Các Biện Pháp Xác định độ Mê - Bệnh Viện Vinmec - Suckhoe123
Có thể bạn quan tâm
- Trang chủ
- Thẩm mỹ
- Sức khỏe
- Nhóm
- Video
- Hình ảnh
- Bảng giá dịch vụ
- Kết nối bạn bè
- Tin thẩm mỹ - sức khỏe
- Tin tức
- Blog tổng hợp
- Blog thẩm mỹ
- Blog sức khỏe
- Liên hệ
- Công cụ
- Trắc nghiệm da...
- Thuật ngữ y khoa
- Từ điển y khoa
- Chỉ số BMI
- Công cụ tính BMR
- Trang thẩm mỹ
- Trang sức khỏe Giới thiệu Liên hệ Tài khoản Điều khoản sử dụng Hệ thống đang hoạt động thử nghiệm chờ cấp phép
- Chia sẻ ngay
- Chia sẻ lên bảng tin
- Chia sẻ lên trang bạn bè
- Chia sẻ vào nhóm
- Sao chép liên kết
- Quan sát lâm sàng
- Điện não đồ
- Đo nồng độ thuốc mê
- Độ 1: Được xác định thông qua việc quan sát được tĩnh mạch ngoại biên trương to lên, phản xạ nôn mửa mất dần. Giai đoạn này kéo dài từ cuối thời kỳ II đến khi nhãn cầu nằm giữa mắt.
- Độ 2: Giai đoạn này kéo dài từ lúc nhãn cầu ngừng di động đến khi các cơ liên sườn ngừng hoạt động, người bệnh thở ngực. Ở độ 2, khi người bệnh mất phản xạ co thắt thanh quản, bác sĩ bắt đầu rạch da để phẫu thuật. Khi gây mê sâu hơn, trương lực cơ sẽ tiếp tục giảm. Tuy nhiên, trương lực cơ cũng có thể tăng lên khi thiếu dưỡng khí, thừa thán khí.
- Độ 3: Người bệnh rất ít khi được duy trì ở độ mê này. Độ 3 được bắt đầu từ lúc giảm hoạt động cơ liên sườn đến mất hoạt động hoàn toàn, người bệnh hô hấp bằng thở bụng.
- Độ 4: Ở độ 4, người bệnh liệt hoàn toàn cơ liên sườn, ngưng thở tự nhiên và xuất hiện co kéo khí quản do độ mê quá sâu.
Các biện pháp xác định độ mê
Bác sĩ gia đình 21:10 +07 Thứ năm, 29/09/2022 Chia sẻ
1. Đôi nét về gây mê
Gây mê là thủ thuật được áp dụng nhằm giúp người bệnh giảm đau trong quá trình thực hiện các thủ thuật gây đau đớn mà người bình thường không thể chịu được, đặc biệt là phẫu thuật. Gây mê được thực hiện bằng cách đưa thuốc mê vào cơ thể đến khi người bệnh mất ý thức, rồi giảm dần nồng độ thuốc khi phẫu thuật được hoàn thành.
Vào năm 1846, sau khi trình bày về hiệu quả gây mê của ete, Morton đã được công nhận là người đầu tiên phát minh trị liệu gây mê. Năm 1847, sau khi áp dụng ete vào phẫu thuật, Plomley đã mô tả 3 giai đoạn của gây mê là ngộ độc, kích thích và mê sâu. 7 năm sau đó, John Snow mô tả 5 thời kỳ gây mê với ete và chloroform với các dấu hiệu phản xạ kết mạc, kiểu thở, cử động của nhãn cầu và sự ức chế cơ liên sườn.
Đầu những năm 1900, thuốc tiền mê được đưa vào sử dụng. Năm 1937, Guedel công bố các dấu hiệu lâm sàng của gây mê bằng ete gồm có trương lực cơ trơn, kiểu hô hấp và dấu hiệu mắt thành 4 thời kỳ.
Năm 1942, sự ra đời của thuốc giãn cơ. Năm 1954, Arturio mở rộng thời kỳ I của Guedel thành 3 độ với tên gọi lần lượt độ 1 là bệnh nhân không mất ý thức và giảm đau; độ 2 là bệnh nhân mất ý thức toàn bộ và giảm đau cục bộ, độ 3 là bệnh nhân hoàn toàn mất ý thức và giảm đau.
Đến năm 1987, Prys-Roberts đưa ra định nghĩa gây mê là trạng thái trong đó bệnh nhân không nhận thức được hoặc nhớ lại những kích thích có hại trong quá trình gây mê. Việc mất ý thức là một ngưỡng, theo quy luật tất cả hoặc là không.
2. Xác định độ mê
Có 3 phương pháp được áp dụng trong việc xác định độ mê gồm có:
2.1 Quan sát lâm sàng
Để xác định độ mê, người bệnh được theo dõi các thay đổi trong phản ứng sinh lý của cơ thể kể từ lúc gây mê nông đến gây mê sâu. Sắp xếp các phản ứng theo từng giai đoạn liên tiếp tương ứng với độ mê. Kỹ thuật này được coi là đơn giản và dễ thực hiện nhất.
2.2 Điện não đồ
Trong quá trình gây mê, người bệnh được gắn điện não đồ (EEG). Thông quan sát các chỉ số trên màn hình máy đo EEG, đặc biệt là chỉ số lưỡng phổ BIS, cho phép đánh giá mức độ thức tỉnh hoặc hôn mê của người bệnh. BIS chạy từ 0 - 99, BIS = 0 thì EEG yên lặng, BIS = 99 thì người bệnh tỉnh táo, tốt nhất là người bệnh nên được duy trì BIS = 40 đến 60. Kỹ thuật này khá phức tạp và tốn kém nên không được sử dụng rộng rãi.
2.3 Đo nồng độ thuốc mê
Người bệnh được xác định độ mê thông qua kiểm tra nồng độ thuốc mê trong máu động mạch hoặc qua hơi thở sau cùng thở ra. Tuy nhiên, mỗi người bệnh ở cùng nồng độ thuốc mê lại có phản ứng sinh lý khác nhau. Do đó, đây là kỹ thuật phức tạp, khó xác định và tốn nhiều thời gian, không được áp dụng rộng rãi.
3. Dấu hiệu và thời kỳ của độ mê
Các dấu hiệu và thời kỳ của độ mê của Guedel được mô tả như sau:
Thời kỳ I: Giảm đau
Thời kỳ của độ mê này kéo dài từ lúc được khởi mê đến khi người bệnh mất tri giác. Mặc dù gọi là thời kỳ giảm đau, nhưng người bệnh vẫn còn cảm giác đau.
Thời kỳ II: Mê sảng
Dấu hiệu để xác định độ mê trong thời kỳ II là người bệnh bắt đầu với trạng thái kích thích, vật vã và kết thúc khi hô hấp trở nên đều đặn, mất phản xạ mi mắt và hầu họng (trạng thái nôn mửa vẫn còn). Tuyệt đối không nên kích thích người bệnh trong thời kỳ này.
Thời kỳ III: Phẫu thuật
Thời kỳ phẫu thuật được chia làm 4 giai đoạn với 4 mức độ mê khác nhau:
Thời kỳ IV: Ngộ độc
Thời kỳ này bắt đầu từ lúc ngưng thở tự nhiên đến lúc trụy tuần hoàn, mọi phản xạ đều bị mất. Người bệnh cần được hồi sinh bằng cách giảm nồng độ thuốc mê trong máu và trong phổi ngay.
Xác định độ mê là công việc quan trọng trong quá trình gây mê để đảm bảo an toàn trong ca phẫu thuật, cũng như tính mạng cho người bệnh. Vì thế, trước khi thực hiện gây mê phẫu thuật để thăm khám điều trị thì người bệnh nên chọn các cơ sở y tế uy tín, có hệ thống vật tư y tế hiện đại.
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Ho Rát Họng Có Đờm Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
[Góc giải đáp] Viêm Phế Quản Có Lây Không? Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Triệu Chứng Ho Sốt Đau Họng Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Tìm Hiểu Và Phòng Tránh Các Bệnh Về Họng Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Dấu Hiệu Viêm Phổi Ở Trẻ Nhỏ Do Vi Khuẩn Mycoplasma Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Tin liên quan
Trẻ Hóa Da Bằng Liệu Pháp Chất Tiết Tế Bào Gốc (Exosome) Chất tiết tế bào gốc là một loại tế bào đặc biệt có khả năng chuyển hóa thành các tế bào chuyên hóa khác trong cơ thể. Ứng dụng của chất tiết tế bào gốc có thể bao gồm điều trị các vấn đề lão hóa, chấn thương tế bào, và các bệnh lý khác.


Từ khóa » Theo Dõi độ Mê
-
Theo Dõi độ Sâu Gây Mê | Vinmec
-
Các Biện Pháp Xác định độ Mê | Vinmec
-
Gmhs Xác định độ Mê - SlideShare
-
Hướng Dẫn Quy Trình Kỹ Thuật Theo Dõi độ Mê, An Thần Trong GMHS ...
-
Hiệu Quả Theo Dõi độ Sâu Gây Mê Bằng Entropy Trong Gây Mê PTNS ...
-
Quy Trình Kỹ Thuật Theo Dõi độ Mê Trong Gây Mê Hồi Sức Và Hồi Sức ...
-
Theo Dõi Cơ Bản Trong Gây Mê Hồi Sức | Bệnh Viện Quốc Tế Vinh
-
Theo Dõi độ Mê Bằng điện Não đồ Hóa Như Thế Nào? - Bệnh Viện ...
-
Theo Dõi độ Mê Bằng điện Não đồ Hóa Như Thế Nào? - Mới Nhất 2022
-
MÁY THEO DÕI ĐỘ SÂU GÂY MÊ
-
Hiệu Quả Của Bis Trong Phẫu Thuật Tim - Tạp Chí Y Học TP.HCM
-
Nghiên Cứu điều Chỉnh độ Mê Theo điện Não Số Hoá Bằng Nồng độ ...
-
Máy Monitor Phòng Mổ Có đo độ Hôn Mê Sâu