Ca Dao Học - Website Của Nguyễn Chí Thành
Có thể bạn quan tâm
Đăng nhập / Đăng ký Em khỏe ko, lâu rồi ko thấy em lên Facebook... Tiền lương của mẹ năm nay so với năm ngoái... ... năm ngoái tiền lương của mẹ là 7500000 đồng 1... 58-10=48(số) ... thầy giúp em với ạ. em cảm ơn thầy ạ... có bao nhiêu số tự nhiên có hai chữ... AI = 2/3*AE => S(ADI) = 2/3*S(ADE) => S(ADE) =... vòi thứ nhất chảy riêng 1 giờ thì được $$frac{1}{4}$$... có tất cả 9 x 8 = 72 số chẵn... 1 giờ 12 phút = $$frac{6}{5}$$ giờ => Hai vòi... Có 8 x 8 x 7 x 6 = 2688... Cạnh hình vuông: 240 : 4 = 60 (cm) Diện... 720=9x8x2x5 => số tự nhiên nhỏ nhất: 2589... 2114355 truy cập (chi tiết) 336 trong hôm nay 4630482 lượt xem 391 trong hôm nay 681 thành viên
- Trang chủ
- Thành viên
- Trợ giúp
- Liên hệ
Giao lưu bạn bè
Đăng nhập
Tên truy nhập Mật khẩu Ghi nhớ   Quên mật khẩu ĐK thành viênTài nguyên dạy học
CHÍ THÀNH VUI CHÀO
1 khách và 0 thành viênXIN GỞI LẠI LỜI NHẮN
Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Thông tin
- Giới thiệu chung
- Thành tích
- Chia sẻ kinh nghiệm
- Lưu giữ kỷ niệm
- Hình ảnh hoạt động
- Soạn bài trực tuyến
Điều tra ý kiến
Bạn thấy trang này như thế nào? Đẹp Bình thường Đơn điệu Ý kiến khác Gốc > Tri thức > Ca dao - tục ngữ > Ca dao học >Tạo bài viết mới Ca dao Học
Ai đi đâu đấy hỡi ai? () Hãy về học tập , một mai em chờ Ai ơi chớ lấy chồng chung Chồng chung hai vợ một mùng Day qua con vợ nọ, chọc khùng con vợ kia Ai ơi đừng (chớ) lấy học trò () Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm Ngày thời cắp sách đi rong Tối về lại giữ đèn chong một mình Ai ơi giữ phép nước ta Ai ơi thương lấy dân nhà một tông, Có hậu dưỡng mới phú phong Kẻ cày người cấy, sống trong thái bình Kẻ, nho lo việc học hành Mai sau chiếm bảng, nức danh trên trời Kẻ buôn thì được lắm lời Tàng vương chi thị tứ thời bán mua Kẻ công ai cũng tranh đua Làm nghề chạm vẽ: phượng rùa, long, ly Tứ dân mỗi nghiệp mỗi nghề Nhờ trời đều được, gặp khi thái hòa Toàn dân vang khúc dao ca Ai xui em lấy học trò Thấy nghiêng bút mảng mà lo mà gầy Ăn chanh ngồi gốc cây chanh () Bác mẹ gả ép (bán) cho anh học trò Anh về học kỹ chữ nhu Ba năm em đợi, mười thu em chờ Anh về ráng học chữ nhu Chín trăng em đợi, mười thu em chờ Ầu ơ Bồng bống bông bông Lớn lên con phải cố học hành Học là học đạo làm người, Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền, Chỉ phiền một nỗi nợ với duyên không tròn Ầu ơ Mười hai giờ kiểng đổ nhà thờ Sao anh không học đặng nhờ tấm thân Bước sang tháng chín giá chân Tháng một nằm trần, bức đổ mồ hôi Con chuột kéo cày liên hồi Con trâu hốc gạo vào ngồi trong cong Vườn rộng thì thả rau rong Ao sâu giữa đồng vãi cải làm dưa Đàn bo bơi lội đến trưa Một đàn gà vịt đi bừa ruộng nương Voi kia nằm ở gầm giường Cóc đi đánh giặc bôn phương nhọc nhằn Chuồn chuồn thấy cám thì ăn Lợn kia thấy cám vùng vằng bay qua Trơi mưa cho muỗi bắt gà Đòng đong, cân cấn đuổi cò xôn xao Lươn nằm cho chúm bò vào Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô Thóc giống cắn chuột trong bồ Một trăm cây mạ đuổi vồ con trâu Chim chích cắn cỏ diêu hâu Gà con tha quạ biết đâu mà tìm. Bước vào phòng học gọi chồng Trở ra sắp gánh sắp gồng ra đi. Không đi thì chợ không đông Đi ra một bước thương chồng nhớ con Cả làng có một thầy đồ Dạy học thì ít, bắt cua thì nhiều Thương thầy, trò cũng muốn theo Trò sợ thầy nghèo bán cả trò đi Anh mau thức dậy học bài Mong cho anh sớm thành tài Trước làm đẹp mặt nở mày mẹ cha Sau là không phụ tình ta bao ngày Anh ở đợ ba năm không tiền dư ăn miếng kẹo Em lại thân nghèo chọc ghẹo làm chi ? Anh về đi học cho ngoan Để em cửi vải kiếm quan tiền xài Bàn tay còn có ngón dài ngón vắn Con một nhà đứa trắng đứa đen, Hễ ăn vóc học quen, Dẫu họ chê mình vụng, tập rèn cũng phải hay Biết nhau từ thuở hàn vi Dù phải lận đận khi đi khi về Nhớ xưa cùng học một nghề Cùng thầy cùng bạn chớ hề quên nhau! Bống bồng bông Màn Đông Tử gối Ôn Công Lớn lên em phải ra công học hành Làm trai gắng lấy chữ danh Thi thư nếp cũ trâm anh dấu nhà Hỡi ha ha Chị nay chút phận đàn bà Tam tòng tứ đức phận là nữ nhi Mong em khôn lớn kịp thì Năm xe làu thuộc Canh một dọn cửa dọn nhà Canh hai dệt cửi canh ba đi nằm. Bước sang cái trống canh năm, Trình anh dậy học còn nằm làm chỉ Nữa mai chúa mở khoa thi, Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh. (có ghi tên mình) Bõ công cha mẹ sắm sanh, Sắm nghiên sắm bút cho anh học hành (*) hoặc: Tiền lưng gạo bị cho anh vào trường Đơn vị đo thời gian của Việt Nam ta ngày xưa xem: Trống Canh Trống Canh Canh tư bước sang canh năm Trình anh dậy học chớ nằm làm chi Nửa mai chúa mở khoa thi Bảng vàng chói lọi, trên đề tên anh Cậu kia cắp sách đi đâu Cậu học chữ Tầu hay học chữ Tây? Học chữ Tây không tiền không việc, Học chữ Tầu ai biết ai nghe Chi bằng về chốn thôn quê Cấy cày còn được no nê có ngày Con ơi ham học chớ đùa Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo Cây ngô (vông) đồng không không trồng mà mọc Con gái xóm này chẳng chọc mà theo Cây ngô đồng không trồng mà mọc Gái chưa chồng anh chọc anh chơi (*) Có bản khác: Thấy em chưa chồng anh chọc anh chơi Con ơi siêng học kẻo thua Mai mốt mẹ cho lên chùa ăn oản ăn xôi Cây vông (ngô) đồng không trồng mà mọc Con gái xóm này chẳng chọc cũng theo Dã tràng xe cát bể (biển) đông () Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì Đàn ông học sảy học sàng Đến khi vợ đẻ phải làm mà ăn Con cậu cậu nuôi thầy cho (*) Cháu cậu, cậu bắt chăn bò chăn trâu Có bản khác: Con cậu cho học nho Chữ quốc ngữ vần i tờ Ai ơi hãy học đừng lờ chữ ta Chưa từng chưa gửi chưa đeo Đã từng, đã gửi, nhạt nhèo như không Đã theo về việc canh nông, Dù mưa dù nắng một lòng chẳng thay Đã ăn ớt chẳng sợ cay Bây giớ khổ nhọc có ngày thảnh thơi! Cơm cha áo mẹ chữ thầy Gắng công mà học có ngày thành danh Con ơi học lấy nghề cha Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm Con ơi mẹ bảo con này Học buôn học bán cho tày người ta Con đừng học thói chua ngoa Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười Dù no dù đói cho tươi Khoan ăn bớt ngủ liệu bài cho toan Phòng khi đóng góp việc làng Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng Trước là đắc nghĩa cùng chồng Sau là họ mạc cũng không chê cười Con ơi, nhớ bấy nhiêu lời ! Họ hàng xóm giềng Công cha nghĩa mẹ cao dày Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ Nuôi con khó nhọc đến giờ Trưởng thành con phải biết nhờ song thân Dạy con từ thuở tiểu sinh Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi Học cho "cách vật trí tri" Văn chương chữ nghĩa nghề gì cũng thông What's learned in the craddle lasts till the tomb; OR: Train up a child in the way he should go "Cách vật trí tri" cũng giống khoa học thực nghiệm thời nay Đèn Sài Gòn (Cầu Tàu) ngọn xanh ngọn đỏ Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu Anh về học lấy chữ nhu Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ Xem bài đọc thêm: Chợ Sàigòn Đi một ngày đàng Học một sàng khôn Đi ngày đàng sàng khôn học được Bước chân ra một bước một hay Phân tro, không bằng no nước Ngày xưa chưa có phân hóa học nông dân dùng phân tro hay phân xanh Kẻ ăn người ở trong nhà Sớm khuya công việc giúp (đỡ) ta nhọc nhằn Thương người đày đọa chút thân Chớ nên ngược đãi lòng nhân mới là Khôn thì trong trí lượng ra Dại thì học lóm người ta bề ngoài Không đi thì dạ không đành Đi ra thì bỏ tơ mành ai quay Không đi thì nhớ thì thương Ra đi lên động xuống truông nhọc nhằn. Gió đánh (đặp) cành đa Thầy tưởng rằng ma Thầy ù thầy chạy Ba thằng ba gậy Đi đón thầy về Bắt con lợn sề Cho thầy chọc tiết Bắt con cá diếc Cho thầy bóc mang Bát con tôm càng Cho thầy bóc vỏ Lấy đôi đũa đỏ Cho thầy gải lưng Bóc đồng bánh chưng Cho thầy chấm mật Có bản khác: Đom đóm bay qua Em thời canh cửi trong nhà Nuôi anh đi học chiếm khoa bảng vàng Trước là vinh hiển tổ đường Bỏ công đèn sách lưu gương đời đời Em có chồng sao em không nói? Để anh theo anh chọc em hoài Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay! Gặp đời Hải Yến Hà Thanh Bốn dân trăm họ gặp lành, ấm no Nay mừng điển hội cầu nho Văn nhân sỉ tử, phải lo học hành Làm sao cho được công danh Bỏ công bác mẹ sinh thành ra thân Lại bàn đến việc nông dân cày mây cuốc gió, chuyên cần công phu Đêm thời cỏ phúc nhi du Ngày thời kích nhưỡng khang cù vô ngu Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói Hễ ăn thì vóc hễ học thì quen Dẫu họ chê vụng tập rèn phải hay Hò ơ Hỏi anh anh nói học trò Sao em lại thấy... (ờ) Hò ơ... Sao em lại thấy anh cỡi bò hôm qua Hò ơ Tiếng anh ăn học làu thông Hỏi anh có biết... (ờ) Hò ơ... Hỏi anh có biết khăn lông mấy đường - Hò ơ... Em về đếm hết cỏ vườn Lại đây anh nói... (ờ) Hò ơ... Lại đây anh nói khăn lông mấy đường cho em nghe! Học cao không muốn tranh giành Những người học ít ưa sanh sự phiền Học hành ba chữ lem nhem Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua Học hành thi cử mà chi Sáng sáng ăn no, tối ngủ khì Học hành thì ít vào thân Chức cao quyền trọng dần dần theo sau Học là học đạo làm người Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê Học trò ăn vụng cá kho Bị thầy bắt được đánh mo lên đầu Học trò ăn vụng càng cua Bà thầy bắt được, tôi mua tôi đền Học trò đèn sách hôm mai Ngày sau thi đỗ nên trai mới hào Làm nên quan thấp, quan cao Làm nên vọng tía võng đào nghênh ngang Học trò đi học đã về Cơm canh chưa nấu lại trề môi ra Học trò đi mò cơm nguội Lỡ trượt vỏ dưa, té cái đụi, la trời Học trò học trỏ học tro Đi chưa tới chợ đã lo ăn hàng Học trò thò lò mũi xanh Ăn vụng bánh đúc chạy quanh nhà thầy Học trò trong Quảng (*) ra thi Thấy cô gái Huế bỏ (chân) đi không đành Quảng Nam, Quảng Ngãi Hỏi anh - anh nói học trò Sao em lại thấy anh cỡi bò hôm qua ? Khó thay công việc nhà quê Cùng (Suốt) năm khó nhọc dám hề khoan thai Tháng Chạp thì mắc trồng khoai Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà Tháng Ba cày vỡ ruộng ra Tháng Tư bắc mạ thuận hòa mọi nơi Tháng Năm gặt hái vừa rồi Bước sang tháng Sáu nước trôi đầy đồng Nhà nhà vợ vợ chồng chồng Đi làm ngoài đồng sá kể sớm trưa Tháng sáu tháng Bảy đi bừa Vun trồng giống lúa bỏ chừa cỏ tranh Tháng tám lúa trổ đã đành Tháng Mười cắt hái cho nhanh kịp người Khó khăn làm mấy tháng trời Lại còn mưa nắng bất thời khổ công Cắt rồi nộp thuế nhà công Từ rày mới được yên lòng ấm no Kìa ai học sách thánh hiền Lắng tai nghe lấy cho chuyên ân cần Khăn anh nàng lấy vá vai Bây giờ nàng đã nghe ai dỗ dành? Chẳng nên ra, tháo chỉ lấy mụn trả anh Để anh đem bán lấy hai trăm vàng. Một trăm anh đưa cho nàng Còn một trăm nữa để chàng treo ngọn cây đa Chứ em không nhớ lời thề nguyện với ta Sông có Nhị Hà,núi có Tản Viên Bây giờ, nàng ở thế sao nên Tôi khấn Nam Tào, Bắc Đẩu biên tên rành rành. Đã yêu anh, thời quyết với anh Nhà tre, cót nứa, lợp tranh vững vàng. Chớ tham nhà gỗ bức bàn Gỗ lim chẳng có, làm xoàng gỗ vông. Chỉ nhọc mình thôi lại luống công Phòng khi gỗ mục, lại dùng nhà trẹ Còn duyên anh bảo chẳng nghe ! Mặt trời lặn xuống bờ ao Có con cò mẹ bay vào bay ra Cò con đi học đường xa Thẩn thơ chỗ nọ la cà chỗ kia Tối rồi (Đi đâu) mà chẳng chịu về Cơm canh mẹ đợi còn gì là ngon Làm người mà được khôn ngoan Cũng nhờ học tập, mọi đàng mọi hay Nghề gì ta có trong tay Cố công rèn luyện, có ngày thành công! Làm thơ mà dán cây chanh Trai bỏ học hành, gái bỏ bán buôn Nay mừng điển hội cầu nho Văn nhân sỉ tử, phải lo học hành Làm sao cho được công danh Bỏ công bác mẹ sinh thành ra thân Lại bàn đến việc nông dân Cày mây cuốc gió, chuyên cần công phu Đêm thời cỏ phúc nhi du Ngày thời kích nhưỡng khang cù vô ngu Làm trai cố chí học hành Lập nên công nghiệp để dành mai sau Làm trai học đạo Thánh hiền Năm hằng đã trễ, ba giềng chớ sai Làm trai học sẩy học sàng Đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn Làm trai nết đủ trăm đường Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay Công cha, đức mẹ cho dày Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ Nuôi con khó nhọc đến giờ Trưởng thành con phải biết thờ hai thân Thức khuya dậy sớm cho cần Quạt nồng ấp lạnh giữa phần đạo con Mặc ai chác (chuốc) lợi mua danh Miễn ta học đặng đạo lành thì thôi Mặc ai chuốc lợi mua danh Riêng ta học được đạo lành là hơn. Lơ thơ tơ liễu buông mành Con oanh học nói trên cành mỉa mai Em nghĩ mình emcó cúc bạc đeo tai Cúc bạn thì có, trâm cài thì không Tóc em xanh, em vấn lộn khăn hồng Quần lãnh thâm đôi ba cái, đôi má hồng nhởn nhơ Mừng nay nho sĩ có tài Bút nghiên dóng dả, giữ mài nghiệp nho Rõ ràng nên đấng học trò Công danh hai chữ trời cho rõ ràng Một mai chiếm được bảng vàng Ấy là phú quý giầu sang quế hòe, Bước đường tiến đến cống nghè Vinh quy bái tổ, ngựa xe tưng bừng Bốn phương nức tiếng vang lừng Ngao du bể thánh, vẫy vùng rừng nho Quyền cao chức trọng trời cho Bõ công học tập, bốn mùa chúc minh! Mười hai giờ kiểng đổ nhà thờ Sao anh không học đặng nhờ tấm thân ? Nào ai học được chữ ngờ Thà rằng ở vậy để chờ kiếp sau! Mưa từ trong Quảng mưa ra (câu ) Tháng năm tháng sáu mưa dài Bước sang tháng bảy tiết trời mưa ngâụ Nhớ ai như vợ chồng Ngâu Một năm mới gặp mặt nhau một lần. Tháng tám mưa khắp xa gần Bước sang tháng chín đúng tuần mưa rơị Tháng mười mưa ít đi rồi Nắng hanh trời biếc cho tươi má hồng. Một chạp là tiết mùa đông Mưa phùn đêm vắng trong lòng lạnh thay Bài mưa anh đã học đây Mối tình rào rạt đêm chầy như mưa Ai ơi chớ lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm Hay nằm thời có võng đào, Dài lưng thời có áo bào nhà vua Hay ăn thời có gạo kho (sẵn thóc mấy kho), Việc (Lo) gì mà chẳng ăn no lại nằm Nay mừng tứ hải đồng xuân Tam dương khai thái, muôn dân hòa bình Sĩ thời chăm việc học hành Một mai khao bảng đạt thành công danh Công thời phượng các long đình, Đủ nghề phát triển, thỏa tình lợi thâu Nông thì cuốc bẫm, cày sâu Thu hà, hạ mạch, tăng thâu co ngày Thương thời buôn bán liền tay Dứt tài tử cống, đua tài hiên ngang (ai tầy cho đa Ba công cố gắng mở mang Tri thanh, danh toại, giầu sang hơn người Muôn nghìn (Ai ơi) chớ lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm. Nam mô Bồ tát Chẻ lạt đứt tay Đi cày trâu húc Đi xúc phải cọc Đi học thầy đánh Đi gánh đau vai Nằm dài nhịn đói Nghe tin anh học có tài Đào tiên một cõi, thiên thai ai vào Thiên thai là của nàng Kiều Riêng chàng Kim Trọngsớm chiều vào ra! Nghe tin anh nói nhọc nhằn Mẹ cho trái mít anh mần cả xơ Nghìn muôn chớ lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm Dài lưng đã có võng đào Tốn vải đã có áo bào vua cho Hay ăn đã có của kho Tội gì mà chẳng ăn no lại nằm ? Nhọc nhằn chẳng muốn ăn khoai Luộc một nồi bộng, lựa hai củ sùng Nhọc nhằn nỏ muốn ăn khoai Nấu một nồi bộng, lựa hai củ sùng Đánh một tiếng tùng Của sùng cũng hết Nhỏ còn thơ dại biết chi Lớn thì đi học, học thì phải siêng Theo đòi cũng thể bút nghiêng Thua em kém chị cũng nên hổ mình Người khôn nhọc lo Người dại ăn no lại nằm. Ở bầu hình dáng nên tròn Xấu tốt thì đều rắp một khuôn Lân cận nhà giàu no bữa cốm Bạn bè kẻ trộm phải ăn đòn Chơi cùng đứa dại nên người dại Kết với người khôn học nết khôn Sống nới đẳng thấp, thành đẳng thấp Muốn đen gần mực, đỏ gần son! Quả cau nho nhỏ Cái vỏ vân vân, Nay anh học gần, Mai anh học xạ Tiền gạo thì của mẹ cha Cái nghiên cái bút thật là của em Quả cau nho nho cái vỏ vân vân Nay anh học gần, Mai anh học xa Lấy nhau từ thuở mười ba Đến năm mười tám thiếp đà năm con. Ra đường người nghĩ còn son Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng. Quả cau nho nhỏ cái vỏ vân vân () Nay anh học gần, mai anh học xa Tiền gạo thì của mẹ cha Cái nghiên cái bút thật là của em Quý hồ nhiều lúa là tiên Rõ ràng phú túc, bình yên cả nhà Bốn mùa xuân lại thu qua Muốn cho thóc lúa đầy nhà hán sương Bước sang hạ giá thu tàn Thu thu tiền hoạch, giầu sang Thạch Sùng Quý nhân dùng kẻ anh hùng Rắp toan muốn hỏi nhà nông ê hề Thật là chân chỉ thú quê Chuyên cần học nghiệp, học nghề đoan trang Gặp thời là được thọ khang Tam đa ngũ phúc, rõ ràng trời cho! Rắp toan cỡi ngựa ra về Chàng đề câu đối thiếp đề câu thơ. Mải vui ngồi chốn đám cờ Tưởng nhân duyên ấy bao giờ cho quên. Chàng về giữ việc bút nghiên Đừng tham nhan sắc mà quên học hành. Một mai chiếm được khoa danh Trước là rạng nghiệp sau mình vinh thân. Rủ nhau đi cấy đi cày Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưụ Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừạ Rủ nhau đi học i o Mỗi ngày một chữ, con bò cũng thông Thân anh khó nhọc trăm phần Sáng đi ruộng lúa, tối nằm ruộng dưa Vội đi quên cả cơm trưa Vội về quên cả trời mưa ướt đầu Thấy anh ăn học Sài Gòn Tôi đây xin hỏi trăng tròn mấy đêm Anh đứng giữa trời không dám nói thêm Trăng rằm mười sáu hai đêm trăng tròn Xem bài đọc thêm: Chơ. Saigòn Tiếng anh ăn học cựu trào () Chị dâu té giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên - Nắm đầu thì khổ Nắm cổ lại không nên Nắm chân tay thì lỗi niềm huynh đệ Vậy anh cứ "bớ làng là hơn" Câu đố nầy dựa vào quan điểm "nam nữ thụ thụ bất tương thân" Tháng giêng lúa mới chia vè Tháng tư lúa đã đỏ hoe đầy đồng. Chị em đi sắp gánh gồng Đòn càn tay hái ta cùng ra đị Khó nghèo cấy mướn gặt thuê Lấy công đổi của chớ hề luy aị Tháng hai cho chí tháng mười Năm mười hai tháng em ngồi em suy Vụ chiêm em cấy lúa đi Vụ mùa lúa ré, sớm thì ba giăng. Thú quê rau cá đã từng Gạo thơm cơm trắng chi bằng tám xoan. Việc nhà em liệu lo toan Khuyên chàng học tập cho ngoan kẻo mà. Tháng sáu em cấy anh bừa Tháng mười em gặt anh đưa cơm chiềụ Tháng năm cho chí tháng mười Năm mười hai tháng em ngồi em suy: Vụ chiêm em cấy lúa đi Vụ mùa, lúa dé, sớm thì ba trăng, Thú quê, rau cá đã từng Gạo ngon, cơm trắng chi bằng tám xoan Việc nhà em liệu lo toan Khuyên chàng học tạp cho ngoan kẻo mà Thầy đi học đạo làm chi Tương chao có biết hơn gì hay không ? Thú quê rau cá đã từng Gạo thơm cơm trắng chi bằng tám xoan Việc nhà em liệu lo toan Khuyên chàng học tập cho ngoan kẻo mà Con ăn con ngủ cho no Con lẫ con chửng con bò con đi Ngày sau con học con thi Mẹ mong con đỗ mẹ thì nhờ con Tiếng anh nho sĩ học trò Sao anh cạn dạ không dò ý em Trai thì đi học đỗ ba khoa liền Khoa trước thì đỗ khôi nguyên Khoa sau tiến sĩ đỗ liền ba khoa Vinh qui bái tổ về nhà Ăn mừng hai họ đủ ba tháng chày Hàng phủ, hàng huyện đông tây Rủ mừng quan trạng tới ngày hiển vinh Trách lòng em bậu đãi đưa Gạt anh dãi nắng dầm mưa nhọc nhằn Trên trời có đám mây vàng Bên sông nước chảy có nàng quay tơ. Nàng buồn nàng bỏ quay tơ Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành. Nàng buồn nàng bỏ cửi canh Chàng buồn chàng bỏ học hành chàng đi. Triều đình còn chuộng thi thư Khuyên anh đèn sách sớm trưa học hành. May nhờ phận có công danh Mà anh phú quý, ấy mình vẻ vang Khuyên đừng trai gái loang toàng Khuyên đừng chè rượu nữa mang tiếng người. Cũng đừng cờ bạc đua chơi Sao cho sự nghiệp ra người trượng phu. Làm sao nên tiếng danh nho Thần trung, tử hiếu để cho vang lừng! Trời mưa cho ướt lá riềng Mua giấy mua bút mua nghiên học hành. Chàng về em gửi đôi chanh Trái chín nhuộm áo, trái xanh gội đầu. Văn chương (Thông ngôn) phú lục chẳng hay Trở về làng cũ học cày cho xong Ngày ngày vác cuốc thăm đồng Hết nước thì lấy gàu sòng tát lên. Hết mạ ta lại quẩy thêm Hết lúa ta lại mang tiền đi đong. Nay mai lúa tốt đầy đồng Gặt về đập sảy bõ công cấy cày. Một yêu mặt trắng má tròn Hai yêu môi mọng thoa son điểm hồng Ba yêu mắt sáng mày cong Bốn yêu mái tóc nực nồng nước hoa Năm yêu mảnh áo ngắn tà Sáu yêu quần trắng là đà gót sen Bảy yêu vóc liễu dịu mềm Tám yêu giọng nói vừa hiền vừa vui Chín yêu học thức hơn người Mười yêu, yêu cả đức tài hình dong! Tại Sài Gòn vào năm , trong truyện dài bằng thơ Lời Tâm Sự của Thuần Phong đăng trên tạp chí Cùng Bạn, cũng có một bài thơ giễu nhẹ các cô tân thời: Xin chàng kinh sử học hành Để em cày cấy cửi canh kịp người Mai sau xiêm áo thảnh thơi Ơn trời lộc nước đời đời hiển vinh Em thì canh cửi việc nhà Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng Trước là vinh hiển tổ đường Bõ công đèn sách lưu hương con nhà Rước vinh quy về nhà bái tổ Ngả trâu bò làm lễ tế vua Họ hàng ăn uống say sưa Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai Trời làm tháng sáu giá chân Tháng một nằm trần nóng đổ mồ hôi Con chuột kéo cày lồi lồi Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong Vườn rộng thì thả rau rong Ao sâu giữa đồng vãi cải làm dưa Con bò đi tắm ban trưa Một đàn con vịt cày bừa ruông nương Con voi nằm ở gầm giường Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn Chuồn chuồn thấy cám liền ăn Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua Trời mưa cho mối bắt gà Thòng đong con cấn đuổi cò lao xao Lươn nằm cho trúm bò vào (*) Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô Thóc giống cắn chuột trong bồ Lá lúa lá mạ đuổi vồ chân trâu Chim chích cắn cổ diều hâu Gà con tha qua biết đâu mà lần Cầy cáo thì đuổi chó săn Một đàn con chuột đuổi ăn con mèo Trúm: Ống tre bẫy lươn Trèo lên cây khế nửa ngày Ai làm chua xót lòng này khế ơi! Khế chết khế lại mọc chồi Để sung mọc nhĩ để hồi đeo hoa (*) Đôi bên bác mẹ cùng già Lấy anh hay chữ để mà cậy trong Mùa hè cho chí mùa đông Mùa nào áo ấy cho chồng đi thi Hết gạo thiếp lại gánh đi Hỏi thăm trường học vậy thì nơi nao Hỏi thăm đến ngõ thì vào Tay cắp thúng gạo miệng chào thưa anh Trong thì mặc áo đào xanh Ngoài thì bươm bướm bay quanh dập dìu Gỗ cây sung mọc nấm tai mèo; (Bác mẹ là cha mẹ) Vịt nằm bờ mía rỉa lông Cám cảnh thương chồng ăn học đường xa Dốt đến đâu học lâu cũng biết Lợi đâu không biết lại thiệt vào thân Hơn nhau tấm áo manh quần Thả ra mình trần ai cũng như ai Thứ nhất Ba Gia Thứ hai Tú Xuất Tráo trưng lưng bát ngồi mát bát đầy Khéo miệng mà chả khéo tay Đẽo cày ra cuốc còn hay nỏ mồm Hai người đứng đầu về châm biếm chuyên trêu chọc giới quan quyền và người đời Muốn hành nghề, chẳng nề học hỏi Năng ăn năng đói năng nói năng làm Thế gian họ nói chẳng lầm Lụa là tuy trang,vứng cầm cũng đen Chưa học bò đã lo học chạy Vén mây mù mới thấy trời xanh Gươm linh sứt cán còn trành (*) Bình hương dẫu vỡ mẻ sành còn thơm Learn to creep before you leap Trành là chắn tay ở cán gươm Trượt vỏ dưa vỏ dừa phải tránh (phải trợt) Học khôn đi lính học tính đi buôn Chữ rằng: "Họa phúc vô mô" Tìm giầu thì dễ tìm khôn khó tìm The scalded dog fears cold water. OR: Once bitten, twice shy, OR: Many men many minds Trên trời có cái cầu vồng Kẻ Chợ Cầu Muống Kẻ Đông Cầu Dền Vua (Việc) trên đền cầu tiền cầu bạc Các lái buôn cầu nước cầu non Đôi ta cầu của cầu con Con đẹp giống mẹ con dòn giống cha Con gái dệt cửi trong nhà Con trai đi học đỗ ba khoa liền Con lớn thì đỗ trạng nguyên Hai con tiến sĩ đỗ liền cả ba Vinh quy bái tổ về nhà (*) Bõ công đèn sách mẹ cha nuôi thầy (*) Vốn em chỉ có "Thâm Chầy" Anh cho "Tắc lái" cho đầy quan năm Buôn trầu đếm cuốn bán trăm Mưa dầm gió bấc, em nằm em lo Thi đậu vua ban võng lọng về quê ăn mừng; Nuôi thầy là ngày xưa trường học chưa phổ biến, cha mẹ phải rước thầy về nuôi trong nhà để dạy con học hành; Tắc lái là tiến lóng của lái buôn trâu bò chỉ ba tiền, quan hai Ai về Phú Lộc gửi lời Thư nầy một bức nhắn người tri âm Mối tơ chín khúc ruột tằm Khi tháng tháng đợi khi năm năm chờ Vì tình ai lẽ làm lơ Cắm sào quyết chí đợi chờ bến xuân Ước sao chỉ Tấn tơ Tần (*) "Sắc cầm hòa hợp" lựa vần "quan thư" (*) Đôi bên ý hiệp lòng ưa Đắp đền công thiếp lại vừa lòng anh Thiếp thời tần tảo cửi canh Chàng thì nấu sử xôi kinh kịp thì (*) Một mai chúa mở khoa thi (*) Bảng vàng chói lọi có đề tên anh () Tấn Tần: hai nước ở đời Xuân Thu bên Trung-quốc. Kẻ Tấn người Tần: mỗi người một xứ khác nhau; Trong Kinh Thi có câu: "Quan quan thư cưu" là như đôi chim thư cưu luôn luôn đi cặp đi đôi; Nấu sử xôi kinh là lo học hành để đạt công danh; Xem Đại Việt Sử Thi Đặi Việt Sử Thi () Có bản khác: Ấy là đề diệp tinh kỳ từ đây, Ai ơi nghe thiếp lời này. Trăm trâu trăm bó cỏ Trâu đứng ăn năm Trâu nằm ăn ba Nghé hoa ba con ăn một (*) Câu đố toán học - Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con Xin anh đi học cho ngoan Để em dệt cửi kiếm quan tiền dài. Quan tiền dài em ngắt làm đôi Nửa thì giấy bút nửa nuôi mẹ già. Vui đâu bằng hội đề danh Nghề nào bằng nghiệp học hành là hơn Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy xuôi Phu nhân thì có công nuôi Toàn gia hưởng phúc lộc trời ban ơn Mừng nay thái vũ xuân hồi Miệng dâng câu hát, hoan bồi cuọc vui! Mã nhật tượng điền xe liền pháo cách (*) Vô sư vô sách bất trách qủy thần (*) Mua lầm chớ bácn chẳng lầm Nết na con gái tiếng tăm thầy đồ Mã nhật… những cách đi con cờ tướng; Bất trach.. Nếu không có sach , không có thầy để học thì sơ xuất qủy thần cũng không trách Ông đồng ông chổi Hàng kẹo mạch nha Nào bà hàng quế Vừ đi vừ tế Một lũ học trò Người cầm quạt mo Là vợ ông Chỗi Trôi nổi mà lên Ba bề bốn lên Nổi lên cho chóng Chuông kêu trống gióng Cũng bước vào mà Bước lên giường cao Thấy gà mái ấp Bước xuống giường thấp Thấy con rồng chầu Bước ra đàng sau Thấy nhà mới lợp Trâu ông còn buộc Ngựa ông còn cầm Ông sống một trăm Mười lăm tuổi lẻ Ai về anh dặn lời này Phượng hoàng chỉ quyết đậu cây ngô đồng Song le còn chút ngại ngùng Biết rằng thầy mẹ thương cùng cho chăng? Nẻo xa thấp thoáng bóng trăng Cũng mong nhờ gió cát đằng (*) đưa dây Quảng Hàn cách mấy lần mây Để cho duyên hiệp đấy đây cho gần. Cát đằng: loài dây leo phải bám vào những cây to khác. Trong văn học cổ thường dùng cát đằng để chỉ sự phụ thuộc, lẽ mọn. () Quảng Han:nghìa gốc là rộng và lạnh, theo Long thành lục, vua Đường Minh Hoàng, nhân đêm rằm tháng tám, được nhà thuật sĩ làm phép lạ đưa lên mặt trăng chơi, thấy cửa vào cung trăng có biển đề "Quảng hàn thanh hư chi phủ" (cái phủ trống rỗng, trong suốt, lạnh và rộng) do đó Quảng Hàn, Cung Quảng Hàn, Cung Quảng, Cung Han,v.v`. đều dùng để chỉ mặt trăng. Ra về nhớ đến Chọc Cuôi Nhớ làng Thanh Thủy, nhớ người Lệ Sơn Anh đi bờ lở một mình Phất phơ chéo áo giống hình trò Ba Trò Ba đi học trường xa Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi Ách giữa đàng quàng vào cổ Tự nhiên chuốc lấy cái khó nhọc của người Ăn hóc học nên Ăn vóc học hay Ăn vóc học nên Bạch diện thư sinh Người học trò yếu ớt trói gà không chặt Bán tôm bán cá Đức tính hàm hồ, thiếu học thức Cách vật trí tri Chia tách sự vật ra rồi dùng trí suy luận để biết , phân tích đối tượng sự vật rồi dùng trí thức để tìm biết ra nguyên lý của nó, nghiên cứu của sách đại học là muốn trị quốc thì phải tề gia , tề gia thì phải tu thân , tu thân thì phải chỉnh tâm , chỉnh tâm thì phải thành ý , và sau cùng muốn thành ý , thì phải trí tri , mà muốn trí tri tất phải cách vật Ấu bất học lão hà vi Nhỏ mà không học, thì lớn lên không làm được trò trống gì Ấu nhi học tráng nhi hành Bác cổ học viện Trường chuyên khảo về cổ học Bất hiếu hữu tam Có ba điều bất hiếu : - không vâng lời cha mẹ -- không lo học hành --Không có con để nối dòng Bất học vô thuật Không học thì không thông thạo sự việc Bảy mươi còn học bảy mốt Bảy mươi học bảy mốt Cầm gậy chọc trời Càng học càng thấy dốt Chẳng hẹn mà gặp chẳng rắp mà nên Có bản khác: Chẳng học mà hay chẳng rắp mà nên Chẳng học mà hay chẳng cày mà biết Chọc bát cơm đơm bát cháo Chọc cứt không nên lỗ Chọc gậy bánh xe Chọc gậy xuống nước Chọc trời khuấy nước Chồng học trò vợ con hát Chưa học (Chưa tập) bò đã lo học (lo tập) chạy Chưa học làm xã đã hay ăn bớt Chưa làm xã đã học ăn bớt Có học mới biết có đi mới đến Con học thóc vay Con không học thóc không vay Con lên ba cả nhà học nói Con nhà giàu học giỏi đẹp trai Con ơi học lấy nghề bà Đại Nam hải nhai lão thơ sanh tánh Phan chi cữu Linh cữu của người học trò già họ Phan ở ven biển của nước Ðại Nam Đâm bị thóc thọc bị gạo Hay học thì sáng hay làm thì tối Đi bữa chợ học mớ khôn Đi học thầy đánh đi gánh đau vai Đi một buổi chợ học được mớ khôn Đi một đàng học một sàng khôn Đi một ngày đàng học một sàng khôn Hăm hăm hở hở nhọc thở hết hăm Học ăn học nói Học ăn học nói học gói học mở Học chẳng biết chữ cua chữ cò Nói những chữ như rồng như rắn Học chẳng hay cày chẳng biết Học chẳng hay thi may thì đỗ Học chọc bát cơm đơm chẳng kịp Học hay cày biết Học khôn đi lính học tính đi buôn Học mặc tài, thi mặc phận Học một biết mười Học nhiên hậu tri bắt túc Học như bất sư học hữu Học thầy không tày học bạn Học như gà đá vách Học như quốc kêu mùa hè Học sư bất như học hữu Học thày không tày học bạn Học tài thi phận Học thành danh lập Học thầy không tầy học bạn Học thì dốt vợ tốt thì muốn Học trước quên sau Hơn thóc nhọc xay Khám đường là học đường Là lượt là vợ thông lại nhễ nhại là vợ học trò Lắm thóc nhọc xay Lấy gậy chọc trời Mấy ai học được chữ ngờ Mưu con đĩ trí học trò Năm mới năm me Lấy que thọc đít Người bảy mươi học người bảy mốt Người khôn nhọc lo đứa dại ăn no lại nằm Người không học như ngọc không mài Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý Người mà không học khác gì đi đêm Nhân bất học bất tri lý Ngọc bất trác bất thành khí Người mà không học thì không biết gì ngọc mà không mài giũa thì viên ngọc không quí Nhất qủy nhì ma thứ ba học trò Nhọc l?ng mà chẳng nên công cán gì Thọc gậy bánh xe Trưởng giả học làm sang Thương cha chớ chọc ăn mày Tiên học lễ hậu học văn Tốt tóc nhọc cột nhà Trẻ lên ba cả nhà học nói Ưu đạo bất ưu bần Lo không học được đạo nghĩa chứ không lo nghèo khổ Vô học bất thuật Con ơi siêng học kẻo thua () Mai mốt lên chùa giỗ Bụt, Bụt thương Có bản khác: Vu Lan lên Chùa lạy Bụt thầy thương Chồng khôn thì nổi cơ đồ Chồng dại chồng tốn công phu, nhọc mình Công cha đức mẹ cao dày Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ Nuôi con khó nhọc đến giờ Trưởng thành con phải biết thờ song thân Ai lên Hương Tích cảnh thiền Dừng chân chiêm bái tôi khuyên đôi lời Hãy tin tiềm lực con người Đừng trông đừng đợi trên đời ngoài ta Cũng đừng học thói kiêu sa Khiêm cung cẩn trọng mới là chính tâm Lơ thơ tơ liễu buông mành Con oanh học nói trên cành líu lo Em nghĩ mình em cái cúc bạc lưu ly tai Cúc bạc tình chung thì có Cái trâm cài vốn không Cái tóc mây em vấn lộn khăn sồng Quần lĩnh hâm đôi ba chiếc Đôi má hồng em nhởn nhơ Sáng trăng suông Sáng cả vườn đào, sáng cả vườn chanh Ba bốn cô đằng ấy có cô nào còn không Có một cô thật đích cô chưa chồng Có cho anh ghé chút làm chồng nên chăng Cô mình về có nhớ chúng anh chăng Ta về chỉ nhớ cái hàm răng cô mình cười Mười quan anh chẳng tiếc, chỉ tiếc người răng đen Cái răng đen ai khéo nhuộm cho mình Để duyên cô mình đẹp Cho cái tình chúng anh yêu Trăm con như cái sợi chỉ đào Trăm con cái sợi chỉ ấy Nó cũng buộc vào cái tay anh (Còn tiếp) Đất Quảng Nam rộng đà ra sức rộng Đường ra kinh xa đã quá xa Nhắn tin cho tác giả Nguyễn Chí Thành @ 12:13 12/02/2012 Số lượt xem: 1738 Số lượt thích: 0 người   ↓ ↓ Gửi ý kiến * Website được thừa kế từ Violet.vn, người quản trị: Nguyễn Chí ThànhTừ khóa » Chồng Học Trò Vợ Con Hát Là Gì
-
Từ Điển - Từ Chồng Học Trò, Vợ Con Hát Có ý Nghĩa Gì - Chữ Nôm
-
Tục Ngữ, Ca Dao Về Quan Hệ Gia Dinh- Kỳ 6 - Văn Hóa
-
Thể Loại:Tình Huống – Ca Dao - Tục Ngữ Việt Nam
-
Từ Chồng đông Vợ đoài Là Gì - Tra Cứu Từ điển Tiếng Việt
-
Từ Chồng Giẫy Thì Lơ Chơ, Chồng Chờ Thì Lổng Chổng Là Gì
-
Ước Mơ Của Vợ Chồng Mù Hát Dạo Nuôi Con Xôn Xao Cộng đồng Mạng
-
Vợ Con Hát Nhớ Trần Lập Trong Sinh Nhật Bức Tường - VnExpress
-
Chồng Hất Cả Mâm Cơm Vào Mặt Vợ Con - VietNamNet
-
Ca Sĩ Cẩm Vân: 'Tôi Hạnh Phúc Vì Chồng Chiều Vợ Con'
-
Những Câu Thành Ngữ - Tục Ngữ Hay Về Vợ Chồng - Sách Hay 24H
-
Vợ Ca Sĩ Long Nhật: Chưa Bao Giờ Trách Chồng Về Những điều Tiếng ...