Cá Vồ Cờ – Wikipedia Tiếng Việt

Bước tới nội dung

Nội dung

chuyển sang thanh bên ẩn
  • Đầu
  • 1 Đặc trưng
  • 2 Tập tính
  • 3 Quan hệ với con người
  • 4 Hình ảnh
  • 5 Chú thích
  • 6 Tham khảo
  • Bài viết
  • Thảo luận
Tiếng Việt
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Công cụ Công cụ chuyển sang thanh bên ẩn Tác vụ
  • Đọc
  • Sửa đổi
  • Sửa mã nguồn
  • Xem lịch sử
Chung
  • Các liên kết đến đây
  • Thay đổi liên quan
  • Thông tin trang
  • Trích dẫn trang này
  • Tạo URL rút gọn
  • Tải mã QR
In và xuất
  • Tạo một quyển sách
  • Tải dưới dạng PDF
  • Bản để in ra
Tại dự án khác
  • Wikimedia Commons
  • Wikispecies
  • Khoản mục Wikidata
Giao diện chuyển sang thanh bên ẩn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Pangasius sanitwongsei
Tình trạng bảo tồn
Cực kỳ nguy cấp  (IUCN 3.1)[1]
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Siluriformes
Họ (familia)Pangasiidae
Chi (genus)Pangasius
Loài (species)P. sanitwongsei
Danh pháp hai phần
Pangasius sanitwongsei(H. M. Smith, 1931)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Pangasius beani Smith, 1931

Cá vồ cờ (danh pháp khoa học: Pangasius sanitwongsei) là một loài cá nước ngọt thuộc họ Cá tra (Pangasiidae) của bộ Cá da trơn (Siluriformes), sinh sống trong lưu vực sông Chao Phraya và Mê Kông. Loài cá này là cá ăn đáy.[2] Cá được mệnh danh là "thủy quái" trên dòng Mekong vì vóc dáng khổng lồ và sự hung hãn. Gọi là vồ cờ vì cái vây trên lưng cá vươn cao như ngọn cờ, lúc nó bơi, rẽ sóng như cá mập.[3] Hiện nay do tình trạng đánh bắt ngày càng cao của người dân nên số lượng cá vồ cờ ngày càng khan hiếm. Cá vồ cờ ở Việt Nam vừa được xếp vào danh sách top 100 loài động vật có nguy cơ bị đe dọa nhất thế giới.

Đặc trưng

[sửa | sửa mã nguồn]

Cá vồ cờ có lớp da nhuộm màu bằng các tế bào hắc tố sẫm màu. Nó có cái đầu rộng, bẹp, không ria. Phần bụng màu trắng bạc, uốn cong trong khi phần lưng màu nâu sẫm. Các vây lưng, bụng và chậu có màu xám sẫm và tia vây đầu tiên kéo dài ra như sợi chỉ. Cá thể trưởng thành có thể dài tới 3,0 m (12 ft) và cân nặng tới 293 kg (646 lb).[2] Theo Poulsen (2001) thì dường như có hai quần thể cá vồ cờ, bị chia cắt bởi thác Khone ở Champasak, Lào gần biên giới với Campuchia.

Tập tính

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cá thể nhỡ và trưởng thành có thức ăn là động vật giáp xác và cá. Cá vồ cờ là loài di cư. Nói chung nó đẻ trứng ngay trước khi vào mùa mưa.[2]

Quan hệ với con người

[sửa | sửa mã nguồn]

Việc đánh bắt loài cá này trước đây từng kèm theo là các nghi lễ mang màu sắc tôn giáo. Nó thường được nhắc tới trong các sách báo, phương tiện thông tin đại chúng. Loài cá này từng là một loại cá thực phẩm phổ biến và được tiếp thị như là sản phẩm sạch.[2] Đôi khi người ta cũng nuôi loài này trong các bể cá cảnh.

Hình ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Jenkins, A., Kullander, F.F. & Tan, H.H. (2007). Pangasius sanitwongsei. 2008 Sách đỏ IUCN. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế 2008. Truy cập ngày 2009-11-24.
  2. ^ a b c d Ranier Froese và Daniel Pauly (chủ biên). Thông tin Pangasius sanitwongsei trên FishBase. Phiên bản tháng tháng 3 năm năm 2007.
  3. ^ ""Thủy quái" trên sông Mekong". Thanh Niên Online. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Dữ liệu liên quan tới Pangasius sanitwongsei tại Wikispecies
Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Cá vồ cờ. Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Cá_vồ_cờ&oldid=71998060” Thể loại:
  • Loài cực kỳ nguy cấp theo Sách đỏ IUCN
  • Chi Cá tra
  • Cá Thái Lan
  • Động vật được mô tả năm 1931
  • Cá nước ngọt Malaysia
  • Động vật Đông Nam Á
Tìm kiếm Tìm kiếm Đóng mở mục lục Cá vồ cờ 29 ngôn ngữ Thêm đề tài

Từ khóa » Cá Vồ Cờ Khổng