Các đề Thi Học Viện Về Phật Pháp Căn Bản (thích Viên Hải)

Ai tâm không an trú, Không biết chân diệu pháp, Tịnh tín bị rúng động, Trí tuệ không viên thành.
+ Đức Đạt Lai Lạt Ma cầu nguyện tại Thượng Viện Hoa Kỳ + SO SÁNH TƯ TƯỞNG “VÔ VI” CỦA LÃO TỬ VỚI TƯ TƯỞNG “VÔ VI” TRONG PHẬT GIÁO + Ý nghĩa cài Hoa Hồng + Giê-su qua cái nhìn của người Phật tử + Thơ: Vu lan xuống phố + Tháng bảy + Mùa Vu Lan - nhìn lại chính mình! + Hàn Quốc: Cảnh sát lục soát xe lãnh đạo Phật giáo + Ăn chay đối với giới trẻ + CẤU TRÚC SINH HỌC CỦA CON NGƯỜI PHÙ HỢP VỚI ĂN CHAY + NGHI THỨC CẦU - AN | Trang chủ Giới Thiệu Đăng ký Tìm kiếm Góp ý Liên hệ
+ Đức Đạt Lai Lạt Ma cầu nguyện tại Thượng Viện Hoa Kỳ
+ SO SÁNH TƯ TƯỞNG “VÔ VI” CỦA LÃO TỬ VỚI TƯ TƯỞNG “VÔ VI” TRONG PHẬT GIÁO
+ Ý nghĩa cài Hoa Hồng
+ Giê-su qua cái nhìn của người Phật tử
+ Thơ: Vu lan xuống phố + Tháng bảy
+ Mùa Vu Lan - nhìn lại chính mình!
+ Hàn Quốc: Cảnh sát lục soát xe lãnh đạo Phật giáo
+ Ăn chay đối với giới trẻ
+ CẤU TRÚC SINH HỌC CỦA CON NGƯỜI PHÙ HỢP VỚI ĂN CHAY
+ NGHI THỨC CẦU - AN
Anh -Việt Việt -Anh Việt -Việt Việt-Pháp Pháp-Việt Computing Anh -Anh Hoa -Việt Nga -Việt
Khách online 4
Số truy cập
User:
Pass:
Quên mật khẩu?
Tiểu luận
CÁC ĐỀ THI HỌC VIỆN VỀ PHẬT PHÁP CĂN BẢN (THÍCH VIÊN HẢI)

DUYÊN KHỞI SỰ CÁCH TÂN LỚN CỦA HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG NHÂN LOẠI. TAM VÔ LẬU HỌC, TAM PHÁP ẤN, TỨ DIỆU ĐẾ, BÁT CHÁNH ĐẠO.

DÀN BÀI DUYÊN KHỞI A/ Mở đề B/ Nội Dung - Giới thiệu điều kiện ra đời của duyên khởi - Giới thiệu tổng quát về duyên khởi • 12 chi phần qua sanh khởi và hoàn diệt • Luân chuyển của Duyên khởi qua “hoặc” - “nghiệp” – “khổ”. - Quan hệ của Duyên khởi với 1 số giáo lý khác • Tứ đế: - Diệt đế: không nằm trong vòng quay của duyên khởi vì nó là “thường” – “lạc”- “ngã” – “tịnh”. - Đạo đế: quá trình tu thì thay đổi -> những duyên hoàn diệt chận đứng vô minh khát ái và thủ. • Ngủ uẩn: (vô ngã) -> sắc thọ tưởng hành thức : nói đến ngủ uẩn là nói con người (vô ngã) được hình thành bởi duyên khởi hoặc - nghiệp - khổ. • Nhân quả: - Duyên sinh trong nhân quả, nhân là duyên sinh -> quả không cố định => đề tài của thế gian. - Nhân quả vô ngã: Phật dùng để thuyết giảng, để khai căn cơ người hạ căn - pháp thế gian: Nhân thay đổi => tu thập thiện -> làm người, làm trời, không phải là Niết Bàn. • Tam pháp ấn: Vô thường : cả duyên sinh Vô ngã : duyên sinh Niết Bàn : duyên sinh đã hoàn diệt • Một số kinh điển đại thừa - Quá trình phát triển của học thuyết duyên khởi • Alạida duyên khởi • Chân như duyên khởi • Pháp giới duyên khởi -> Hoa nghiêm tông Tâm -> tâm này khới thì tất cả tâm khác khởi Niệm này sinh thì tất cả niệm khác sinh Nhìn cái này thấy cái kia Nhìn nội giới thấy ngoại giới (nhân duyên khởi) • Thuyết lục đại duyên khởi: Mật tông: Đại, thủy, hỏa, phong, hữu, không • Thuyết lục đại duyên khởi: khi nào thấy ta hiện hành thì thấy thế giới hiện hành. • Mã minh là tổ của thuyết chân như khởi • Học thuyết Đacuynh là học thuyết tiến hóa là học thuyết cách tân từ những thuyết vô thần, trong đó học thuyết duyên khởi của Phật Giáo đi đầu nói về Ngã. - Vị trí của duyên khởi trong và ngoài Phật Giáo - Nhận định các học thuyết vừa nói  Đồng : -> vô ngã/ dị -> tứ đế, nghiệp … C/ Kết luận ĐỀ: DUYÊN KHỞI SỰ CÁCH TÂN LỚN CỦA HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG NHÂN LOẠI Trước và cùng thời với Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã có rất nhiều giáo phái ra đời. Mỗi giáo phái đều có một chủ thuyết riêng của mình. Có chủ thuyết cho rằng vạn vật đều do thượng đế sanh hoặc có chủ thuyết chủ trương vạn vật do tự nhiên sanh v.v… trong thời đa thần giáo, đa chủ thuyết ấy đã làm cho con người không thấy được chủ thuyết nào là chân lý. Lúc bất giờ thế gian đã xuất hiện một đấng chí tôn chí giác, ra đời với mục đích “Khai thị chúng sanh, ngộ nhập Phật tri kiến”. Bằng giáo lý Duyên khởi, Ngài đã trình bày cho chúng sanh thấy rõ thật tướng của các pháp. Các pháp ấy không phải tự nhiên sanh, không phải thượng đế sanh mà là do các duyên tập hợp tựu thành. Tiếng nói này là pháp âm như thị là tiếng sư tử hống, khơi dậy nguồn giác và khiến cho bao học giả, bao chủ thuyết phải bàng hoàng suy ngẫm. “Vạn pháp duyên khởi” câu nói ngắn gọn này là tinh túy của định lý: “Do cái này có mặt nên cái kia có mặt Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt Do cái này sinh nên cái kia sinh Do cái này diệt nên cái kia diệt”. (Kinh Phật tự thuyết, Tiểu Bộ I) Nội dung của duyên khởi được bao hàm trong bài kệ trên do chính đức Phật thuyết ra. Nhưng khái quát hơn, Ngài giới thiệu về mười hai nhân duyên căn bản tạo nên con người và thế giới hiện hữu. Đó là, vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử sầu bi khổ ưu não. Đây là vòng sanh khởi mà chỉ cần một chi khởi lên thì các chi còn lại đều có mặt. Ngược lại, để đi đến trạng thái giải thoát, an lạc thì thiết yếu phải đoạn được một trong mười hai nhân duyên trên, tức là một chi phần đoạn thì cả mười hai chi phần chấm dứt. Sự đoạn diệt ấy đưa đến giải thoát ra khỏi mọi trói buộc của phiền não khổ đau. Do đó kinh văn nói: “Ái diệt tức Niết bàn” hay “vô minh diệt tức Niết Bàn”. “Tham ái sinh ưu tư Tham ái sinh sợ hải Ai giải thoát tham ái Không ưu tư, không sơ hải” Kinh Pháp Cú Lại nữa, các chi phần vô minh, ái, thủ thuộc tâm lý “hoặc”; các chi phần hành, hữu thuộc “nghiệp” và các chi phần còn lại thuộc tâm lý “khổ”. Nghĩa là do tâm lý mê mờ, tham ái, chấp thủ (hoặc) mà hiện ra hành động và hiện hạnh (nghiệp) dẫn đến kết quả khổ đau (khổ). Ba yếu tố này làm nhân, tạo duyên cho nhau để tựu thành hiện tượng sanh tử luân hồi trong tam giới. Trong ba yếu tố trên nghiệp đóng vai trò trung chuyển, nghiệp dẫn đến tái sinh luân hồi. Vì vậy cho nên về sau các học giả đã tóm đặt cho giáo lý duyên khởi sơ khai này là “Nghiệp cảm duyên khởi”. Giáo lý này tồn tại như một thuyết lý căn bản, làm nền móng vững hắc cho các quan điểm duyên khởi của tất cả các tông phái Phật Giáo sau này. Sau Phật Niết Bàn và kể từ thế kỷ thứ I, khi hệ thống tư tưởng Đại thừa phát triển, giáo lý Duyên khởi được vận dụng khéo léo và cách tân sâu sắc hơn. Từ giáo lý duyên khởi ban đầu, tông phái Duy Thức đã phát triển thành thuyết A-lại-da duyên khởi. Thuyết này chủ trương con người và vạn vật thế giới đều từ A-lại-da thức (Tạng thức) mà phát sinh. Tạng thức là một tập hợp duyên khởi, chứa đựng tất cả mọi chủng tử để phát sinh ra hiện hạnh. Như vậy, sơn hà đại địa, vạn vật đều do thức này biến ra mà thành. Có thể thấy, từ “thức”một trong 12 chi phần nhân duyên, đến đây đã được chuyên sâu thành hệ thống Bát thức của Duy thức tông. Song song với thuyết A-lại-da duyên khởi, Ngài Mã Minh tập hợp từ kho tàng kinh điển, hệ thống hóa tư tưởng Đại Thừa và đưa ra một lập thuyết mới về duyên khởi. Đó là thuyết “Chân như duyên khởi”. Thuyết này chủ trương tâm chúng sanh là mẹ của vạn pháp. Tâm này có hai phần: Tâm sanh diệt và tâm chân như, chân như và sanh diệt vốn không hai, chân như có khi sanh diệt hết. Nói khác, tâm sanh diệt hiện sanh khi duyên khởi, tâm sanh diệt đoạn diệt khi duyên diệt, và duyên diệt là chân như. Không dừng lại ở đây, Hoa Nghiêm Tông cổ xuý thuyết “pháp giới duyên khởi” với nguyên lý một pháp khởi sanh trùng trùng duyên khởi sanh. Vạn pháp trùng khởi trên đầu sợi lông và vũ trụ nằm trong lòng hạt cải. Ngoài các thuyết duyên khởi trên còn có thuyết lục đại duyên khởi, Thực tại duyên khởi v.v… điều này cho thấy sự chuyên sâu của các tông phái về thuyết duyên khởi đã vươn đến tầm khế thời, khế lý, khế cơ và dung hòa đạt đến cốt tủy của Duyên khởi pháp, đó là “duyên sanh vô ngã”. “Duyên sinh vô ngã” chính là chiếc chìa khóa vạn năng tháo gỡ mọi bế tắt tư tưởng về nhân sinh và vũ trụ và đó là “sự cách tân lớn của hệ thống tư tưởng nhân loại”. Cho đến bây giờ, một số chủ nghĩa học thuyết khác cũng mới bừng tỉnh rằng Đạo Phật có mối tương đồng, mặc dù sự khai sinh của các học thuyết đó chỉ được một vài thế kỷ còn Đạo Phật xuất hiện cách đây hơn 25 thế kỷ. Nhân loại hiện tiền luôn dính mắc vào cái ngã. Một khi dính mắc vào đại Ngã hay tiểu Ngã thì chẳng khi nào có thể chấm dứt khổ đau. Điều đáng nói, hữu thần, đa thần luôn chấp thường, tin vào ngã tạo hóa trong khi đó giới phiếm thần, vô thần lại sa vào chấp đoạn, chấp ngã tự thân. Thuyết Duyên Khởi ra đời như hồi chuông cảnh tỉnh, như cuộc lột xác lớn cho kiếp tằm trói buộc khổ đau. Nhìn chung , giáo lý duyên khởi được đức Phật khai sáng và tồn tại cho đến ngày nay là do giáo lý ấy nói lên sự thật, một sự thật như như bất biến trong dòng chuyển biến duyên khởi. Dù đức Phật có thuyết hay không, giáo lý này vẫn hiển nhiên như vậy. Chính vì thế, ngày nay các nhà học thuật, các hệ thống triết học đã chứng minh, chấp nhận, khâm phục và còn làm cho giáo lý này ngày càng phát triển. Chúng ta có quyền khẳng định “Duyên khởi và quá trình phát triển của giáo lý này là sự cách tân lớn của hệ thống tư tưởng nhân loại”.  Duyên khởi và giáo lý khác: (đọc thêm) - Duyên khởi là một giáo lý căn bản, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống giáo lý của đức Phật. Chúng ta có thể thấy sự nhất quán ấy qua sự tìm hiểu giáo lý duyên khởi và các giáo lý khác như duyên khởi với tứ đế v.v… - Chúng ta thấy có sự tương quan, tương đồng giữa 12 nhơn duyên và ngũ uẩn vì 12 nhân duyên hoà hợp sinh tất cả pháp và con người là 1 pháp, nên ngũ uẩn cũng là kết quả hoà hợp của 12 nhơn duyên, thường khi thuyết giảng về vô ngã đức Thế Tôn phân tích 12 nhân duyên hoặc ngũ uẩn. Con người ngũ uẩn là do duyên sinh, mỗi uẩn có mặt thì 4 uẩn kia có mặt, nên mỗi uẩn cũng do duyên sinh. - Giáo lý tứ đế được đức Thế tôn dạy riêng nhưng nội dung của tứ đế vốn đã được bao hàm trong duyên khởi qua mười hai chi phần nhân duyên. Như đức Phật đã định nghĩa 12 nhân duyên khởi tập khởi là khổ tập khởi. Chính ái, thủ, vô minh là nhân của khổ, nhưng với con người mang nặng duyên ái nên đức Phật nhấn mạnh chi phần ái này, xem nó là tập đế. Khi giảng tứ đế đức Phật dạy ngũ uẩn là khổ đau, điều đó có nghĩa là nhân duyên sinh khởi đồng nghĩa với khổ đau và đức Phật định nghĩa 12 nhân duyên đoạn diệt là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt. Do đó ái thủ hay vô minh đoạn diệt có nghĩa là Niết Bàn, đây chính là diệt đế trong tứ đế. Khi dạy con đường đoạn diệt ái, thủ và vô minh, đức Phật thường nói đến Bát Chánh đạo, như vậy là tương đương với đạo đế trong tứ đế. - Khi trình bày mười hai chi phần nhân duyên. Đức Phật trình bày chặt chẽ xuyên qua trong hệ nhân quả. Chúng ta thấy rằng khổ uẩn là kết quả và mười hai chi phần nhân duyên tập khởi là nguyên nhân. Đồng thời con đường tu tập đoạn trừ ái, thủ v.v… là nhân và mười hai nhân duyên đoạn diệt là kết quả. Một điều đáng chú ý là tất cả các chi phần của mười hai nhân duyên đều duyên sinh, cho nên nhân và quả đều vô ngã. - Ba sắc thái đặc biệt của Phật giáo gọi là Tam pháp ấn, đó là khổ, vô thường và vô ngã. Chính từ giáo lý duyên khởi biểu hiện đặc tính khổ, vô thường, vô ngã. Các pháp do duyên sinh nên không thật có (vô ngã), vì do điều kiện sinh nên biến dịch vô thường theo các duyên, và vì biến dịch vô thường nên đem lại khổ đau. Các kinh điển đại thừa như Pháp Hoa, Kim Cang, Trung luận, Duy thức, Tăng già, Bát Nhã, Niết Bàn, Hoa Nghiêm v.v…. đều trình bày thực nghĩa của tất cả các pháp tướng là vô ngã và thực nghĩa đó là duyên sinh hay vô ngã. DÀN BÀI – TAM VÔ LẬU HỌC A/ Mở bài : - Dẫn nhập - Giới thiệu tổng quát B/ Nội dung : I. Định danh và giải thích 1. Tổng quát - Tam vô lậu học là gì ? - Giải thích so sánh hữu lậu và vô lậu - Ý nghĩa của chữ “học” 2. Chi tiết - Giới; có 3 nghĩa …… - Định : ……… chỉ quán/ trực chỉ - Tuệ : trí và tuệ II. Quan hệ nội tại giữa giới định và tuệ - Quan hệ thứ tự làm phương tiện cho bậc sơ cơ (nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ). - Quan hệ hỗ tương của giới định tuệ trong quá trình tu học. - Quan hệ phương tiện, xả ly và liểu đạt. III. Giới định tuệ sợi chỉ màu duy nhất xuyên suốt tam tạng kinh điển - Kinh luật luận và sự cấu thành tất yếu về việc chuyên sâu của giới định tuệ với hình thức : Kinh -> Định Luật -> giới Chuyên sâu Luận -> tuệ - Tam vô lậu học trong hệ thống giáo lý căn bản (Tứ đêá -> Đạo đế -> Bát Chánh Đạo) - Giới-Đinh-Tuệ trong hệ thống tư tưởng Phật giáo phát triển + Quan điểm về tam tụ tịnh giới (hiểu là giới, phụng sự chúng sanh là giới) + Quan điểm về thiền định + Quan điểm về hành bồ tát đạo, trí tuệ thực chứng theo duy thức tứ vô lượng tâm  lục độ bala mật tuệ trong duy thức -> thức biến thành trí … IV. Tầm quan trọng của giới định tuệ - Lợi ích - Ứùng dụng tu tập - Giáo dục cảnh thức (giáo dục tự giác) - Nhận xét C. Kết luận : -Tóm tắt - Bài học mở Đề : HÃY TRÌNH BÀY TAM VÔ LẬU HỌC – GIỚI ĐỊNH TUỆ Cách đây gần 3000 năm đức Phật đã hiện hữu trên cuộc đời, sống trong nhung lụa quyền quý nhưng dưới mắt Ngài còn biết bao khổ đau của kiếp người. Khổ đau vì chế độ giai cấp bất công của truyền thống xã hội bấy giờ, cho đến khổ đau lớn nhất là phải lặp đi lặp lại mãi kiếp sống không thú vị gì trong sáu nẻo luân hồi. Tất cả nỗi niềm băn khoăn ấy đã thúc đẩy ngài từ bỏ cuộc đời vương giả dấn thân đi tìm lẽ sống vĩnh hằng bất tử. Ngài đã trở thành bật toàn giác toàn trí thấu suốt mọi quy luật chi phối con người và vũ trụ. Suốt 49 năm hoằng dương chánh pháp, đức Phật tiếp xúc nhiều hạng người có căn cơ và trình độ khác nhau. Ngài đã tuỳ duyên giảng dạy nhiều phương pháp tu hành giúp họ đi ra khỏi khổ đau, chứng ngộ Niết Bàn. Giáo pháp được đức Thế Tôn phương tiện giảng dạy rất nhiều nhưng tất cả các môn học không ra ngoài nguyên tắc giới định tuệ. Hay nói cách khác giới-định-tuệ (tam vô lậu học) là cốt tủy của giáp lý Phật giáo, tóm thâu mọi luân lý cao siêu và bình dị nhất trong cuộc đời. Tam vô lậu học là ba môn học giới định tuệ mà hàng xuất gia không thể thiếu. Tiến trình tu tập giới định tuệ giúp cho hành giả đoạn trừ các lậu hoặc (phiền não) để đi đến giác ngộ giải thoát. Vô lậu trái với hữu lậu. Hữu lậu là tâm có phiền não, tâm thể vốn sáng suốt thanh tịnh do một niệm thiếu cảnh giác ác mà phiền não có cơ hội xâm nhập làm cho thể tánh sáng suốt của tâm bị che mờ, phiền não phát sinh tạo ra nghiệp ác mà phải rơi vào trong sáu nẻo luân hồi. “Này các tỳ kheo! Thế nào là vô lậu: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát, này các tỳ kheo! Đây là vô lậu” (Tăng Chi Bộ Kinh) Tam vô lậu học khác biệt với các giáo lý mà đức Thế Tôn đã thuyết giảng ở chổ chữ “học”. Điều này chứng tỏ tâm ý Ngài đã nhấn mạnh và nhắc nhở cho các hành giả xuất gia tu tập muốn đạt giải thoát thì cần phải học và thâm hiểu giáo lý Tam Vô lậu như một hành trang cốt yếu của mỗi người, không bao giờ để thiếu nó vậy. Theo tiến sĩ Walpola Rahula “giới–định–tuệ là giáo lý trọng yếu xuyên suốt trong hệ thống giáo lý Nguyên Thủy và Đại thừa”. Sở dĩ 3 môn học giới định tuệ gọi là tam vô lậu học vì 3 môn học này giúp hành giả vượt khỏi sự trói buộc của phiền não, không còn rơi rớt trong 3 cõi, tâm hoàn toàn tự tại không còn bị ràng buộc bởi mọi lậu hoặc, chứng đắc quả vị giải thoát tối hậu. Giới (sila) là phòng phi chỉ ác nghĩa, đề phòng điều trái, đình chỉ điều ác, hay còn điều phục, chế ngự. Chế ngự ở đây mang ý nghĩa chế ngự bằng sự tỉnh giác, bằng tri kiến bằng sự kham nhẫn, bằng sự tinh tấn … không chỉ dừng lại ở đó mà giới còn là Ba la đề mộc xoa có nghĩa là biệt biệt giải thoát. Định được dịch từ chữ tam muội (samadhi) có nghĩa là tâm nhất cảnh tánh: tâm tập trung trên một đối tượng (cảnh). Khi nhập định tất cả vọng niệm làm cho tâm tán loạn đã bị trừ bỏ chỉ còn lại chánh niệm, tức là chú tâm trên một đối tượng. Định còn có thể gọi là “chỉ” và thiền gọi là “quán”, biết tu tập chỉ và quán song chiếu, đúng thời và đúng độ là thiện xảo. Tuệ nói cho đủ là trí tuệ, là nghĩa của chữ Prajnnà (Bát nhã), khả năng nhận thức, phán đoán, phân biệt đúng đắn về các pháp, tức là nhìn các pháp như là chính nó không bóp méo, xuyên tạc sự thật. Người có trí tuệ nhận các pháp luôn biết: Đây là một pháp Đây là vị ngọt của pháp Đây là sự nguy hiểm của pháp Đây là con đường xuất ly của pháp. Giới-định-tuệ là ba mặt của một thực tại, ba môn học này tương quan mật thiết như kiềng ba chân, cho nên trong giới có định và tuệ, trong định có giới và tuệ, trong tuệ có giới và định. Trên lộ trình tu tập đi đến giải thoát, giới được đặt căn bản hàng đầu vì nhân giới mà sanh định, nhân định mà phát tuệ. Khi được hỏi về đức hạnh và trí tuệ đức Phật nêu rõ mối hữu cơ biện chứng của giới định tuệ như sau: “Này Balamôn trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Ỏû đâu có giới hạnh, ở đó có trí tuệ, ơÛ đâu có trí tuệ ở đó có giới hạnh. Người có trí tuệ, nhất định có giới hạnh, người có giới hạnh nhất định có trí tuệ và trí tuệ được xem là tối thắng trên đời” (Trường bộ kinh V). Đây chính là hiểu biết phương tiện cho các bậc sơ cơ mới bước vào chánh đạo hành trì. Giới là lãnh vực giữ gìn ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, rời khỏi tham lam, sân hận và ác hại, ngỏ hầu tạo điều kiện tốt đi vào trong tâm lý ly tham, ly sân, ly hại, ly si, của định và tuệ. Dựa trên cơ sở con người và 3 nghiệp, từ năm giới của người tại gia, 10 giới của người xuất gia … và triển khai thành 10 hạnh lành. Từ đó làm cho chúng ta tăng trưởng tình người, tình thương yêu đồng loại chúng sanh. Với tâm thanh tịnh giải thoát, tu hạnh ly dục, ly tà hạnh và dâm dục, chúng ta có thể xây dựng được hạnh phúc gia đình, tôn trọng nhân phẩm con người, thành tựu phạm hạnh và cuối cùng giải thoát sinh tử luân hồi, như cổ đức có dạy: “Đường sanh tử tu hành đã đoạn, gốc Ái ân vi tế không còn, đường giải thoát lâng lâng nhẹ bước, vượt trần gian siêu thoát ba đường”. Mục đích của “định học”, trước hết là loại trừ 5 triền cái, làm ô uế tâm, làm chướng ngại trí tuệ tức là tham dục, sân hận, hôn trầm, thuỳ miên, trạo cử, hối và nghi, loại trừ 5 triền cái được ví như món nợ cũ, bị đau ốm được lành bịnh … Người hành giả dùng thiền chi, dùng tâm đối trị với hôn trầm thuỳ miên, dùng tứ đối trị với nghi, dùng hỷ đối trị với sân, dùng lạc đối trị với trạo hối, dùng nhất tâm đối trị với tham dục. Không những vị hành giả hưởng được an lạc hạnh phúc trong khi loại trừ 5 triền cái, sẽ hưởng được hỷ lạc do ly dục sanh của sơ thiền, hưởng được hỷ lạc do định sanh của thiền thứ hai, hưởng được xả niệm lạc trú của thiền thứ ba và hưởng được xả niệm thanh tịnh của thiền thứ tư. Với tâm tịch tỉnh thuần tịnh trong sáng sẽ hướng được đến hậu tận trí, vị ấy biết như thật đây là hoặc, đây là nguyên nhân các lậu hoặc, đây là sự đoạn trừ các lậu hoặc, đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc. Nhờ hiểu biết như vậy sẽ thoát khỏi dục lậu, hữu lậu vô minh lậu, chứng đắc giải thoát hoàn toàn. Đó chính là tiến trình tu tập dựa trên nền tảng giới định tuệ. Tam vô lậu học không thể vắng mặt trong tiến trình tu tập được, nhưng giới định tuệ đã là tiến trình đưa đến giải thoát giác ngộ thì nó cũng chỉ là pháp môn phương tiện “Tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ dã, pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp” (Phải biết pháp của ta nói cũng giống như chiếc bè để vượt qua, chánh pháp mà còn phải bỏ đi huống là phi pháp). _kinh Kim Cương_ Giới định tuệ sợi chỉ màu duy nhất xuyên suốt tam tạng kinh điển. Luật tạng có tác dụng tăng thượng giới thuộc về giới học. Kinh tạng có tác dụng tăng thượng tâm thuộc về định học, luận tạng có tác dụng tăng thượng trí thuộc về tuệ học. Trong hệ thống giáo lý căn bản như Tứ đế, Ngũ Uẩn, Nghiệp hay nói rõ hơn trong giáo lý Bát Chánh Đạo – giới định tuệ không thể không đề cập đến. Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng (giới), chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định (định) chánh kiến, chánh tư duy (tuệ). Trong hệ tư tưởng Phật giáo phát triển đại thừa đã áp dụng giới đi sâu vào cuộc sống của chúng sanh như thể hiện hạnh bồ tát của hàng đại thừa, điều đó cùng với nghĩa chấp nhận giới bồ tát hay nói cách khác hàng tỳ kheo không làm các việc ác (chư ác mạc tác), siêng làm việc thiện (chúng thiện phụng hành) và làm các việc lợi ích cho chúng sanh (nhiêu ích hữu tình giới). Đây chính là tam tụ tịnh giới mà hàng đại thưà đã áp dụng để tu tập. Sau Phật Niết Bàn, cho đến mãi giai đoạn của các vị Tổ phát triển đã dẫn đến sự phát triển của thiền Thượng Thừa (Tổ sư thiền) một cách mạnh mẽ. Các Ngài đã khai ngộ hàng đệ tử bằng những sự kỳ diệu trong thiền định. Phật giáo nhằm mục đích kiến tạo xã hội ở đó hận thù được chinh phục bằng yêu thương, sự ác độc được chinh phục bằng thiện cảm, ở đó mọi xấu xa không nhiễm độc tâm trí con người, một xã hội mà tất cả những sinh vật nhỏ bé nhất đều được đối xử với lòng yêu thương lân mẫn và ở đó cuộc sống bình an hòa điệu trong muôn ngàn cây cỏ của thiên nhiên tươi mát. Để làm được những điều ấy, trước tiên chúng ta phải giáo dục, đào tạo con người và nội dung giáo dục Phật giáo là giới-định-tuệ. Nhìn ở góc độ Xã hội, đường hướng giáo dục theo giới định tuệ có thể đóng góp hữu hiệu cho giáo dục hiện đại nhằm đào tạo con người toàn diện về tài trí lẫn đức độ. Vì rằng thực hành Tam vô lậu học sẽ giúp ổn định xã hội, tạo một nếp sống có văn hóa , tâm hồn con người được thanh thản, định tỉnh, sáng suốt, là nền tảng cho các phát minh khoa học và lèo lái con thuyền kinh tế theo hướng lợi ích lâu dài trong hòa bình và thịnh vượng. Có thể nói toàn bộ giáo lý của đức Phật là một hệ thống triển khai nội dung giới định tuệ, và chúng ta có thể kết luận một cách vắn tắt như sau: Giới học là cái học về các luật tắc trong sinh hoạt cộng đồng các tu sĩ Phật giáo tu hành theo “giới bổn” gồm những giới luật do đức Phật chế. Định học là cái học về thiền định để tâm được thanh tịnh. Tuệ học là cái học về giáo lý để có chánh kiến, để thực chứng chân lý tối hậu là giải thoát, Niết bàn. Đức Phật thường nhắc đi nhắc lại: “Đây là giới, đây là định, đây là tuệ. Định cùng tu với giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn lậu hoặc”. Chúng ta hãy cố gắng nổ lực thực hành theo lời bậc Đạo sư đã dạy: “ Không làm mọi điều ác Thành tựu các hạnh lành Giữ tâm ý trong sạch Chính lời chư Phật dạy” (Pháp cú 183) DÀN BÀI TAM PHÁP ẤN A. MỞ BÀI - Dẫn nhập - Giới thiệu tổng quát. B. NỘI DUNG I. Định nghĩa chung tam pháp ấn II. Phân tích. 1. Vô thường  Định nghĩa (vật, tâm)  Giải thích  Nhận định 2. Khổ: (Giống khổ tứ diệu đế) 3. Vô ngã:  Định nghĩa  Giải thích  Phân tích II. Nhận định về Tam Pháp ấn III. Tam Pháp ấn trong hệ thống giáo lý 1. Tam pháp ấn với Duyên khởi 2. Tam pháp ấn với Tứ Diệu Đế 3. Tam pháp ấn được đề cập trong luật tạng. IV. Lợi ích và ứng dụng. 1. Đời sống tu tập. 2. Nhận rõ bản chất thật của cuộc sống. 3. Giáo dục mọi người theo lối nhìn Tam pháp ấn. C. KẾT LUẬN - Tóm tắt. - Bài học mở. Đề: HÃY TRÌNH BÀY TAM PHÁP ẤN Các bậc vĩ nhân ra đời thường để lại một sự nghiệp cao cả với những cống hiến có giá trị bất diệt, tồn tại mãi với thời gian và không gian. Sự xuất hiện của đức Thích Ca Mâu Ni trong trần thế là một điềm lành cho hết thảy chúng sanh đang đau khổ trong luân hồi sanh tử. Lời tán dương đức Phật của người đương thời đã chứng minh điều đó: “Thưa Ngài Cồ Đàm, thật vi diệu, như người dựng đứng lại những gì quạêng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những ai có mắt để thấy” (kinh Trung bộ). Suốt 49 năm thuyết pháp độ sanh, đức Phật đã để lại cho nhân loại một kho tàng chánh pháp vô giá; giáo pháp ấy được “Ngài khéo thuyết giảng, tự chứng ngay hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng được người trí chứng biết” để hiểu rõ sắc thái đặc biệt, tính chính thống của giáo lý đạo phật cũng như tính thiết thực trong sự nhận thức về cuộc đời và xây dựng cuộc sống an lạc hạnh phúc, chúng ta hãy tìm hiểu giáo lý Tam Pháp ấn, một giáo lý quan trọng được nhắc đến trong hầu hết các kinh điển, từ kinh tạng Nam truyền đến Bắc truyền và cả trong các bộ luận của Phật giáo. Ấn là chiếc ấn khuôn dấu, Pháp là những lời dạy của đức Phật được ghi lại trong ba tạng thánh điển, như vậy Pháp ấn là dấu ấn chứng nhận tính cách đích thực của Chánh pháp. Tam Pháp ấn là ba khuôn dấu Chánh pháp hay nói rõ hơn là giáo pháp của Phật phải có ba khuôn dấu này, mọi giáo lý không có ba pháp ấn này đều không phải của Đạo Phật. Trong kinh tạng quan niệm tam pháp ấn tức là “Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, niết bàn tịch tịnh” đây là quan điểm thuộc về nguyên thủy cổ điển. Bước qua thời kỳ hữu bộ, tam pháp ấn có thể được gọi là tứ pháp ấn: vô thường, khổ, vô ngã, niết bàn. Mãi cho đến thời kỳ bồ tát Long Thọ, Mã Minh thì triết học “Tánh không” cũng có phần phát triển và được coi là một trong tứ pháp ấn. Tuy nhiên, đây chỉ là sự triển khai của Tam pháp ấn. Bởi lẽ Niết bàn và Không cũng chỉ từ vô ngã mà ra cả. Để dung hòa giữ 2 luồn giáo lý Nam truyền và Bắc truyền, chúng ta hiểu Tam Pháp ấn chính là ba con dấu chánh pháp: “Vô thường – khổ – vô ngã” và cũng là một định thức chuẩn mực, tổng quát của tam pháp ấn. Vô thường, tiếng phạn là Anidya, không thường còn, là chuyển biến thay đổi, luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta. Bởi thế nói đến sắc vô thường, đây chính là phần vật lý. Chẳng hạn như thân thể ta luôn luôn biến chuyển trong từng sát na (sát na vô thường) và có sát na vô thường nên có sự chuyển biến từ sơ sinh qua thời kỳ thiếu niên, thanh tiên, già chết (nhất kỳ vô thường). Không chỉ thế mà “danh” cũng vô thường, đây là phần thuộc về tâm lý. Tâm lý của mỗi người không ngừng trôi chảy và biến chuyển, như dòng nước thác như bột bể. Trong sát na này tâm ta có thể khởi lên niệm thiện, chỉ sát na sau tâm ta đã khởi lên niệm ác … “… nó giống như hạt sương buổi sáng tan đi khi mặt trời vừa mọc. Nó giống như bọt nước, như dòng thác cuốn trôi đi tất cả những gì nó gặp và trôi mãi không ngừng. Nó giống như tại lò sát sinh, lúc nào cũng đương đầu với cái chết”. (Kinh Tăng Chi III, tr.70) Vô thường không tất yếu đưa đến khổ. Trong thực tế nếu không có vô thường thì sẽ không thể có sự sống và không thể có sự phát triển. Nếu sự vật không vô thường thì lịch sử tiến hóa của nhân loại sẽ không thể có, nền văn minh nhân loại sẽ chỉ luôn tồn đọng ở thời kỳ đồ đá cũ. Và nếu không có sự tác động của vô thường thì chúng ta sẽ không bao giờ có hy vọng đoạn tận các tập khí tham ái, phiền não đang tiềm ẩn sâu kín trong nội tâm chúng ta. Bởi thế chúng ta cần phải thâm hiểu vô thường một cách đích thực thì mới thấy được những lợi ích của nó. Hữu thần, đa thần luôn chấp thường tin vào ngã tạo hóa, vạn hữu do thượng đế sanh. Trong khi đó giới phiếm thần, vô thần lại sa vào chấp đoạn, chấp ngã tự thân. Đạo phật dựa trên thuyết duyên khởi để giải thích tất cả mọi vạn vật sinh ra và diệt đều dựa trên lý duyên khởi. Chính thuyết Duyên Khởi mà đức Thế Tôn đã khám phá và thuyết giảng. Không một chủ thuyết nào có thể đánh đôå được, vừa có cơ sở hợp lý, hợp mọi thời đại cho đến ngày nay vẫn còn đứng vững mãi … Khổ tiếng Pali Dukkha có nghĩa là sự bức bách, khó chịu, sự nóng bức … Thật ra từ Dukkha có một ý nghĩa sâu sắc và rộng rãi hơn. Ngoài nghĩa khổ đau và nó còn có nghĩa vô thường, bất toàn, bị động và các nghĩa này quyện chặt với nhau, có thể nói chính vô thường là sự khổ: “Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Nguyễn Du) Xa hơn nữa cái nghĩa khổ đau trong đạo Phật được hiểu là do tham ái, trong khi người đời cũng sợ khổ đau nhưng lại bám chặt vào tham ái. Khổ đau trong đời sống con người phải nói đến sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, buộc lòng sống chung với người không ưa thích là khổ, xa lìa người mình yêu là khổ, mong muốn không được là khổ, ngũ thủ uẩn là khổ. Nhìn trên mặt hiện tượng đời người ai cũng gặp hai- ba nỗi khổ trở lên như bệnh tật, mất mác, lo sợ … (khổ khổ). Cái khổ do sự biến hoại, do sự mất đi của cái mình đang có. Sống trong dục giới ai cũng có tâm ham muốn, chưa được muốn cho được đã được muốn được mãi nhưng vô thường là một khách quan không bao giờ chìu theo ý muốn của riêng ai nên đã làm cho ta đau khổ (hoại khổ) cũng là cái khổ do vô thường chi phối nhưng đặt nặng về mặt tâm lý “ý người sóng nỗi mây trôi, chốn xa tìm đến đến rồi lại đi” (hành khổ). Đức phật không phủ nhận hạnh phúc của cuộc sống khi ngài dạy đau khổ là một sự thật. Trái lại ngài dạy, chấp nhận có những hình thức khác nhau về hạnh phúc, cả vật chất lẫn tinh thần cho người xuất gia và tại gia, nhưng tất cả đều bị sự chi phối của vô thường nên đều bị ràng buộc trong sự khổ. Đạo Phật không bi quan và lạc quan mà là khách quan, không hứa hẹn một thiên đường giả tạo, không hù nhát một sự khổ hãi hùng. Đạo Phật chỉ cho ta sự thật của cuộc đời, chỉ nguyên nhân của nó và chỉ lối xuất ly. Phật dạy: “Này các thầy, Như Lai đã dạy các thầy những gì? Như Lai đã dạy các thầy sự thật về khổ đau, nguyên nhân đau khổ, đoạn diệt đau khổ và con đường đưa đến đoạn diệt đau khổ. Tại sao Như Lai dạy các thầy các chân lý đó? Vì chúng thật có ích và cần thiết để đi đến một đời sống lý tưởng, vì chúng làm cho các thầy từ bỏ mọi dục lạc, giải thoát mọi sự say đắm, chấm dứt mọi khổ đau đi đến thanh tịnh, giác ngộ, Niết Bàn”. (Tương Ưng V) Pháp ấn thứ ba là vô ngã, nghĩa là không có một bản chất trường tồn bất biến, không có một chủ thể tuyệt đối, không có linh hồn bất diệt, không có đấng sáng tạo vĩnh cửu. Vì sự vật đều do nhân duyên sinh, sự hiện hữu của mỗi sự vật, mỗi chúng sanh là sự hiện hữu trong tương quan, do tác động nhân duyên mà tạo thành và thân thể của chúng ta cũng do bốn đại kết hợp, năm uẩn định hình trong cơ chế nhân duyên, nên sự hiện hữu của con người là vô ngã. Theo giáo lý nhà Phật, cái tâm lý gồm: Thụ, tưởng, hành, thức, bốn ấm này cùng với sắc ấm che lấp trí tuệ, làm cho ta không nhận thấy được cái “Ta” chân thật, cái thật tính, cái chân ngã của chúng ta. Cái tâm lý gồm những cảm giác nhận thức suy tưởng (tâm lý là hội hợp của thất tình: hỷ, nộ, ai, lạc, ái ố, dục). Cái “Ta” sinh lý sắc và cái “Ta” tâm lý thọ, tưởng, hành, thức đều không phải là cái “Ta” chân thật mà chỉ là cái “Ta” giả tưởng do nhân duyên giả hợp mà có, không phải là thực có. Con người năm uẩn do duyên sinh nên con người năm uẩn là vô ngã, vô thường và đem lại khổ đau. Ngày nay đứng về quan điểm triết học, đã có rất nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau về vô ngã-vô thường nên làm nhiều người khó hiểu, hoặc không thể hiểu nỗi. Tất nhiên, từ những cách hiểu khác nhau về quan điểm vô ngã–vô thường, con người mới có thể sống và thực hiện thành công mơ ước của mình. Đối với hành giả nhờ vô ngã–vô thường mới chuyển từ phàm phu trở thành vị giác ngộ, giải thoát, Niết bàn. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” “Chiếu kiến ngủ uẩn giai không” – “Không tướng, bất tăng, bất giảm, không trung vô sắc, vô thọ …”. (Bát Nhã Tâm Kinh) Bát Nhã chú trọng đến việc thoát khổ, con người sẽ thoát khổ, theo Bát Nhã khi thực hành và thấu hiểu Tánh Không trong kinh thì sẽ có trí tuệ và thấu rõ được tất cả đều là vô ngã (Không). Khổ là vô ngã và con người cảm thọ khổ cũng vô ngã, bởi cả hai đều là chuyên sinh, thấy được như vậy nên không còn chấp chặt vào nữa. Không cho là tự ngã của ta … từ đó chấp thủ diệt, Aùi diệt, Khổ diệt. Đấy là xuất ly, ngỏ hầu vào giải thoát vậy. Bởi vậy, Tánh Không trong kinh Bát Nhã là có tất cả chứ không phải là không, nhưng nó không chơn thật, không vững chắc nên là không. Chỉ cần hiểu và không chấp chặt vào thì sẽ được giải thoát. Tam pháp ấn là bản chất của thế giới hiện tượng, được nhìn thấy qua cái nhìn trí tuệ của bậc Thánh. Trong ba đặc tính: vô thường, khổ, vô ngã thì đặc tính cuối cùng là dấu ấn đặc biệt nhất trong giáo lý Phật giáo. Vì rằng có nhiều hệ tư tưởng khác và các nhà khoa học cũng đã đề cập đến ý niệm vô thường, chẳng hạn như Khổng Tử “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ?” (Trôi chảy hoài ngày đem không thôi, như thế ư?) hay Héraclite “không thể tắm hai lần trong cùng một dòng nước” nhưng dường như họ không có ý niệm về tính vô ngã trong vạn sự, vạn vật. Hay nói cách khác Tam Pháp ấn là ba đặc điểm nổi bật nhất của Phật giáo, là ba khuôn dấu xác định, chứng nhận tính chính thống của giáo lý Đạo Phật để phân định sự khác biệt với các tôn giáo khác. Tam Pháp ấn được bàn bạc rải rác khắp trong hệ thống giáo lý Phật giáo, cả trong kinh điển Nam tạng và Bắc tạng. Trong giáo lý duyên khởi, Vô ngã là hệ quả thẩm sát liên tục các nguyên lý duyên khởi và vô thường, tất cả mọi vật đều nương vào nhau mà tồn tại, không có một chủ tể nhất định tuyệt đối. Đối với giáo lý tứ diệu đế, tam pháp ấn thể hiện rõ nét ở diệu đế thứ nhất là chân lý về sự thật khổ đau, và khi nĩi vô ngã là Niết bàn, thì thực tại vô ngã ấy chính là diệu đế thứ ba. Đối với Bát chánh đạo, con đường trung đạo gồm tám chi phần nhưng chánh tri kiến là yếu tố đi hàng đầu trong mọi lộ trình tu tập vì khi đề cập đến chánh tri kiến là nói đến sự thấy biết vềø tứ đế, về vô thường và vô ngã. Giáo lý Tam pháp ấn giúp cho chúng ta nhận thức và hiểu rõ bản chất thực của bản thân cuộc sống xung quanh và hiện tượng giới. Đồng thời tam Pháp ấn cũng là chìa khóa giúp chúng ta đi ra khỏi điên đảo vọng tưởng của dục vọng, ngoan cố, chấp thủ và khổ đau. Giáo lý của đạo Phật không nâng đỡ sự ngu si, sợ hãi và dục vọng, mà cốt làm cho con người giác ngộ bằng cách trừ khử và tiêu diệt chúng, đánh vào tận gốc rễ của ngu si và sợ hãi ấy. Có hai ý tưởng ăn sâu vào tâm lý con người, đó là tự vệ và tự tồn. Vì tự vệ, con người đã tạo ra Thượng đế, và vì muốn tự tồn, người ta đã tạo ra ý tưởng về một linh hồn bất tử hay ngã. Theo Phật giáo những ý tưởng của chúng ta về thượng đế và linh hồn là sai lạc, trống rỗng. Nó phát sinh ra những tư tưởng tai hại về “tôi” và “của tôi”. Nó là nguồn gốc của mọi rối ren trong cuộc đời. “Tất cả pháp vô ngã. Với tuệ quán thấy vậy. Đau khổ được nhàm chán. Chính con đường thanh tịnh.” - Pháp cú 279 - Sự có mặt của Đạo Phật, với cái nhìn tuệ giác về thực tại: vô thường, khổ, vô ngã đã đem lại luồng sinh khí mới cho xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Trải qua 3000 năm, Đạo Phật đã được thử thách, cọ sát với thời gian và giá trị, tác dụng Đạo Phật vẫn như xưa. Điều đó chứng tỏ những gì đức Phật giảng dạy cho con người là chân lý, là thực tại. Với giáo lý Tam Pháp ấn sẽ giúp cho chúng ta nhận thức đúng, có chánh kiến đối với các hoạt động tâm sinh lý của bản thân và của cuộc đời, với người Phật tử, tam pháp ấn là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa đi vào giải thoát… DÀN BÀI TỨ ĐẾ A/ MỞ BÀI : - Duyên khởi Tứ đế B/ THÂN BÀI: - Nhân duyên 4 đế • Định nghĩa: gắn liền với kinh sách. • 3 chuyển (thị, khuyến, chứng), 12 hành tướng  nhân sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh. • 1 đế tức là 4 đế. - Khổ đế • 8 khổ: sanh, già, bệnh… (tóm lại) • 5 uẩn là khổ. • Tam khổ: hành khổ, hoại khổ, khổ khổ. Khổ khổ là một trạng thái của thọ, người bị khổ khổ là ái. Aùi: - thường = lạc thọ - lạc = khổ thọ - ngã = chấp thọ - tịnh = xả thọ.  Nhận thức về trung đạo của Đạo Phật Tại vì sao người ta nói đạo Phật là yếm thế? Thái độ sống yếm thế ấy. Nhận thức đời sống  Phật  Trung đạo. Duyên khởi: quản lý tư duy khác tứ đế: quản lý sống. - Tập đế • Aùi: + Cái nhân chính khởi nên tất cả các cái khác. + 12 nhân duyên. + Tham # khác # sân. + Căn bản là si (vô minh) + Chấp thủ ngã và ngã sở (Vì cái sống,vì tôi và của tôi nên tôi mới khinh người  mạn độn sử) + Aùi được xem là khát ái • Tập đế là tập hợp nhóm hợp phiền não: 10 phiền não chính đó là lợi sử và độn sử. + Phiền não gốc nhiều t/g tu tập mới đoạn diệt được đó là tham, sân, si, mạn, nghi (độn sử): kiến hoặc, tư hoặc. + Kiến đạo thì lợi sử hiết: thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà biến (lợi sử). • Tập đế chính là 12 duyên khởi. - Diệt đế + Ái diệt tức niết bàn… + Phi ngôn ngữ. + Tứ đế Niết bàn: thường lạc ngã tịnh. + Tứ quả Niết bàn. - Đạo đế + 37 phẩm trợ đạo  8 thánh đạo  giới định tuệ. - Tầm quan trọng của Tứ đế: + Các kinh đều dùng. + Các tông phái đều dùng. + Người Phật tử nào cũng dùng. - Ứng dụng của tứ đế vào trong đời sống  tư tưởng sống. - Nhận định. C/ KẾT LUẬN Đề: HÃY TRÌNH BÀY VỀ TỨ ĐẾ Tứ đế là bốn chân lý liên quan trực tiếp đến chúng sanh trong đó có chúng ta.Trong kinh Rohitassa đức Phật dạy: “Trong chính xác thân này cùng với tri giác và tư tưởng, Như Lai tuyên bố: thế gian, nguồn gốc của thế gian, sự chấm dứt thế gian và con đường đưa đến sự chấm dứt thế gian”. Ở đây, thế gian chỉ cho sự đau khổ. Sau khi giác ngộ và quyết định lên đường giáo hóa, đức Thế Tôn rời cội Bồ đề đến rừng Ưu-lâu-tần-loa tại xứ Ba-la-nại chỗ chư Thiên toạ xứ, ở vườn Nai để thuyết bài pháp đầu tiên độ năm anh em Kiều Trần Như, 5 người bạn cũ cùng tu khổ hạnh với Phật trước khi Phật rời vườn Nai đến tham thiền tại Bồ đề đạo tràng. Bài pháp đầu tiên ấy chính là Tứ Diệu Đế. Đế, tiếng Ấn Độ là Sacca: có nghĩa là sự thật, chân lý, cái có thật không ai phủ nhận được trong mọi thời gian và không gian là một sự kiện hiển nhiên không còn tranh luận nữa. Theo Phật giáo, khổ đau, nguồn gốc của khổ đau, sự chấm dứt khổ đau và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau (ta thường biết đó là (Khổ – Tập – Diệt – Đạo) là bốn chân lý, còn gọi là 4 diệu đế, 4 thánh đế. Giáo lý này gọi là Thánh Đế bởi vì nó là như thật và đưa đến thoát khổ như đức Phật dạy: “Bốn thánh đế, này các tỳ kheo, là như thật, không ly như thật, không khéo như thật. Do vậy được gọi là Thánh Đế” (Tương Ưng V) Như vậy, Tứ Diệu đế là giáo lý nền tảng tối trọng yếu của con đường đi vào giải thoát, giải thoát tri kiến, chứng ngộ Niết bàn. Đức Thế Tôn đã giảng Tứ Diệu Đế qua “Ba chuyển” và “mười hai hành tướng”. Ba chuyển là thấy rõ nỗi khổ đau và chỉ cho chúng sanh thấy rõ nỗi khổ đau gọi là “Thị chuyển”, hiểu rõ nỗi khổ đau và khích lệ chúng sanh nhận rõ nỗi khổ đau gọi là “Khuyến chuyển”, đã chứng ngộ và dứt trừ khổ đau gọi là “Chứng chuyển”. Mỗi diệu đế có ba chuyển, nên Tứ Diệu Đế gồm thành mười hai hành tướng. Tứ Diệu Đế giảng về chân lý cao thượng do chính đức Thế Tôn khám phá trực nhận, không nhờ sự giúp đỡ của ai khác. Bốn chân lý ấy là tuyệt đối vĩnh cửu, dẫu Chư Phật có xuất thế hay không thì bốn chân lý ấy vẫn tồn tại. Nói cho đủ là Tứ Đế nhưng thực ra chỉ có một sự thật muôn thuở rằng ai thấy rõ khổ đế thì người ấy đồng thời cũng thấu suốt tứ đế, đó là mối quan hệ duyên sinh của bốn chân lý, nghĩa là thấy được một chân lý tức là thấy toàn bộ chân lý. “Này các tỳ kheo, ai thấy khổ, người ấy cũng thấy khổ tập, cũng thấy khổ diệt, cũng thấy con đường đưa đến khổ diệt…” (Tương Ưng V) Diệu đế thứ nhất thường được dịch là “Chân lý cao thượng về sự khổ”. Trong kinh Tương Ưng V đức Phật dạy: “Này các tỳ kheo, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu không được là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ”. Con người phàm phu chúng ta, từ khi sinh cho đến lúc bệnh chết đều hoàn toàn sống trong sự khổ đau triền miên. Nói đến cái khổ của con người chính là nói đến ngũ uẩn, trong đó sắc, thọ, tưởng, hành, thức là năm yếu tố che đậy (ấm), ràng buộc (uẩn), hữu tình trong dòng sinh tử luân hồi. Khi ngũ uẩn phát triển lẫy lừng cũng có nghĩa là dòng sinh tử tiếp nối bất tận. Theo Phật Giáo cái khổ sinh tử là nỗi thống khổ hơn hết. Nhưng bản thân của Ngũ ấm không phải là khổ mà cái khổ là do chấp thủ nơi ngũ ấm như chấp sắc thân này là của ta là tự ngã của ta. Đối với thọ tưởng, hành, thức cũng như vậy nên kinh dạy: “Chính ngũ thủ uẩn là khổ”. “Ốc lậu cánh tạo liên dạ vũ. Thuyền trì hựu ngộ đả đầu phong” (Nhà dột lại gặp mưa suốt đêm Thuyền chở nặng lại gặp gió ngược chiều) Nhìn trên mặt hiện tượng, đời người ai cũng gặp hai ba nỗi khổ trở lên như: bệnh tật, mất mát, lo sợ… (khổ khổ). Cái khổ do sự biến hoại, do sự mất đi của cái mình đang có, sống trong dục giới ai cũng có tâm ham muốn, chưa được muốn cho được, đã được muốn được mãi… nhưng vô thường là một khách quan không bao giờ chiều theo ý muốn riêng của một ai nên đã làm cho ta đau khổ (hoại khổ). Cũng là cái khổ do vô thường chi phối nhưng đặt nặng về mặt tâm lý: “Ý người sóng nổi mây trôi, chốn xa tìm đến, đến rồi lại đi” (hành khổ). Cả ba trạng thái này sẽ đoạn diệt nếu như chúng ta tu hành một cách đúng như pháp của Đạo Đế. Đức Phật không phủ nhận hạnh phúc của cuộc sống khi Ngài dạy đau khổ là một sự thật. Trái lại, Ngài dạy chấp nhận có những hình thức khác nhau về hạnh phúc, cả vật chất lẫn tinh thần cho người xuất gia và tại gia. Nhưng tất cả chịu sự chi phối của vô thường nên đều bị ràng buộc trong đau khổ. Đạo Phật không bi quan và lạc quan mà là khách quan, không hứa hẹn một thiên đường giả tạo, không hù nhát một sự khổ hãi hùng. Đạo Phật chỉ cho ta sự thật của cuộc đời, chỉ nguyên nhân của nó và chỉ lối xuất ly. Nói đến khổ tập thánh đế tức là tìm ra nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân ấy không đâu xa lạ, đó chính là Ái. Trong kinh Tương Ưng V có nói về khổ tập thánh đế. “Chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, vô hữu ái”. Như trên đã nói, năm uẩn là khổ, vì năm uẩn là vô thường nhưng thật ra không phải vì năm uẩn bị vô thường chi phối là khổ mà chính do luyến ái năm uẩn vô thường ấy là khổ. Chính khát ái đã làm cho hữu tình tái sanh và khát ái gắn liền với cuộc sống làm cho hữu tình tìm cầu lạc thú, chạy theo lạc thú mà phải lang thang nay đây mai đó. Khát ái lồng trong cuộc sống như máu lồng trong thân xác. Nhưng không phải khát ái là đầu tiên và duy nhất. Ngoài ái ra còn có nhiều tâm lý xấu khác nữa gọi chung là phiền não, chính các phiền não đã trói buộc, làm rối loạn tâm chúng sanh, gây trở ngại cho sự tu hành chứng đắc giải thoát, nói rõ hơn đó chính là mười kiết sử. Trong đó gốc phiền não là năm món độn sử (tham, sân, si, mạn, nghi), năm món này có tính chất nặng nề, có gốc rễ sâu xa khó đoạn trừ. Năm kiết sử sau là Ngũ lợi sử (thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến) có tính cách lanh lợi, dễ sinh ra cũng dễ diệt. Muốn đoạn trừ các kiết sử này thì phải được nhìn dưới hai mặt: kiến hoặc đến quả vị kiến đạo thì đoạn (mê lý) – Tư hoặc (tu đạo sở đoạn hoặc) phải tu tập từ từ mới dứt trừ được. “Trăm năm trong cõi người ta. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Nguyễn Du) Người đời có thấy vô thường là khổ nhưng lại chấp chặt vào lòng khát ái và tự ngã nên càng đau thì lại càng than thở, càng than thở thì càng nghe đau. Phật giáo cũng nhìn thấy đời vô thường và khổ đau. Do vô thường mà phải đau khổ. Do mọi chuyện đời vì duyên sinh mà vô thường, do lòng khát ái muốn nắm giữ cuộc sống không ngừng trôi chảy mà khổ đau. Khổ đau thật sự theo Phật giáo không phải vì vô thường mà là vì chấp thủ, vì lòng tham ái. Đến đây ta có thể thấy Tập đế chính là Ái hay là duyên sinh khởi. Chân lý cao thượng thứ ba là lối thoát khổ đau ra khỏi sự tiếp nối của dòng sinh tử, gọi là Ái diệt – Niết bàn. Trong kinh Tương Ưng V có nói về khổ tập diệt thánh đế “Chính là sự đoạn diệt, ly tham không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước”. Muốn diệt trừ tận gốc khổ đau ta phải đoạn trừ tham ái. Đức Phật không nói Diệt Đế là gì? Vì ngôn ngữ không thể diễn đạt được Niết bàn. Nếu diễn đạt thì ngôn ngữ sẽ gặp một thách thức không khắc phục được. Bởi Niết Bàn thường diễn tả bằng những từ ngữ phủ định – ái diệt tức Niết bàn, vô vi, sự thổi tắt tham ái… Nói đến Đạo đế tức là nói về con đường hay nguyên tắc dẫn đến sự chấm dứt đau khổ và đưa đến thực nghiệm Niết bàn.“Khổ diệt đạo thánh đế chính là Bát chánh đạo, tức là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định”.(Tương Ưng V) Đạo Đế tức là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau. Con đường này là trung đạo, bởi vì nó tránh hai cực đoan hưởng thụ dục lạc tầm thường và khổ hạnh ép xác. Trung đạo này được thực nghiệm bằng 37 phẩm trợ đạo mà trong đó trọng tâm là bát chánh đạo. Vì đó là con đường tám phần chân chính đưa hành giả đến an tỉnh giác ngộ – giải thoát – Niết Bàn. Nói đến 37 phẩm trợ đạo chứ thật ra nó đều nằm cả trong Bát Chánh Đạo, về chánh kiến có tuệ căn, tuệ lực của ngũ căn ngũ lực, phần tuệ quán như ý túc, trạch pháp của tứ như ý túc và thất bồ đề phần kế cả tứ niệm xứ đều nằm trong chánh tư duy. Đối với chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng – ba chánh này gìn giữ về thân, khẩu, ý tất cả đều chứa ngầm trong 37 phẩm trợ đạo. Thứ đến là chánh tinh tấn có chứa tấn căn, tấn tực, tinh tấn giác chi của ngữ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần và kể cả tứ chánh cần cũng vậy. Nhất tâm như ý túc, niệm căn, niệm lực, niệm giác chi đều thuộc chánh niệm. Cuối cùng là chánh định tức chứa toàn bộ tứ niệm xứ – tứ như ý túc, tứ chánh cần, định giác chi, định căn, định lực. Suốt 45 năm thuyết pháp, bằng cách này hay cách khác, hầu hết giáo lý của Phật đều đề cập đến Bát Chánh Đạo vì đây là trọng tâm, là con đường tất yếu đưa đến giải thoát Niết Bàn. Đức Phật dạy: “Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Chánh Đạo thì ở đấy không có tứ quả sa môn” (Kinh Đại Bát Niết Bàn, tb I). Đức Phật dạy thêm: “Nếu những tỳ kheo sống chân chính (theo Bát Chánh Đạo) thì cõi đời này không thiếu vắng những vị la hán”. Tu tập theo Bát Chánh Đạo không phải là thực hành từng phần một theo thứ tự mà mỗi thành phần có liên quan mật thiết với nhau, hỗ tương phát triển cho nhau. Bất kỳ tu tập một phần nào ta cũng phải lấy chánh kiến làm hàng đầu, cùng với chánh tinh tấn và chánh niệm quyện vào nhau giống như sợi dây đánh ba múi vậy. Bát Chánh Đạo có mục đích làm phát sinh, làm phát triển và hoàn thiện tam vô lậu học giới, định, tuệ. Tất cả giáo lý tu tập đều được xây dựng trên nền tảng của giới định tuệ. Giới như nền tảng từ đó định và tuệ phát khởi. Nếu thiếu căn bản giới thì định và tuệ không vận dụng được, chính vì thế có được một trong ba lậu hoặc thì có được tất cả. Toàn bộ Đạo đế (Bát Chánh Đạo) đều chú trọng đến tam vô lậu học, và nếu đi ra ngoài khỏi giới định tuệ thì không còn là Phật pháp nữa. Tam vô lậu học không thể vắng mặt trong tiến trình tu tập được. Nhưng giới định tuệ đã là tiến trình đưa đến giải thoát giác ngộ thì nó cũng chỉ là pháp môn phương tiện như trong kinh Kim Cương đức Phật dạy. “Tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ dã, Pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp” (Phải biết pháp của ta nói cũng giống như chiếc bè để vượt qua, chánh pháp mà còn phải bỏ huống gì là phi pháp). Giáo lý Tứ Diệu Đế là giáo lý thống nhất, nền tảng của các bộ phái Phật giáo và quan trọng nhất về mặt tôn chỉ trong hệ thống giáo lý của đức Phật. Giáo lý này vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh, là phương pháp nhận thức sống và tu tập, một lối nhận thức tư duy rất khoa học, khách quan. Có thể nói. Tứ Điệu Đế là một giáo lý hoàn chỉnh đầy tính nhân bản, đem lại niềm tin và sức sống cho con người và xã hội. Giáo lý này bao hàm tất cả các giáo pháp mà đức Phật đã dạy, có thể thực hành cho người xuất gia cũng như tại gia, ai cũng tu tập được, ai cũng có thể nếm hương vị giải thoát qua giáo lý Tứ Điệu Đế. Giáo lý tứ Điệu Đế được đức Thế Tôn trình bày theo tương quan nhân quả, đau khổ là kết quả, tham ái là nguyên nhân. Niết Bàn là kết quả và con đường diệt khổ là nhân. Từ phương pháp suy luận này, nhìn vào đời sống chúng ta thấy rằng bất cứ hiện tượng tâm lý và hiện tượng xã hội, khổ đau hay bất cứ pháp hữu vi nào cũng đều có nguyên nhân của nó. Ở đây ta có thể áp dụng giáo lý Tứ Đế vào cuộc đời bằng cách tìm hiểu, nhận rõ nguyên nhân của mọi sự khổ đau, mọi hiện tượng tâm lý xấu những nỗi lo âu sợ hãi … Sau khi tìm hiểu nguyên nhân, chúng ta bình tĩnh, sáng suốt tìm cách giải quyết vấn đề theo sự hiểu biết và trí tuệ của mỗi chúng ta, Qua giáo lý Tứ Điệu Đế, chúng ta thấy Phật giáo không bi quan, không lạc quan, có thể nói Phật giáo rất thực tiễn vì Phật giáo có một cái nhìn rất thực tế về con người và cuộc sống. Điều này cho thấy Phật giáo không ru ngủ con người vào trong những tín điều thần quyền, vào thiên đường giả tạo, mà luôn đánh thức con người trực nhận được sự thật của con người về chân lý của cuộc đời qua tôn chỉ: “Hiểu được khổ đau và sự diệt khổ” Mỗi khi nhận thức được khổ đau và con đường thoát khổ mà đức Phật đã dạy, mỗi chúng ta cần phải nổ lực tu tập để giải thoát khỏi đau khổ, triền phược và tự thân chứng ngộ giải thoát Niết Bàn. Đề : TRÌNH BÀY ĐẠO ĐẾ QUA BÁT CHÁNH ĐẠO DÀN BÀI A/ Mở bài : 1, Duyên khởi của tứ đế 2, Dẫn Nhập vào đề tài chính Đạo Đế. B/ Thân bài : 1, Định danh và giải thích về Đạo Đế + Định danh (dựa vào kinh điển) + Giải thích 2, Giới thiệu 37 phẩm trợ đạo qua Bát Chánh Đạo. 3, Đạo Đế ( Bát Chánh Đạo) được xây dựng trên nền tảng giới- định- tuệ. + Nói về giới để trừ nghiệp thân, khẩu, ý + Tu thiền định để trừ năm triền cái : tham dục, sân si,trạo cử, hôn trầm . để chứng và thúc liễm 5 triền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc,xả. + Tuệ học : trong tuệ có định, giới … 4, Đạo Đế (Bát Chánh Đạo) cải đạo và hoàn thiện 3 nghiệp. + Tu Đạo đế để đoạn tập đế -> đoạn nghiệp. + Tu Đạo đế để chuyển nghiệp -> 12 nhân duyên -> chấm dứt khổ đau -> Ái diệt. + Tu Đạo đế để dẫn đến NB – giải thoát. 5, Quan hệ Đạo đế với khổ đế – diệt đế. 6, Đạo đế với các kinh điển và tông phái 7, Đạo đế với đời sống thực tại. C. Kết luận Đề : TRÌNH BÀY ĐẠO ĐẾ QUA BÁT CHÁNH ĐẠO Đạo Phật là một tơn giáo lớn của nhân loại .Aûnh hưởng của Đạo Phật đối với con người và xã hội mang ý nghĩa rất lớn trong quá trình tiến bộ của con người, và đã tạo nên một nền văn hĩa nhân bản theo tinh thần của xã hội Á Đơng hơn 2.000 năm qua. Rhys Danids giáo sư sử học phát biều: “Là Phật tử hay khơng là Phật tử tơi đã quan sát mọi hệ thống của các tơn giáo trên thế giới, tơi đã khám phá ra rằng khơng một tơn giáo nào cĩ thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt của Bát Chánh Đạo và Tứ Diệu Đế của đức Phật. Tơi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tơi theo con đường đĩ. Thật vậy, tứ diệu đế là bốn chân lý cao thượng do chính đức Thế Tôn khám phá và trực nhận. Bốn đế ấy là tuyệt đối vĩnh cưũ thường còn. Dẫu đức Thế Tôn có nói hay không thì bốn chân lý ấy vẫn có mặt và tồn tại, chính vì thế mà ngày nay các tông phá

[Trở về]

Các bài viết khác :
+ SO SÁNH TƯ TƯỞNG “VÔ VI” CỦA LÃO TỬ VỚI TƯ TƯỞNG “VÔ VI” TRONG PHẬT GIÁO
+ HÌNH ẢNH CON NGƯỜI QUA BÀI “PHỔ THUYẾT SẮC THÂN” TRONG KHÓA HƯ LỤC CỦA TRẦN THÁI TÔNG
+ NHỮNG ĐIỂM ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN TRIẾT HỌC TRUNG QUÁN
+ BỐI CẢNH TRIẾT HỌC TÔN GIÁO CỦA XÃ HỘI ẤN ĐỘ THỜI KỲ TIỀN PHẬT GIÁO
+ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO TRÚC LÂM QUA SỰ THỐNG NHẤT TƯ TƯỞNG CÁC THIỀN PHÁI PHẬT GIÁO
+ NHỮNG CHỨNG CỨ XÁC ĐỊNH TRIỀU ĐẠI HÙNG VƯƠNG TỒN TẠI CHO ĐẾN THỜI HAI BÀ TRƯNG
+ SO SÁNH TƯ TƯỞNG “NHÂN” CỦA KHỔNG TỬ VÀ MẠNH TỬ
+ BẢN CHẤT CỦA BÀ LA MÔN DƯỚI CÁI NHÌN CỦA ĐẠO PHẬT
+ TÍNH VĂN HỌC TRONG PHẨM PHƯƠNG TIỆN CỦA KINH PHÁP HOA
+ VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC TRONG SỰ TRƯỞNG THÀNH NHÂN CÁCH
+ TÌNH HÌNH VĂN HỌC PHẬT GIÁO TỪ THỜI ĐỨC PHẬT ĐẾN THỜI ASOKA
+ HỆ THỐNG TỰ VIỆN (TỊNH XÁ) HỆ PHÁI KHẤT SĨ VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA TRỤ TRÌ TRONG VIỆC QUẢN LÝ TỰ VIỆN
+ HÌNH ẢNH ĐẶC TRƯNG CON NGƯỜI ĐẠI VIỆT TRONG ĐỜI LÝ – TRẦN
+ LỊCH SỬ TRUYỀN THỪA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM ĐÃ TÁC ĐỘNG VÀO QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA XÃ HỘI NƯỚC ĐẠI
+ NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG ĐƯỢC RÚT RA TỪ CÁC TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI
Tin nổi bật
Đức Đạt Lai Lạt Ma cầu nguyện tại Thượng Viện Hoa Kỳ
Chùm ảnh : Không khí đón mừng Lễ Phật đản tại thành phố Jeonju - Hàn Quốc
Tu sửa tượng Phật cao nhất thế giới
LIEN KET
Duc Phat
Hạ Long
N. Augusta North Augusta, South Carolina Forecast Augusta Augusta, Georgia Forecast Hà Nội Ha Noi Tp Tam Kỳ Da Nang Tp Hồ Chí Minh Ho Chi Minh New Delhi New delhi Tokyo Tokyo

Address: 924 W Martintown, North Augusta, SC 29841 Tel: +16789252202

Từ khóa » Thuyết Duyên Sinh Vô Ngã