tụi mình vượt qua gian khổ chiến tranh, cũng như bây giờ gắn bó với đất này”. Anh Trí cười tủm tỉm. Anh Sáu tiếp: “Bây giờ yên hàn rồi, Tánh Linh vẫn chưa có loại gạo đó, dù đồng đất đây có tới 41.000 ha đất nông nghiệp, nhưng chỉ gieo trồng khoảng 30.000 ha trong đó 24.000 ha lúa, 5.000 ha bắp lai và 1.000 ha đậu các loại, bố trí chủ yếu là vụ đông xuân, vụ hè thu và vụ mùa. Trong đó nhu cầu tưới cho vụ đông xuân và vụ mùa là rất lớn. Hạt gạo làm ra được chỉ tiêu thụ trong huyện, thua cả hạt gạo huyện Hàm Thuận Bắc, nghĩ mà buồn!”. Lan man chuyện gạo, hai anh nhớ trước đó huyện có Nghị quyết 08/2003 về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nhưng xem ra mức chuyển chưa mạnh. Anh Trí đề nghị nên ra tiếp một Chỉ thị tập trung vào thủy lợi, thủy nông, chuyển đổi mùa vụ….Anh Sáu gật đầu. Chỉ thị đó về sau được gọi là Chỉ thị 15, ngày 31/3/ 2003, xác định: Trong khi chờ đợi Nhà nước xây đập dâng Tà Pao, Tánh Linh dốc sức xây dựng các trạm bơm điện ven sông La Ngà, gắn với giao thông nội đồng. Chủ động quy hoạch 3.000 ha lúa chất lượng cao trong toàn huyện; mở rộng vùng tưới chủ động; đưa vụ Đông Xuân trở thành vụ tưới ổn định… Khi triển khai Chỉ thị xuống các xã, Thị trấn, những cán bộ như Ty, sáng làm việc văn phòng, chiều đi cơ sở, lắm khi ở lại đêm, giải thích những vướng mắc của dân, của những người có ruộng bị trưng dụng một phần cho việc xây trạm bơm, cho kênh chính đi qua. “Chỉ thị 15 ngày đó là cách “nghiêng sông đổ nước vô đồng của Tánh Linh”; trận chiến giữa con người với thiên nhiên dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy nhiệm kỳ 2000 -2005”, Ty nói.

2.

Nhiệm kỳ 2005-2010 và khâu giống

Quá trình nghiêng sông đổ nước vô đồng, làm ra hạt gạo chất lượng cao của Tánh Linh kéo dài trong mấy nhiệm kỳ huyện Đảng bộ tiếp theo. Năm 2009, một năm trước khi thi công đập dâng Tà Pao, cung cấp nước cho hơn 20.000 ha đất nông nghiệp ở Tánh Linh, Đức Linh và cấp nước sinh hoạt cho 150.000 dân trong vùng dự án, Đảng bộ Tánh Linh khóa VI, nhiệm kỳ 2005 - 2010, đánh giá Chỉ thị 15, kết luận: “Trong 6 năm qua, Tánh Linh xây được 15 trạm bơm, đập tự chảy. Diện tích tưới chủ động năm 2003 chỉ có 952 ha, đến năm 2009 là 10.155 ha, tăng hơn 9.000 ha. Đã quy hoạch 3.000 ha lúa chất lượng cao và trong giai đoạn này dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy về tập trung thay đổi bộ giống, sử dụng giống lúa chất lượng cao, nông dân dần sử dụng giống lúa xác nhận (thay lúa thịt làm giống như trước) có nguồn gốc từ Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long. Từ cuối 2005 trở đi có sự liên kết lâu dài với Viện lúa để được hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật sản xuất những giống lúa mới, chất lượng cao. Tánh Linh cũng khoanh vùng, thành lập các HTX sản xuất lúa giống cung cấp tại chỗ cho nông dân với giá thành rẻ”. Hôm dự đánh giá Chỉ thị 15, Võ Văn Ty lâng lâng trong lòng. Anh cảm thấy những ngày mưa gió đi cơ sở, những đêm đi về khuya khoắt đã ở lại phía sau. Thay vào đó, đến cuối năm 2010, cả huyện có 70% diện tích lúa sản xuất bằng giống lúa xác nhận. Năng suất bình quân 50 tạ/ ha, hứa hẹn những năm sau năng suất càng tăng. Vì vậy, năm 2010, khi được phân công làm Bí thư Gia An, xã có tới 70% là diện tích đất lúa và hoa màu, Ty tâm sự với nhiều người: “Gia An đang nắm trong tay tài nguyên bản địa màu mỡ, nếu biết làm sẽ giàu lên”. Ty tham gia họp bàn sản xuất với bà con, nghe bà con tính toán cách làm. Những lúc ấy anh thấy mình trẻ lại, yêu đất, thêm yêu con người Gia An, cũng qua đó học được nhiều kinh nghiệm sản xuất của bà con. Dạo đó, ngoài việc sản xuất bằng giống tốt, nhiều người Gia An còn ký hợp đồng bán thóc cho các công ty thu mua theo hình thức “liên kết 4 nhà”. Kết quả nhìn chung khả quan. Tuy vậy, cũng có đôi chút lo lắng. Hôm ấy, một chị gõ cửa phòng anh, nói ngay: “Tụi tui nghe anh, ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, nhưng đồng tui gặt hai ngày rồi, chồng tui cũng tới gặp nhân viên thu mua báo cho họ biết nhưng họ vẫn không tới thu thóc là sao?”. Nhẹ nhàng nhưng nặng chịch. Anh hẹn sẽ trả lời người phụ nữ. Khi chị ta đi rồi, Ty gọi điện hỏi đại diện công ty và nhận được câu trả lời: Mấy năm rồi năng xuất lúa Gia An có nơi lên 6,5 tấn/ha. Nhưng thời vụ gieo cấy không đồng nhất. Thời điểm thu hoạch cứ rải ra, rất dài. Có hôm, công ty đưa xe tới nhưng chỉ thu được một ít, lại phải chờ đợi, lãng phí nhân công và xe máy. Vì vậy, công ty cứ phải hẹn chị phụ nữ. Trước lúc ngắt máy, đại diện công ty nói thêm: “ Khổ lắm anh Ty, có người cam kết sản xuất gạo chất lượng cao, dùng phân hữu cơ, nhưng sau đó lén lút dùng phân vô cơ nhằm kiếm thêm rơm. Mỗi xe rơm trên dưới 20 triệu đồng là khoản thu đáng kể đó chứ. Bằng kinh nghiệm có được, công ty tụi em ngại mua lúa những người như vậy”.

3.

Nhiệm kỳ 2010 - 2015 và chuyện phân hữu cơ

Năm 2013, Võ Văn Ty quay về làm Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nhiều hôm đi thăm đồng về, Ty tự hỏi: “Làm cách nào để giảm tình trạng người ký hợp đồng làm lúa chất lượng cao nhưng lén lút bón phân vô cơ? Nếu phần lớn cánh đồng sản xuất bằng phân hữu cơ, chắc chắn hạt gạo làm ra sẽ dễ tiêu thụ vì thời đại bây giờ con người ta đang hướng đến sản phẩm sạch. Nhưng nói cách nào để mọi người hiểu ra hở trời? Không dễ dàng chút nào! Và nữa, đa phần con người ta đều có máu tham. Vì vậy cái chuyện nông dân “bẻ kèo” khi thóc ngoài thị trường được giá như mình được nghe là chuyện thật chứ không ai đặt điều, thêm thắc…? Nhiều ngày trôi qua, Ty cứ phải trả lời câu hỏi mình đặt ra. Bởi vậy, khi vào một cuộc họp cấp ủy nhiệm kỳ 2010 - 2015, anh phát biểu thẳng thắn mà không sợ ai đó nói mình làm nổi. Anh nói: “Qua mấy năm hình thành đồng lúa chất lượng cao, sản lượng thóc tăng khá, nhưng sẽ không bền vững, nếu trong nông dân có người còn chạy theo lợi nhuận, bất chấp tất cả. Phải xây dựng cánh đồng lớn, sản xuất gạo hữu cơ, gắn với những quy định, quy chuẩn nghiêm ngặt nhằm bảo đảm chất lượng hạt gạo, cũng như liên kết tiêu thụ sản phẩm”.

Những điều Ty phát biểu hôm đó, từ lâu nhiều thành viên cấp ủy đã nghe nói, tìm hiểu. Đều thấy rằng con đường nông nghiệp Tánh Linh đi lâu nay là hợp thời. Đúng với cái nghĩa nắm bắt tốt xu thế cuộc sống. Bởi vậy khi giơ tay biểu quyết, nhiều thành viên cấp ủy khóa VII, tán thành điều Ty nêu, đồng tình: “Tập trung xây dựng cánh đồng lớn trong vùng quy hoạch gạo chất lượng cao 3.000 ha, gắn với ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm”. Thế nhưng thế nào là cánh đồng lớn? Ty lại phải giải thích. Đó là một nét tập trung ruộng đất (mỗi cánh đồng lớn phải đạt 50 ha trở lên, thuộc đất một xã hoặc nhiều xã) nhằm khắc phục tình trạng sản xuất manh mún. Trong sản xuất thì cùng làm đất, cùng bơm tưới, cùng xuống giống trong một thời điểm, cùng loại giống, cùng chăm sóc và cùng thu hoạch để có sản lượng hàng hóa lớn và đồng bộ về phẩm cấp gạo. Muốn vậy, phải đầu tư giao thông nội đồng theo hướng tập trung, bởi có giao thông mới dễ đưa cơ giới vào đồng ruộng; đáp ứng khâu làm đất đồng loạt và điều tiết thủy lợi đồng bộ hơn. Mặc khác, khi diện tích lớn hơn đòi hỏi phải thay đổi hình thức tổ chức sản xuất cho phù hợp, như là hình thành HTX hoặc Tổ hợp tác để có người chỉ huy chung, đứng ra đại diện ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, bởi DN ko mua lẻ tẻ đến từng hộ nhỏ lẻ. “Tui nhớ hoài, từ năm 2016, Tánh Linh triển khai thí điểm nhiều mô hình sản xuất an toàn theo hướng hữu cơ để vừa cải tạo đất vừa có sản phẩm chất lượng cao theo nghĩa an toàn trong tiêu dùng . Như vậy có thể nói khái niệm cánh đồng lớn ở Tánh Linh là sự chuyển tiếp từ khóa VII sang khóa VIII. Nhờ sự cố gắng trong một số năm, toàn huyện có 1200 ha sản xuất theo dạng cánh đồng lớn/3.000 ha đồng lúa chất lượng cao được bao tiêu sản phẩm”. Ty nói.

Thăm lúa

4.

Nhiệm kỳ 2015 - 2020, gạo hữu cơ và liên kết tiêu thụ

Thế nhưng lần này lên Tánh Linh, tôi không gặp Ty. Cô Trần Lưu Vy, Phó trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giải thích: Trước đó vài giờ, Ty cùng Chủ tịch UBND huyện vào Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long ở Cần Thơ tái ký hợp đồng chuyển giao kỹ thuật canh tác và giống mới.. Vy vừa mời khách ngồi vừa dí dỏm: “Anh mà chờ anh Ty… mọc râu ổng mới về. Nếu muốn nghe chuyện gạo Tánh Linh thì em nói vì đây là chuyện từ sếp tới lính trong phòng đều nằm lòng”. Theo Vy, nhiệm kỳ 2015 - 2020, huyện Tánh Linh, chuyện thâm canh lúa, làm ra hạt gạo chất lượng cao xúc tiến mạnh hơn. Trên cơ sở Nghị Quyết đã có, Tánh Linh khuyến khích các địa phương sản xuất gạo hữu cơ gắn với liên kết tiêu thụ. Đơn vị đầu tiên làm gạo hữu cơ là xã Đức Phú.

Đó là một xã nằm trên đường đi Tà Pứa, ra ngã ba Bà Sa (Lâm Đồng). Cánh đồng Đức Phú chạy ven sông La Ngà, một bên là nhánh của Trường Sơn Nam. Năm 2017, Vy kể, xã này ký hợp đồng với công ty Gạo Việt sản xuất 50 ha lúa quy trình hữu cơ và sẽ thu mua toàn bộ sản phẩm. Đây là sự thay đổi tập quán sản xuất đầu tiên tại Tánh Linh và có sự thành công nhất định.

Đông Xuân 2017 - 2018, HTX DVNN Đức Bình, đơn vị thứ hai sản xuất gạo hữu cơ, chủ động liên kết với cơ sở Đức Lan gắn nhãn hiệu “Gạo Tánh Linh” được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp chứng nhận, tiêu thụ. Đây cũng là nơi sản xuất các giống lúa: Đài thơm 8, ST24, RVT, OM 5451…Trong lúc nói chuyện, cô Trần Lưu Vy mang ra hai bị gạo đóng bao, giải thích: 9 thành viên của HTX Đức Bình đã “dồn điền” để sản xuất gạo hữu cơ. Trong sản xuất chỉ dùng phân hữu cơ vi sinh bón lót, phân hữu cơ hoai mục bón trong giai đoạn làm đòng. Cây lúa phát triển chậm, nhưng hạt thóc chắc, vàng ruộm, xay ra gạo trắng như sữa, có mùi thơm, nấu cơm rất lâu thiu. Bình quân mỗi năm, HTX sản xuất 2 vụ, sản lượng 70 - 80 tấn/năm. Hiện tại, gạo thơm của HTX Đức Bình (còn gọi là gạo Đức Lan) 28.000 đồng/kg, gạo đặc sản 26.000 đồng/kg, thơm Đài Loan 25.000 đồng/kg và gạo dẻo 17.000 đồng/kg, so với các loại gạo ngoài thị trường, giá cao hơn nhưng vẫn có người mua. Đơn vị thứ ba sản xuất gạo hữu cơ là HTX Hưng Thịnh – Thị trấn Lạc Tánh, thành lập năm 2018, liên kết sản xuất 150 ha lúa hữu cơ gắn tiêu thụ sản phẩm với các xã Măng Tố, Đức Bình….. Gạo Hưng Thịnh cũng gắn logo nhãn hiệu “Gạo Tánh Linh”. Gần đây, Hưng Thịnh chủ động liên kết với huyện Bắc Bình, sản xuất mấy trăm ha gạo chất lượng cao và dĩ nhiên đơn vị này nhận bao tiêu sản phẩm.

Sau hơn hai mươi năm, qua 4 nhiệm kỳ, gạo Tánh Linh đã có chỗ đứng ở thị trường miền Trung và Tây Nguyên. Riêng Phan Thiết, gạo hữu cơ Tánh Linh được ưa chuộng với một lượng khá đại lý. “Anh biết vì sao em có gạo hữu cơ giới thiệu với nhà báo không? Một, do đơn vị sản xuất gởi biếu; hai, đơn vị sản xuất gởi tại đây một ít hàng vì dạo này, người của tỉnh, huyện bạn tới đây họp đều hỏi mua gạo Tánh Linh.”

Đúng lúc đó, điện thoại cô Phó phòng reo. Võ Văn Ty gọi điện thông báo: Chủ tịch huyện Giáp Hà Bắc vừa ký xong biên bản tiếp tục hợp tác giữa UBND huyện Tánh Linh với Viện Lúa cho một hướng đi dài hạn của gạo Tánh Linh. Đây là chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tánh Linh lần thứ IX ( 2020 - 2025) trong việc hình thành các HTX chất lượng cao, liên kết sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển…

Trước khi kết thúc, Ty hỏi Vy tôi lên chưa? Nếu lên thì chờ Ty về vì chuyện hạt gạo Tánh Linh còn lắm chuyện viết, nhất là khi Chủ tịch huyện Tánh Linh, anh Giáp Hà Bắc muốn đưa hạt gạo đi xa hơn, với khát vọng lớn hơn. Và nữa, gần đây, một số doanh nghiệp xuất khẩu gạo để mắt tới hạt gạo Tánh Linh.

…Vy nói tôi đang chờ rồi cười. Người phụ nữ này có cái nhìn, giọng nói rất chân thành. Tôi nghĩ rồi nhìn ra cánh đồng bên kia con đường nhựa chạy ngang qua trung tâm huyện. Ở đây, từ mấy năm nay, chuyện chờ mưa sản xuất ít còn ai nhắc tới vì có hệ thống thủy lợi, tính chung dài hàng chục km đáp ứng nước rồi. Tánh Linh thật sự là miền quê nông nghiệp khi mà diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng gấp 2 lần năm 1995. Sản lượng lương thực đạt trên 185.000 tấn/ năm, gấp 3 lần so với năm 1995, trong đó gạo hữu cơ mang nhãn hiệu “gạo Tánh Linh” chiếm lượng không nhỏ. Nếu phải nói một lời, tôi nói: “Gạo Tánh Linh” rồi đi rất xa với một cách làm khoa học và hiệu quả trong những nhiệm kỳ tới.

Từ khóa » Cơm Niêu Hưng Thịnh La Ngà