Cá Lăng đuôi đỏ – Wikipedia Tiếng Việt

Cá lăng đuôi đỏ có kích thước lớn nhất trong tất cả các loài cá thuộc họ Bgridae, Cùng với cá tra dầu và cá hô, cá lăng là loài cá nước ngọt có cỡ khá lớn. Thịt cá lăng đuôi đỏ trắng, dai, giòn và có hương vị đặc trưng. Ở Sêrêpôk có loại cá lăng đuôi đỏ khổng lồ mà chỉ một con thôi, cả làng ăn không hết thịt, có lắm con to dài hơn một người đàn ông lực lưỡng, cá lăng khủng nặng bảy tám chục ký lô[4]

Phần đầu

sửa

Cá lăng là cá có thân dài, đầu dẹp, da trần không có vảy, có 4 đôi râu với 1 đôi ở mũi, 1 đôi ở hàm và 2 đôi ở cằm. Loài này sống ở tầng giữa, sống đơn độc. Thân dài, phần đầu và thân trước dẹp bằng, phần sau dẹp bên, nhất là cuốn đuôi, đầu rất rộng và trơn, miệng dưới hơi rộng, hình cung tròn, môi thịt phủ trên hai hàm và nối liền ở gốc miệng, mắt trung bình, không phủ da, nằm chếch phía đỉnh đầu, có 4 đôi râu, râu mũi dài đến viền trước mắt, râu hàm trên gốc bẹt cứng kéo dài quá gốc vây hậu môn, râu cằm ngoài dài quá gốc vây ngực, râu cằm trong chưa tới hết nắp mang.

Hệ thống vây

sửa

Thân trần, đường bên hoàn toàn, chạy giữa chiều cao thân, thân màu xám nâu, phần lưng thẫm hơn phần bụng, bụng trắng nhạt, các vây đuôi, vây lưng, vây bụng, vây ngực và vây hậu môn đỏ và phần vây đỏ, phần màng hơi xám, đặc biệt vây đuôi rất đỏ, vây mỡ trắng xám, viền ngoài đỏ hồng. Vây lưng có khởi điểm trước khởi điểm vây bụng, gần mút mõm hơn gốc vây đuôi, gai vây lưng mảnh, phần gốc cứng, phần ngọn mềm, phía trên đều trơn nhẵn, cả hai phía đều có mấu, vây mỡ trung bình, viền sau tự do, chiều dài gốc vây mỡ bằng ½ lần chiều dài gốc vây hậu môn. Vây ngực có răng cưa cứng to dài, phía trước trơn nhẵn, phía sau nhiều răng cưa, vây bụng tròn, phía sau vượt quá hậu môn, vây hậu môn viền sau lõm, các tia không phân nhánh ngắn, các tia phân nhánh dài, vây đuôi phân thùy sâu, tia giữa ngắn, mút cuối hơi tròn.

Từ khóa » Cá Lăng đuôi đỏ Khủng