Các Dấu Hiệu Cơ Bản Của NNPQ XHCN Việt Nam
Có thể bạn quan tâm
Xây dựng NNPQ là một quá trình tất yếu lịch sử và khách quan. NNPQ đã được chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu và bước đầu vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh đất nước ta. Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo của mình, cũng đã không ngừng phát triển về lí luận NNPQ, hiện thực hóa NNPQ XHCN Việt Nam trong thực tiễn. Mặc dù NNPQ XHCN được chính thức thừa nhận và xây dựng chưa bao lâu nhưng cũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, gắn liền với thành tựu của toàn Đảng, toàn dân trong công cuộc Đổi mới. Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam, Nhà nước này đã dần dần bộc lộ, thể hiện các đặc trưng, dấu hiệu cơ bản của nó trên thực tế.Trong phần này, chúng ta sẽ tiếp cận những dấu hiệu cơ bản ấy. Qua đó để biết được rằng NNPQ XHCN Việt Nam là một Nhà nước nước thế nào và cũng để thấy được nét đặc thù của NNPQ XHCN Việt Nam, thấy được sự khác nhau giữa NNPQ XHCN Việt Nam với NNPQ Tư sản hay NNPQ nói chung.Qua quá trình nghiên cứu, NNPQ XHCN Việt Nam có những dấu hiệu cơ bản sau đây:
1. NNPQ XHCN Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tích cực phát huy dân chủ.
Dấu hiệu cơ bản đầu tiên này đã sớm định hình trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam – NNPQ XHCN Việt Nam.Trong tư tưởng của Người,”Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ…”, “chính quyền từ xã đến Chính Phủ Trung ương do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”,”… các cơ quan Chính Phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân”,”Bất cứ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”, “chính sách của Đảng và Chính Phủ phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nếu dân đói là đảng và Chính Phủ có lỗi, nếu dân dốt là đảng và Chính Phủ có lỗi, nếu dân ốm là đảng và Chính Phủ có lỗi”…
Nhà nước ta, ngay từ khi ra đời đã mang trong mình yếu tố pháp quyền, của dân, do dân, vì dân. Nhà nước ta ra đời là do “Dân ta đã đánh đổ xích xiềng Thực dân gần 100 năm để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ cộng hòa”. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời không bao lâu, vào ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra sôi nổi trên khắp cả nước. Như vậy, chính quyền, Nhà nước của ta là chính quyền, Nhà nước của dân, do dân giành được, do dân cử ra. Nhà nước ra đời là phục vụ cho lợi ích của quốc dân, vì tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Nhìn lại lịch sử lúc ấy, chính quyền ta còn non trẻ, nhưng dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước ta đã hết sức chăm lo cho cuộc sống của nhân dân, diệt giặc đói, giặc dốt, bên cạnh công cuộc chống ngoại xâm…
Những thuộc tính bản chất ấy của Nhà nước ta-Nhà nước của dân, do dân, vì dân- không ngừng vận động và phát triển theo tiến trình lịch sử. Ngày nay, chúng ta đang xây dựng NNPQ XHCN, những thuộc tính bản chất ấy ngày càng thể hiện rõ nét. NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, tích cực phát huy dân chủ là Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, giữ vững môí liên hệ dân chủ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội. Nước ta là Nhà nước của dân, bao nhiêu quyền hạn đều ở nơi dân vì dân là chủ. Quyền lực Nhà nước là của nhân dân.Các bản Hiến pháp của ta từ Hiến pháp1946 cho đến Hiến pháp 1992 đều khẳng định điều này.Điều 1, Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Điều 4, Hiến pháp 1959 ghi nhận: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đều thuộc về nhân dân”. Điều 8, HP 1980 xác nhận: “Ở nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”.Đọan 1, điều 2, Hiến pháp 1992 khẳng định: “Nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân nên nhân dân là chủ thể nắm giữ quyền lực Nhà nước, vì vậy nhân dân là người tổ chức quyền lực Nhà nước, nhân dân có quyền kiểm sóat quyền lực Nhà nước. Xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân là xây dựng Nhà nước phát huy dân chủ XHCN.Trên thực tế, để bảo đảm dân chủ, nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước, chúng ta đã kết hợp cả hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp để tổ chức ra bộ mày Nhà nước. Nhân dân trực tiếp bầu ra Quốc hội.Thông qua đó, nhân dân sử dụng quyền lực của mình. Điều 6, Hiến pháp 1992 ghi rõ: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Điều 11, Hiến pháp năm 1992 cũng quy định: “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng”.Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội, Quốc hội được nhân dân trao lại quyền lực Nhà nước nên Quốc hội thay mặt nhân dân cử ra Chính phủ-cơ quan hành pháp, cử ra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao-cơ quan tư pháp, và chọn ra những người đứng đầu Nhà nước…Nhân dân ta, người chủ của quyền lực Nhà nước, không chỉ tạo lập nên Nhà nước của mình, trực tiếp thông qua các cơ quan đại diện của mình thực thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào họat động quản lí của Nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình họach định chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, cũng như tham gia vào các họat động lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới những hình thức khác nhau. Đó chẳng những là chủ trương của Đảng và Nhà nước mà còn là những quyền cơ bản của công dân, điều 5, Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lí Nhà nước và xã hội”. Để thực hiền sự giám sát của nhân dân, Hiến pháp và pháp luật đã quy định về các quyền của công dân: tự do ngôn luận, tự do báo chí,, quyền được thông tin… Đó là những quyền quan trọng để nhân dân có thể được tự do bày tỏ ý kiến, làm tăng tính công khai, minh bạch của các họat động Nhà nước.
2.Hiến pháp và pháp luật giữ vị trí tối cao trong đời sống xã hội
Dấu hiệu này được xem là dấu hiệu chung của NNPQ, NNPQ XHCN Việt Nam cũng mang dấu hiệu này. Ngày nay, trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều công nhận rằng Hiến pháp là đạo luật cơ bản của quốc gia. Điều này là dễ hiểu bởi vì Hiến pháp xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất ý chí của nhân dân, sự lựa chọn chính trị của nhân dân.Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước do cơ quan đại diện có thẩm quyền thông qua hoặc do nhân dân trực tiếp thông qua; trong đó quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và họat động của các cơ quan Nhà nước then chốt, thể hiện một cách tập nhất, mạnh mẽ nhất ý chí và lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội-ở nước ta, đó là toàn thể nhân dân vì nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước.Sự hiện diện của Hiến pháp là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an tòan của người dân.Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất của một đất nước, nó bao gồm các chế định về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Hiểu được sâu sắc tầm quan trọng của Hiến pháp, từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nêu ra nhiệm vụ lập ra Hiến pháp.trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, ngày 03/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”. Điều đó cho thấy ngay từ đầu, sự hiện diện của Hiến pháp ở nước ta đã gắn liền với nền dân chủ. Hiến pháp ta là Hiến pháp dân chủ, thể hiện ý chí chung của toàn thể nhân dân, vì vậy, ở vị trí tối cao của nó Hiến pháp phải được tuân thủ tuyệt đối.(Chẳng hạn như bản Hiến pháp năm 1946 mặc dù chưa được ban bố trong nhân dân vì Thực dân Pháp quay lại xâm lược nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước ta đã tuân thủ Hiến pháp trong các họat động của mình trong suốt thời gian đó). Hiến pháp cần được và phải được tuân thủ tuyệt đối trong xã hội nhưng nó cũng là một đạo luật, tức là nó cũng được xây dựng trên cơ sở xã hội, mà xã hội thì luôn vận động, biến đổi không ngừng, cho nên Hiến pháp có tính ổn định tương đối. Hiến pháp không được phép thay đổi thường xuyên nhưng khi xã hội có sự chuyển biến mạnh mẽ thì Hiến pháp cũng cần phải sử đổi, bổ sung cho hợp lí. Bằng chứng là, ở nước ta, đã có bốn bản Hiến pháp ra đời: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (Hiến pháp này lại được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Nói chung, Hiến pháp phải được tuân thủ vì nó là ý chí phổ biến và đầy đủ nhất của nhân dân. Bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ chủ quyền Nhà nước, bảo vệ ý chí nhân dân.Tính tối cao của Hiến pháp được quy định trong Hiến pháp nước ta như sau (Điều 146, Hiến pháp 1992): “Hiến pháp nước Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lí cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp”.
Trong NNPQ, không chỉ Hiến pháp được tuân thủ, tôn trọng mà các văn bản pháp luật khác cũng phải được đề cao và được thực hiện nghiêm minh, nghiêm chỉnh. Các đạo luật, văn bản pháp luật khác là sự cụ thể hóa các chế định, các điều khỏan trong Hiến pháp. Pháp luật cũng thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Tuân thủ Hiến pháp, thì phải tuân thủ pháp luật. Theo lí luận chung về pháp luật, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Ở nước ta, về nguyên tắc là giai cấp công nhân nhưng có sự liên minh cặt chẽ với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức- nền tảng của phạm trù nhân dân. Như vậy, xét cho cùng pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân. Pháp luật có tính quy phạm phổ biến có tính bắt buộc chung,nó là khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người được xác định cụ thể. Pháp luật đưa ra giới hạn cần thiết để các chủ thể có thể xử sự tự do trong khuôn khổ của pháp luật. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, phổ biến, điển hình, tác động đến tất cả các cá nhân, tổ chức trong những điều kiện, hoàn cảnh pháp luật quy định. Pháp luật có chức năng giáo dục, răn đe và bảo vệ quyền, lợi ích cơ bản của con người, của công dân. Pháp luật là thước đo các gián trị phổ biến của xã hội. Để đánh giá về tự do, công bằng, bình đẳng của một xã hội, người ta căn cứ vào pháp luật như là một tiêu chí chủ yếu, người ta xem xét pháp luật có vì con người hay không, có đảm bảo quyền lợi cơ bản của công dân hay không…Pháp luật có vai trò quan trọng như vậy cho nên nó phải được tôn trọng, tuân thủ, chấp hành nghiêm minh.” Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” là khẩu hiệu chung cho toàn xã hội, là phương châm trong xây dựng NNPQ.
Trong dấu hiệu này, cần thiết phải nhận thấy rõ quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật. Có ý kiến cho rằng quan niệm về NNPQ thực chất là việc nhận thức đúng quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật.Hoặc là Nhà nước đứng trên pháp luật hoặc là Nhà nước họat động tuyệt đối tuân theo pháp luật. Nhà nước đặt ra pháp luật nhưng không đứng trên pháp luật. Vì pháp luật là ý chí chung của nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước, “Nhà nước là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân”. Nhà nước muốn quản lí tốt xã hội thì phải là gương để nhân dân noi theo. Nhà nước không thực hiện nghiêm minh pháp luật tất yếy sẽ dẫn đến sự hỗn lọan.
Pháp luật cần phải được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh trong đời sống xã hội. Pháp lụât có tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi người vì vậy pháp luật phải phù hợp với đời sống xã hội, phải phản ánh đúng hiện thực khách quan. Pháp lụât không được “tụt hậu”, pháp luật phải kịp thời ghi nhận những gì “đã chín muồi” đối với xã hội. mặt khác, pháp luật không tạo ra sự thay đổi quá thường xuyên, làm mất sự ổn định trong sự vận hành theo quy luật của các hiện tượng kinh tế, chính trị, xã hội…Hơn nữa, những quy định của pháp luật cần phải được rõ ràng, dễ hiểu, pháp luật phải tăng cường tính công khai, minh bạch…Pháp luật phải thực sự hòan thiện, phải lấp các kẻ hở pháp luật…Nói tóm lại, phải xây dựng pháp luật ngày càng là pháp luật dân chủ hơn nữa.
3.NNPQ XHCN VN thống nhất quyền lực Nhà nước, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp*
Đọan 2, Điều 2, Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đây được xem là nguyên tắc, là dấu hiệu cơ bản đặc thù của NNPQ XHCN Việt Nam. Dấu hiệu này không giống với dấu hiệu chung của NNPQ, cũng không giống với bất kì NNPQ nào khác trên thế giới. Đây là sự sáng tạo, là bản sắc Việt Nam trong xây dựng NNPQ.
Như phần trên đã khẳng định, ở nước ta, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, bắt nguồn từ nhân dân. Nhân dân là nguồn, là chủ thể của quyền lực Nhà nước. Nhân dân là một phạm trù lịch sử vừa trừu tượng vừa cụ thể. Nhân dân có thể là từng cá nhân cụ thể trong xã hội, cũng có thể là tất cả công dân, là tập hợp tất cả các giai tầng trong xã hội. Ở nước ta, nhân dân có nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.Như vậy, về nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thuộc về toàn thể nhân dân nên nó không thể phân chia được.Hơn nữa, bản thân quyền lực Nhà nước mang tính thống nhất nội tại, không thể phân chia. Lập pháp, hành pháp, tư pháp là ba quyền tồn tại, xuất hiện đồng thời. Chúng tồn tại trong quá trình khép kín của họat động Nhà nước.
Về nguyên tắc, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân nhưng trên thực tế quyền lực ấy tập trung vào Quốc hội.Thông qua bầu cử dân chủ, nhân dân bầu ra Quốc hội, nhan dân trao quyền lực Nhà nước cho Quốc hội. Quốc hội được nhân dân ủy quyền, thay mặt nhân dân bầu ra các cơ quan Nhà nước khác để thực hiện các nhánh còn lại của quyền lực Nhà nước.Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong các đại biểu Quốc hội.Trên thực tế, Quốc hội cũng là một cơ quan có tính chất thống nhất nên khi được nhân dân trao cho quyền lực Nhà nước thì vẫn đảm bảo đựơc quyền lực Nhà nước là thống nhất. Ngay từ khi ra đời cho đến nay, quốc hội Việt nam luôn được tổ chức theo cấu thống nhất, không phân chia thành hai viện. Tất cả các đại biểu Quốc hội đều do nhân dân trực tiếp bầu ra. Quốc hội Việt Nam là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân thống nhất, nhân dân tổ chức ra quốc hội có cơ cấu thống nhất và tất cả đại biểu quốc hội đều do nhân dân bầu ra, thay mặt nhân dân nắm giữ quyền lực Nhà nước.
Thống nhất về quyền lực Nhà nước ở nước ta còn được hiểu là thống nhất về nhiệm kì họat động của các cơ quan tối cao thực hiện quyền lực Nhà nước. Nhiệm kì của quốc hội là 5 năm và nhiệm kì của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao “theo nhiệm kì của Quốc hội.
Quyền lực Nhà nước của nhân dân, thống nhất vào Quốc hội nhưng được phân công cụ thể, rành mạch.Trong đó, Quốc hội là cơ quan lập pháp, Chính phủ là cơ quan tư pháp, Tòa án nhân dân tối và Viện kiểm sát nhân dân là coq quan tư pháp. Sự phân công quyền lực giữa các cơ quan Nhà nước thể hiện ở sự phân định chức năng, nhiệm vụ của mỗi loại hình cơ quan Nhà nước. Sự phân định này càng rõ ràng, cụ thể thì hiệu lực và hiệu quả họat động của các cơ quan Nhà nước càng được nâng cao. Không một cơ quan Nhà nước nào có thể thâu tóm toàn bộ quyền lực Nhà nước và cũng không thể lấn át chức năng của các cơ quan thực hiệ quyền lực khác.Sự phân công cũng là để đảm bảo sự thống nhất trong mối quan hệ biện chứng giữa chúng.Theo sự phân công, Quốc hội là cơ quan lập pháp, là “cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”( đọan 3, Điều 83, Hiến pháp năm 1992). Quốc hội “thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ họat động của Nhà nước” (đọan 4, Điều 83, Hiến pháp 1992),”Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo họat động của Chut tịch nước, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tối cao”. Quyền giám sát của Quốc hội mang tính quyền lực Nhà nước cao nhất. Quốc hội có thể tiến hành ở mức cao nhất, toàn diện nhất, triệt để nhất, có quyền phán quyết những vấn đề quan trọng của Bộ máy Nhà nước, có quyền giám sát mọi đối tượng kể cả những người giữ chức vụ cao nhất trong bộ máy Nhà nước.
Trong sự phân công quyền lực Nhà nước, “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghiã Việt Nam. Chính phủ thống nhất việc quản lí các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân” (Điều 109, Hiến pháp năm 1992). Như vậy, chính phủ là cơ quan được Hiến định, phân công thực hiện quyền hành pháp.Sự phân công này là cần thiết để xây dựng một nền hành chính quốc gia thỏa mãn được những yêu cầu của công dân trên mọi lĩnh vực, phục vụ công dân một cách không vụ lợi; bảo đảm cuộc sống của toàn xã hội trong khuôn khổ của pháp luật, bảo đảm việc tôn trọng Hiến pháp, pháp luật. Hệ thống cơ quan phải được tổ chức và điều hành theo kỉ luật chung, thống nhất từ Trung ưong đến địa phương mới có thể giải quyết tốt những công việc cụ thể, phục vụ hân dân như việc cho phép, kiểm ta hay xử lí. Đây là việc liên quan đến đời sống của từng công dân cụ thể. Sự phân công chặt chẽ, rõ rang đó chỉ có thể đạt được trên thực tế nếu có sự giám sát lẫn nhau. Gíam sát là cần thiết, nó không phải là đối trọng, đối lập lân nhau. Việc giám sát được thể hiện trong việc Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội những họat động của mình, quốc hội chất vấn và ra những nghị quyết về công tác của Chính phủ, Quốc hội có thể tín nhiệm hay không tín nhiệm chính phủ hoặc cá nhân Bộ trưởng.
Theo phân công về quyền lực Nhà nước, Tòa àn nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của quyền lực Nhà nước. Khi xét xử, “thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, không phụ thuộc vào các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, cũng không phụ thuộc vào Tòa án cấp trên của mình. “Viện kiểm sát nhan dân thực hiện quyền công tố và kiểm sóat các họat động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” (Điều 1, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao nàgy 25/12/2001).
Trong sự phân công quyền lực Nhà nước chúng ta cần phải chú ý đến chế định Chủ tịch nước-nguyên thủ quốc gia. mặc dù không trực tiếp nắm quyền lập, pháp, hành pháp hay tư pháp nhưng chủ tịch nước có lien quan mật thiết đến các quyền đó, nhất là trong việc phối hợp thực hiện giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quyền lực Nhà nước là thống nhất, khi phan công cũng phải đảm bảo quy về sự thống nhất. Việc phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước cũng nhằm mục đích bảo đảm sự thống nhất của quyền lực Nhà nước. Có thể thấy sự phối hợp đó trong các họat động lập pháp, quyết định các vấn đề đối nội, đối ngoại cấp cao, thành lập, miễn nhiệm các chức vụ cao cấp trong cơ quan Nhà nước và bãi bỏ các văn bản sai trái.
Trong họat động lập pháp, luật do Quốc hội thông qua song việc sọan thảo thường được do chính phủ quản lí, Ủy ban thường vụ quốc hội xem xét, cho ý kiến và quyết định việc lấy ý kiến nhân dân trước khi trình quốc hội thong qua và chủ tịch nước công bố.Pháp lệnh do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, song chỉ quyết định hnững vấn đề được Quốc hội giao và được Chủ tịch nước công bố. Chủ tịch nước có quyền yêu càu Ủy ban thường vụ Quốc hội nếu cảm thấy cần thiết. Theo điều 103, Hiến pháp 1992, Chủ tịch nước có quyền “đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kì họp gần nhất. Trong việc thực hiện một số chức năng của nguyên thủ, chủ tịch nước thường xuyên phối hợp với quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội: công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh, đè nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh Nhà nước cao nhất; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao. Nghị định của Chính phủ về một số vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện ban hành bằng luật, hoặc pháp lệnh củathì trước khi ban hành phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Trong việc quyết định các vấn đề về đối nội, đối ngoại cấp cao, các quyết định của Quốc hội về vấn đề chiến tranh và hòa bình, đại xá; quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp do Chủ tịch nước công bố, ban bố hoặc ra lệnh. Đối với quyền quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược (trong thời gian giữa hai lì họp Quốc hội) thì phải được Chủ tịch nước nhất trí và Quốc hội phê chuẩn trong kì họp gần nhất hoặc Quốc hội họp bất thường theo yêu cầu của Chủ tịch nước để quyết định. Sự phối hợp này là cần thiết bảo đảm cho Ủy ban thường vụ Quốc hội khi giải quyết những nhiệm vụ được Quốc hội giao giữa hai kì họp được chính xác.
Trong việc thành lập, miễn nhiệm các chức vụ cao cấp trong cơ quan Nhà nước: Quốc hội bầu Chủ tịch nước theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quốc hội bầu Thủ tướng chính phủ, chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sat nhân dân tối cao theo đề nghị của Chủ tịch nứơc. Phó Thủ tướng và các thành viên khác của Chính phủ do Thủ tướng đề nghị Quốc hội phê chuẩn và Chủ tịch nước bổ nhiệm.Trong thời gian giữa hai kì họp Quốc hội thì Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Việc miễ nhiệm, bãi nhiệm do Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủt quyết định tại kì họp Quốc hội. Đối với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng do Quốc hội quyết định. Trong thời gian Quốc hội không họp thì thuôc thẩm quyền của Ủay ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.Các phó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ chịu tách nhiệm trước Quốc hội và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng. trong trường hợp Quốc hội không hợp thì Ủy ban thường vụ quốc hội phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng về miễn nhiệm, cách chức các thành viên Chính phủ đó nhưng phải được Chủ tịch nước nhất trí và báo cáo với Quốc hội tại kì họp gần nhất.
Trong việc bãi bỏ các văn bản sai trái: Quốc hội bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội. Ủy ban thường vụ quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của mình. Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ…
4. NNPQ XHCN Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Đây là dấu hiệu cơ bản đặc thù của NNPQ XHCN Việt Nam, không giống với NNPQ Tư Sản- đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, các đảng thay phiên lãnh đạo. NNPQ XHCN Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của duy nhất một đảng. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là sự phù hợp với quy luật vận động và phát triển của lịch sử Việt Nam. Ngày 03/02/1930, Đảng ta ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đúng đắn và sáng tạo đã đánh dấu sự thay đổi về chất của giai cấp công nhân và là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Từ đó, cách mạng Việt Nam gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng. Đảng ta lãnh đạo toàn thể nhân dân làm nên Cách mạng tháng Tám vĩ đại, lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ngay sau đó, Đảng ta lại lãnh đạo nhân dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến thần thánh chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ, giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc, giữ vững thành quả của cách mạng tháng Tám- Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Qua thực tiễn lịch sử sống động đó, Đảng ta xứng đáng giữ vai trò lãnh đạo toàn thể dân tộc, lãnh đạo nhân dân ta xây dựng đất nước trong thời kì mới. đảng lãnh đạo Nhà nước dường như đã trở thành một vấn đề tất yếu, hiển nhiên. Đảng giữ vai trò lãnh đạo là còn vì: “Đảng Cộng Sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lựơng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.Cũng cần phải nhận thấy rằng, Đảng lãnh đạo không phải là sự áp đặt của Đảng mà đó là sự đồng thuận từ quần chúng nhân dân, nhân dân đồng tình ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng. Qua quá trình lịch sử trường kỳ của dân tộc, nhân dân ta tin theo đường lối của Đảng, đi theo Đàng, đi theo ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác Lênin-kim chỉ nam co hành động của Đảng. Vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta là vấn đề tất yếu và ngày càng trở nên quan trọng, vì sự lãnh đạo của Đảng sẽ đảm bảo cho Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc, có phương hướng chính tri-giai cấp đúng đắn và ngày càng giải quyết tốt hơn mọi vấn đề xã hội.
Lịch sử đã lựa chọn Đảng ta là người lãnh đạo. Ngày nay chúng ta xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam thì vẫn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều này là phù hợp, vì trên thực tế Đảng ta chính là người đã khởi xướng, đề ra nhiệm vụ xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh[1]. Đàng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo nhân dân nhưng đảng không làm thay Nhà nước, không làm thay nhân dân. Phương thức lãnh đạo của đảng được xác định là: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của Đảng viên. Đảng giới thiệu những Đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất và họat động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của cuae cá tổ chức khác trong hệ thống chính trị” (Cương lĩnh xây dựng đát nước trong thời kì quá độ năm 1991). Với vai trò lãnh đạo của Đảng, cần tránh các nguy cơ: quan lieu, xa dân, thóai hóa, biến chất, đi đén mất phương hướng về chính trị. Ngày nay, trong tiến trình xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam, Đảng ta cần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, thay đổi phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng tích cực hơn nữa để lãnh đạo Nhà nước có hiệu quả hơn nữa, hòan thiện dần NNPQ XHCN Việt Nam, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh”.Trên thực tế, thay đổi phương thức lãnh đạo của Đảng là một vấn đề phức tạp, khó khăn mà Đảng ta đã nhận thức được và đang ngày càng đổi mới, hoàn thiện xứng tầm lãnh đạo của mình. Đảng lãnh đạo NNPQ XHCN là làm cho pháp luật giữ đúng định hướng chính trị, đồng thời thể hiện tinh thần nhân văn xã hội chủ nghĩa sâu sắc.”NNPQ XHCN chỉ thật sự tăng cường được pháp chế xã hội chủ nghĩa, làm cho pháp chế đó đi đúng ssịnh hướng chính trị và nhân văn khi dựa vững chắc trên cơ sở đường lối, quan điểm chính trị của Đảng. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng làm cho NNPQ XHCN phát huy cao nhất tính chủ động, sắc bén và hiệu lực trong công tác quản lí, điều hành đời sống xã hội và mở rộng các quyền dân chủ của nhân dân lao động để tập trung mọi tổ chức và họat động của Nhà nước vào đời sống xã hội dân sự, nâng cao vai trò tự quản của nhân dân, chấp hành nghiêm kỷ cương, pháp luật”[2]
Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng Đảng cũng phải họat động tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Điều 4, Hiến pháp năm 1992 có quy định: “Mọi tổ chức của Đảng họat động trong khuôn khổ của pháp luật”. Điều này có lẽ không cần phải bàn cãi nhiều vì nó gần như trở thành một đòi hỏi khách quan. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng Đảng cũng giống Nhà nước ở chỗ là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Trong phương thức lãnh đạo của Đảng đã nêu ở trên, đảng ta có nói lãnh đạo “bằng hành động gương mẫu của Đảng viên”. Gương mẫu thì phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Hơn nữa, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật cũng là dấu hiệu cơ bản, là đặc trưng thứ hai của NNPQ XHCN Việt Nam. Đảng lãnh đạo NNPQ XHCN Việt Nam thì Đảng phải đảm bảo điều đó, đảm bảo tố chất của NNPQ. Như vậy, Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo NNPQ XHCN theo khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật.
Nói tóm lại, NNPQ XHCN Việt Nam đã được chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng từ trong tư tưởng của Người đến thực tiễn. Tiếp theo đó, Đảng ta tiếp tục phát triển về lí lụân, hiện thực hóa hơn nữa việc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam. NNPQ XHCN Việt Nam được xây dựng và ngày càng hoàn thiện trong thực tế, dần dần định hình nên những dấu hiệu cơ bản là: Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tích cực phát huy dân chủ; Hiến pháp và pháp luật giữ vị trí tối cao trong đời sống xã hội; quyền lực Nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; NNPQ XHCN Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
______________________
* Luận cứ, luận chứng phần này chủ yếu được trích dẫn từ Lê Quốc Hùng, 2004, Thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực Nhà nước ở Việt nam, NXB Tư pháp, Hà Nội.
[1] Xem chương II, mục 1, phần 1.2 ở trên.
[2] Lê Minh Vụ, Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong xây dựng NNPQ XHCN, http:// http://www.cpv. Org.vn/details.asp?id=BT170439043
Related
Từ khóa » Các Dấu Hiệu đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền
-
Những đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa ?
-
Các đặc Trưng Nhà Nước Pháp Quyền ? Giá Trị Của ... - Luật Minh Khuê
-
Đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ...
-
Các Dấu Hiệu đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền - 123doc
-
Nhà Nước Pháp Quyền - Khái Niệm Và đặc Trưng Cơ Bản - .vn
-
Khái Niệm Và đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền XHCN
-
[DOC] I CƠ Sở LÝ LUẬN VỀ NHÀ Nước PHÁP QUYỂN VÀ NHÀ Nước
-
Dấu Hiệu đặc Trưng Của Nhà Nước - TopLoigiai
-
Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Những Giá Trị ...
-
Một Số Dấu Hiệu Về Nhà Nước Pháp Quyền Trong Thời Quân Chủ ở Việt ...
-
Bài 1: Khái Niệm Và đặc Trưng Của Nhà Nước
-
Đặc Trưng Của Nhà Nước - Pháp Luật đại Cương - Áo Kiểu đẹp
-
Vai Trò Của Cơ Quan Thanh Tra Nhà Nước Trong Xây Dựng Nhà Nước ...
-
[PDF] XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA ...