Các Khu định Cư Eo Biển - Wikipedia

Các khu định cư Eo biển
Tên bản ngữ
  • Straits Settlements (tiếng Anh)Negeri-negeri Selat (tiếng Mã Lai)نݢري٢ سلت叻嶼呷, 三州府 (tiếng Trung Quốc)
1826–1942Nhật Bản chiếm đóng: 1942–19451945–1946
Quốc kỳ Các khu định cư Eo biển Quốc kỳ Quốc huy Các khu định cư Eo biển Quốc huy
Quốc ca: "God Save the Queen"
Tổng quan
Vị thếThuộc địa của Anh
Thủ đôSingapore
Ngôn ngữ thông dụng
  • Tiếng Mã Lai
  • Tiếng Anh
  • Tiếng Hoa
  • Tiếng Tamil
Chính trị
Chính phủ
  • Dưới quyền công ty cai trị (1826–1867)
  • Quân chủ lập hiến (1867–1946)
Quốc vương 
• 1820–1830 George IV
• 1936–1852 George VI
Thống đốc 
• 1826–1830 (đầu tiên) Robert Fullerton
• 1934–1846 (cuối cùng) Shenton Thomas
Lịch sử
Thời kỳĐế quốc Anh
• Hiệp định Anh-Hà Lan 17 tháng 3 năm 1824
• Thành lập dưới quyền    Công ty Đông Ấn Anh 1826
• Chuyển thành    Thuộc địa vương thất 1 tháng 4 năm 1867
• Hợp thành    Liên bang Mã Lai và    Thuộc địa vương thất     Singapore 1 tháng 4 năm 1946 1946
Kinh tế
Đơn vị tiền tệ
  • Đô la Eo biển (đến 1939)
  • Đô la Mã Lai (1939–1946)
Tiền thân Kế tục
Penang
Singapore
Malacca thuộc Hà Lan
Dindings
Liên hiệp Malaya
Singapore thuộc Anh
Úc
Dindings
Hiện nay là một phần của
  •  Malaysia
  •  Singapore
  •  Úc

Các khu định cư Eo biển (tiếng Anh: Straits Settlements; tiếng Mã Lai: Negeri-negeri Selat; tiếng Trung: 叻嶼呷) là một nhóm các lãnh thổ của Anh nằm tại Đông Nam Á. Nó được thành lập vào năm 1826 và nằm dưới quyền kiểm soát của Công ty Đông Ấn Anh, chuyển sang nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh với địa vị một thuộc địa vương thất vào ngày 1 tháng 4 năm 1867. Thuộc địa bị giải tán vào năm 1946 trong quá trình tái tổ chức các lãnh thổ phụ thuộc của Anh tại Đông Nam Á thời hậu chiến.

Các khu định cư Eo biển gồm có bốn khu định cư riêng biệt: Malacca, Dinding, Penang và Singapore cùng với đảo Christmas và quần đảo Cocos. Đảo Labuan nằm tại ngoài khơi bờ biển đảo Borneo cũng được hợp nhất vào thuộc địa từ năm 1907 và trở thành một khu định cư thành phần riêng biệt vào năm 1912. Hầu hết lãnh thổ của Các khu định cư Eo biển nay thuộc về Malaysia, Singapore độc lập vào năm 1965, trong khi đảo Christmas và quần đảo Cocos được chuyển sang nằm dưới quyền kiểm soát của Úc.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
Một phần của loạt bài về
Lịch sử Malaysia
Flag of Malayan Union between 1946 and 1948 Flag of Malaysia
Lịch sử Malaysia
Các vương quốc đầu tiên
Xích Thổ (100 TCN–TK7)
Gangga Negara (TK2–TK11)
Langkasuka (TK2 - TK7)
Bàn Bàn (TK3 – TK6)
Vương quốc Kedah (630-1136)
Srivijaya (TK7 - TK14)
Thời kỳ Hồi giáo ảnh hưởng
Hồi quốc Kedah (1136–TK19)
Hồi quốc Melaka (1402–1511)
Hồi quốc Sulu (1450–1899)
Hồi quốc Kedah (1528–TK19)
Thuộc địa của Châu Âu
Malacca thuộc Bồ Đào Nha (1511-1641)
Malacca Hà Lan (1641-1824)
Malaysia thuộc Anh (1641-1946)
Vương quốc Sarawak (1841–1946)
Malaysia trong thế chiến thứ hai
Bắc đảo Borneo trong liên bang Bắc đảo Borneo (1882–1963)
Nhật Bản xâm chiếm (1941–1945)
Liên hiệp Mã Lai (1946–1948)
Tiến tới thống nhất và độc lập
Liên bang Mã Lai (1948–1963)
Độc lập (1957)
Liên bang Malaysia (1963–hiện nay)
  • x
  • t
  • s

Các khu định cư Eo biển được thành lập sau Hiệp định Anh-Hà Lan 1824, theo đó quần đảo Mã Lai bị phân chia thành một khu vực thuộc Anh tại phía bắc và một khu vực thuộc Hà Lan tại phía nam. Kết quả này dẫn đến Anh trao đổi Bencoolen với thuộc địa Malacca của Hà Lan và quyền kiểm soát Singapore không bị tranh chấp. Các khu định cư có phần lớn dân cư là người Hoa cùng một thiểu số người Âu song đóng vai trò quan trọng.[1] Thủ đô của Các khu định cư Eo biển được chuyển từ Penang đến Singapore vào năm 1832. Đặc điểm phân tán của các khu định cư khiến việc quản trị trở nên khó khăn và sau khi Công ty Đông Ấn Anh mất độc quyền giao dịch đồ sứ vào năm 1833 thì việc quản trị trở nên tốn kém.[2]

Trong thời kỳ nằm dưới quyền kiểm soát của Công ty Đông Ấn Anh, Các khu định cư Eo biển được sử dụng để định cư các tù binh dân sự và quân sự người Ấn Độ,[3] khiến chúng có được hiệu là 'Vịnh Botany của Ấn Độ'.[4] Trong hai năm 1852 và 1853, diễn ra các cuộc nổi dậy nhỏ của phạm nhân tại Singapore và Penang.[5] Bất mãn với sự quản trị của Công ty Đông Ấn Anh, năm 1857 dân cư người Âu tại Các khu định cư Eo biển gửi một đơn kiến nghị đến Quốc hội Anh[6] yêu cầu được quản lý trực tiếp; song ý tưởng không thành do Khởi nghĩa Ấn Độ 1857.

Khi một "Đạo luật bịt miệng" được áp đặt nhằm ngăn ngừa khởi nghĩa tại Ấn Độ lan rộng, báo chí Các khu định cư Eo biển phản ứng giận dữ, xem đây là một điều phá vỡ mọi nguyên tắc tự do và thảo luận tự do.[7] Do có ít hoặc không có tuyền thông bản ngữ trong Các khu định cư Eo biển, một hành động như vậy dường như không thích hợp: nó hiếm khi được thi hành và kết thúc trong chưa đầy một năm.[8]

Ngày 1 tháng 4 năm 1867, Các khu định cư Eo biển trở thành một thuộc địa vương thất của Anh, nằm dưới quyền quản lý trực tiếp từ Bộ Thuộc địa tại Luân Đôn thay vì chính phủ Ấn Độ thuộc Anh đặt tại Calcutta. Trước đó, vào ngày 4 tháng 2 năm 1867, Letters Patent trao cho Các khu định cư Eo biển một bản hiến pháp thuộc địa. Hiến pháp này phân bổ nhiều quyền lực hơn cho thống đốc của Các khu định cư Eo biển, nhân vật này quản lý thuộc địa với sự hỗ trợ của một hội đồng hành pháp, bao gồm toàn bộ các thành viên quan chức, và một hội đồng lập pháp gồm các quan chức và các thành viên được chỉ định, trong đó các quan chức có một đa số thường trực hẹp. Công việc quản trị tại cả thuộc địa và các quốc gia Mã Lai liên bang được tiến hành theo các phương thức phục vụ dân sự, các thành viên được tuyển thông qua các kỳ thi cạnh tranh được tổ chức thường niên tại Luân Đôn.

Penang và Malacca được quản lý trực tiếp dưới quyền thống đốc thông qua ủy viên dân cư.

Dindings gồm một số đảo nằm tại cửa sông Perak và một phần nhỏ lãnh thổ liền kề trên đại lục, chúng được Perak nhượng cho chính phủ Anh theo Hiệp định Pangkor 1874. Người ta hy vọng rằng cảng tự nhiên vượt trội của nó sẽ thể hiện giá trị, song không thành hiện thực, khu vực có dân cư thưa thớt và hoàn toàn không quan trọng rồi được trả cho chính phủ Perak quản lý sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Quần đảo Cocos và đảo Christmas trước đây được giao cho Ceylon, song đến năm 1886 thì được chuyển giao cho chính phủ Các khu định cư Eo biển tại Singapore. Năm 1906, Labuan được giao cho Các khu định cư Eo biển.

Thống đốc của Các khu định cư Eo biển cũng là Cao ủy của Các quốc gia Mã Lai liên bang, của Bắc Borneo, vương quốc Brunei và Sarawak. Từ khi chính phủ Anh khôi phục quyền quản trị thuộc địa Labuan, ông cũng đóng vai trò là thống đốc của Labuan. Các công sứ người Anh kiểm soát các quốc gia Perak, Selangor, Negeri Sembilan và Pahang, song đến ngày 1 tháng 7 năm 1896, khi liên bang của các quốc gia này có hiệu lực, một tổng công sứ chịu trách nhiệm trước cao ủy được bổ nhiệm trách nhiệm tối cao đối với các lãnh thổ bảo hộ của Anh tại bán đảo.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm Malaya và Các khu định cư Eo biển khi đổ bộ tại Kelantan vào ngày 8 tháng 12 năm 1941, và đến ngày 16 tháng 12 thì Penang trở thành khu định cư Eo biển đầu tiên thất thủ trước người Nhật. Malacca thất thủ vào ngày 15 tháng 1 và Singapore thất thủ vào ngày 15 tháng 2 sau trận Singapore. Các khu định cư Eo biển cùng với Malaya nằm dưới sự chiếm đóng của Nhật Bản cho đến khi đại chiến kết thúc vào tháng 8 năm 1945.

Sau đại chiến, thuộc địa bị giải tán với hiệu lực từ 1 tháng 4 năm 1946, Singapore trở thành một thuộc địa vương thất riêng biệt, trong khi Penang và Malacca gia nhập Liên hiệp Malaya. Labuan trong một thời gian ngắn được hợp nhất vào Singapore, trước khi được chuyển cho thuộc địa mới Bắc Borneo thuộc Anh. Quần đảo Cocos và đảo Giáng Sinh nguyên là bộ phận của Thuộc địa Vương thất Singapore vào năm 1946, song sau đó được chuyển giao cho Úc quản trị.

Tiến hóa của Malaysia

Dân số

[sửa | sửa mã nguồn]
Tên Diện tích Dân số 1891 Dân số 1901
Tổng người Âu người Âu-Á người Hoa người Mã Lai người Ấn Dân tộc khác
Singapore 206 dặm vuông Anh (530 km2) 184.554 228.555 3.824 4.120 164.041 36.080 17.823 2.667
Penang. tỉnh Wellesley và Dindings 381 dặm vuông Anh (990 km2) 235.618 248.207 1.160 1.945 98.424 106.000 38.051 2.627
Malacca 659 dặm vuông Anh (1.710 km2) 92.170 95.487 74 1.598 19.468 72.978 1.276 93
Tổng 1.246 dặm vuông Anh (3.230 km2) 512.342 572.249 5.058 7.663 281.933 215.058 57.150 5.387

Dân số đạt 306.775 vào năm 1871 và 423.384 vào năm 1881, và đến năm 1901 thì đạt tổng cộng 572.249. Như những năm trước, tăng dân số chỉ là do nhập cư, đặc biệt là người Hoa, song cũng có một số lượng đáng kể người Tamil và các dân tộc khác của Ấn Độ định cư tại Các khu định cư Eo biển. Tổng số trường hợp được khai sinh tại thuộc địa vào năm 1900 là 14.814, trong khi trường hợp được đăng ký khai tử vào năm 1900 là 23.385. Nguyên nhân khiến số trường hợp tử vong vượt quá số trường hợp sinh có phần đóng góp của thực tế là dân cư người Hoa và người Ấn có tổng cộng 339.083, tức trên 59% tổng dân số, gồm có 261.412 nam giới và chỉ có 77.671 nữ giới, và một lượng tương đối nhỏ nữ giới đã kết hôn và làm mẹ. Nam giới người Âu cũng gấp khoảng hai lần nữ giới. Người Mã Lai và người Âu-Á có tỷ lệ hợp lý về giới tính, song tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh quá cao, do kết hôn sớm và các nguyên nhân khác.

Số người nhập cư đổ bộ trong năm 1906 là: Singapore 176.587 người Hoa; Penang 56.333 người Hoa và 52.041 người bản địa tại Ấn Độ; Malacca 598 người Hoa. Tổng số người nhập cư năm 1906 là 285.560, trong khi có 39.136 người xuất cư mà chủ yếu là người Hoa trở về Trung Quốc. Năm 1867, là năm Thuộc địa được chuyển từ Công ty Đông Ấn Anh thành một thuộc địa vương thất, tổng dân số ước tính là 283.384.

Tài chính

[sửa | sửa mã nguồn]
Xu bạc 1 dollar Eo Biển, mặt trước là chân dung Vua Edward VII của Anh, đúc 1903

Thu nhập của thuộc địa vào năm 1868 chỉ là 1.301.843$, con số này vào năm 1906 là 9.512.132$, loại trừ 106.180$ nhận được do bán đất. Trong số liệu năm 1906, 6.650.55$8 bắt nguồn từ thuế nhập khẩu thuốc phiện, rượu vang và rượu mạnh, và ác giấy phép giao dịch các vật phẩm này, 377.972$ đến từ thuế đất, 592.962$ đến từ thuế bưu chính và điện tín, và 276.019$ đến từ phí cảng. Chi tiêu vào năm 1868 là 1.197.177$, tăng lên 8.747.819$ vào năm 1906. Tổng phí tổn cho hành chính lên tới 4.450.791$, trong đó 2.586.195$ là thù lao cá nhân và 1.864.596$ là các chi phí khác. Chi phí quân sự lên đến 1.762.438$ vào năm 1906; 578.025$ được chi nhằm bảo dưỡng và bảo trì các công trình công cộng hiện hữu, và 1.209.291$ cho các đường, phố, cầu và tòa nhà mới.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Singapore Free Press, ngày 3 tháng 1 năm 1861
  2. ^ Turnbull, CM (1972) The Straits Settlements, 1826–1867: Indian Presidency to Crown Colony, Athlone Press, London. P3
  3. ^ Anderson, C (2007) The Indian Uprising of 1857–8: prisons, prisoners, and rebellion, Anthem Press. P14
  4. ^ S. Nicholas and P. R. Shergold, 'Transportation as Global Migration', in S. Nicholas (ed.) (1988) Convict Workers: Reinterpreting Australia's past, Cambridge: Cambridge University Press, Cambridge, P29.
  5. ^ Turnbull, CM ‘Convicts in the Straits Settlements 1826–1867’ in Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society, 1970, 43, 1, P91
  6. ^ Petition reprinted in Straits Times, ngày 13 tháng 10 năm 1857
  7. ^ Straits Times, ngày 28 tháng 7 năm 1857
  8. ^ Seow, FT (1998) The media enthralled: Singapore revisited, Lynne Rienner Publishers, Singapore. P6.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Public Domain Bài viết này bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trong phạm vi công cộng: H. Cl. (1911). "Settlements, Straits". Trong Chisholm, Hugh (biên tập). Encyclopædia Britannica (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.. Endnotes:
    • Straits Settlements Blue Book, rpo (Singapore, 1907)
    • Straits Directory, 1908 (Singapore, 1908)
    • Journal of the Straits branch of the Royal Asiatic Society (Singapore)
    • Sir Frederick Weld and Sir William Maxwell, severally, on the Straits Settlements in the Journal of the Royal Colonial Institute (London, 1884 and 1892)
    • Henry Norman, The Far East (London, 1894)
    • Alleyne Ireland, The Far Eastern Tropics (London, 1904); Sir Frank Swettenham, British Malaya (London, 1906)
    • The Life of Sir Stamford Raffles (London, 1856, 1898)
  • x
  • t
  • s
Cờ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland Đế quốc Anh và Khối Thịnh vượng chung Anh

Chú giải Lãnh thổ hiện nay  ·   Lãnh thổ cũ * hiện là Vương quốc Khối thịnh vượng chung  ·   hiện là thành viên Khối Thịnh vượng chung Anh

Châu Âu

Thế kỷ 18 1708-1757  Menorca từ 1713  Gibraltar 1782-1802  Menorca

Thế kỷ 19 1800-1964  Malta 1807-1890  Heligoland 1809-1864  Quần đảo Ionia 1878-1960  Síp

Thế kỷ 20 từ 1960  Akrotiri và Dhekelia

Bắc Mỹ

Thế kỷ 16 1583-1907  Newfoundland Thế kỷ 17 1607-1776  Mười ba bang thuộc địa từ 1619  Bermuda 1670-1870  Vùng đất của Rupert Thế kỷ 18 Canada (thuộc Đế quốc Anh)    1763-1791  Quebec    1791-1841  Hạ Canada    1791-1841  Thượng Canada

Thế kỷ 19 Canada (thuộc Đế quốc Anh)    1841-1867  Tỉnh Canada    1849-1866  Đảo Vancouver    1858-1871  Columbia của Anh    1859-1870  Lãnh thổ Tây Bắc    1862-1863  Lãnh thổ Stikine *Canada (hậu Liên minh)    1867-1931  Lãnh địa của Canada1

Thế kỷ 20 *Canada (hậu Liên minh)    1907-1934  Lãnh địa của Newfoundland2

1 Vào năm 1931, Canada và những lãnh địa thuộc Anh khác đã có được chính quyền tự chủ thông qua Đạo luật Westminster. 'Lãnh địa' còn là quyền sở hữu hợp pháp của Canada; xem Tên của Canada.2 Vẫn còn là một lãnh địa de jure cho đến 1949 (khi nó trở thành một tỉnh của Canada); từ 1934 đến 1949, Newfoundland do Ủy ban Chính phủ quản lý.

Mỹ Latinh và Caribe

Thế kỷ 17 1605-1979  *Saint Lucia 1623-1883  Saint Kitts (*Saint Kitts & Nevis) 1624-1966  *Barbados 1625-1650  Saint Croix 1627-1979  *St. Vincent và Grenadines 1628-1883  Nevis (*Saint Kitts & Nevis) 1629-1641  St. Andrew và Quần đảo Providence3 từ 1632  Montserrat 1632-1860  Antigua(*Antigua & Barbuda) 1643-1860  Quần đảo Bay từ 1650  Anguilla 1651-1667  Willoughbyland (Suriname) 1655-1850  Bờ biển Mosquito (bảo hộ) 1655-1962  *Jamaica từ 1666  Quần đảo Virgin thuộc Anh từ 1670  Quần đảo Cayman 1670-1973  *Bahamas 1670-1688  St. Andrew và Quần đảo Providence3 1671-1816  Quần đảo Leeward Thế kỷ 18 1762-1974  *Grenada 1763-1978  Dominica từ 1799  Quần đảo Turks và Caicos

Thế kỷ 19 1831-1966  Guiana thuộc Anh (Guyana) 1833-1960  Quần đảo Windward 1833-1960  Quần đảo Leeward 1860-1981  *Antigua và Barbuda 1871-1964  Honduras thuộc Anh (*Belize) 1882-1983  *St. Kitts và Nevis 1889-1962  Trinidad và Tobago

Thế kỷ 20 1958-1962  Liên bang Tây Ấn

3 Hiện nay là Khu hành chính San Andrés y Providencia của Colombia.

Châu Phi

Thế kỷ 18 1792-1961  Sierra Leone 1795-1803  Thuộc địa Cabo

Thế kỷ 19 1806-1910  Thuộc địa Cabo 1816-1965  Gambia 1856-1910  Natal 1868-1966  Basutoland (Lesotho) 1874-1957  Bờ Biển Vàng (Ghana) 1882-1922  Ai Cập 1884-1966  Bechuanaland (Botswana) 1884-1960  Somaliland thuộc Anh 1887-1897  Zululand 1888-1894  Matabeleland 1890-1980  Nam Rhodesia (Zimbabwe) 1890-1962  Uganda 1890-1963  Zanzibar (Tanzania) 1891-1964  Nyasaland (Malawi) 1891-1907  Trung Phi thuộc Anh 1893-1968  Swaziland 1895-1920  Đông Phi thuộc Anh 1899-1956  Sudan thuộc Anh-Ai Cập

Thế kỷ 20 1900-1914  Bắc Nigeria 1900-1914  Nam Nigeria 1900-1910  Thuộc địa Sông Orange 1906-1954  Thuộc địa Nigeria 1910-1931  Nam Phi 1911-1964  Bắc Rhodesia (Zambia) 1914-1954  Nigeria Bảo hộ 1915-1931  Tây Nam Phi (Namibia) 1919-1960  Cameroons (Cameroon) 4 1920-1963  Kenya 1922-1961  Tanganyika (Tanzania) 4 1954-1960  Nigeria từ 1965  Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh

4 Hội Quốc Liên ủy thác.

Châu Á

Thế kỷ 18 1757-1947  Bengal (Tây Bengal (Ấn Độ)Bangladesh) 1762-1764  Philippines 1795-1948  Ceylon (Sri Lanka) 1796-1965  Maldives

Thế kỷ 19 1819-1826  Malaya thuộc Anh (Bán đảo MalaysiaSingapore) 1826-1946  Các khu định cư Eo biển 1839-1967  Thuộc địa Aden 1841-1997  Hồng Kông 1841-1941  Vương quốc Sarawak 1858-1947  Ấn Độ thuộc Anh (Ấn Độ, PakistanBangladesh, Miến Điện) 1882-1963  Bắc Borneo thuộc Anh (Malaysia) 1885-1946  Các bang Mã Lai chưa phân loại 1891-1971  Muscat và Oman bảo hộ 1892-1971  Các quốc gia Trucial bảo hộ 1895-1946  Các bang Liên bang Mã Lai 1898-1930  Đơn vị đồn trú Uy Hải

Thế kỷ 20 1918-1961  Kuwait bảo hộ 1920-1932  Iraq4 1921-1946  Transjordan4 1923-1948  Lãnh thổ Ủy trị Palestine4 1946-1948  Liên hiệp Mã Lai 1946-1963  Thuộc địa vương thất Sarawak 1948-1957  Liên bang Mã Lai (Malaysia)

4 Hội Quốc Liên ủy thác.

Châu Đại Dương

Thế kỷ 18 1788-1901  New South Wales 1794-1843  Quần đảo Sandwich (Hawaii)

Thế kỷ 19 1803-1901  Vùng đất của Van Diemen/Tasmania 1807-1863  Quần đảo Auckland6 1824-1980  New Hebrides (Vanuatu) 1824-1901  Queensland 1829-1901  Thuộc địa Sông Swan/Tây Úc 1836-1901  Nam Úc từ 1838  Quần đảo Pitcairn 1841-1907  *Thuộc địa New Zealand 1850-1901  Victoria (Úc) 1874-1970  Fiji5 1877-1976  Lãnh thổ Tây Thái Bình Dương thuộc Anh 1884-1949  Lãnh thổ Papua 1888-1965  Quần đảo Cook6 1888-1984  Sultanate Brunei 1889-1948  Quần đảo Union (Tokelau)6 1892-1979  Quần đảo Gilbert và Ellice7 1893-1978  Quần đảo Solomon thuộc Anh8

Thế kỷ 20 1900-1970  Tonga (quốc gia được bảo hộ) 1900-1974  Niue6 1901-1942  *Khối thịnh vượng chung Úc 1907-1947  *Lãnh thổ tự trị New Zealand 1919-1949  Lãnh thổ New Guinea 1949-1975  Lãnh thổ Papua và New Guinea9

5 Thành viên bị treo.6 Hiện là một phần của *Vương quốc New Zealand.7 Hiện nay là Kiribati và *Tuvalu.8 Hiện nay là *Quần đảo Solomon.9 Hiện nay là *Papua New Guinea.

Châu Nam Cực và Nam Đại Tây Dương

Thế kỷ 17 từ 1659  St. Helena

Thế kỷ 19 từ 1815  Đảo Ascension9 từ 1816  Tristan da Cunha9 từ 1833  Quần đảo Falkland11

Thế kỷ 20 từ 1908  Lãnh thổ Nam cực thuộc Anh10 từ 1908  Quần đảo Nam Georgia và                    Nam Sandwich10, 11

9 Lãnh thổ phụ thuộc St. Helena từ năm 1922 (Đảo Ascension) và 1938 (Tristan da Cunha).10 Cả hai tuyên bố vào năm 1908; lãnh thổ hình thành năm 1962 (Lãnh thổ Nam cực thuộc Anh) và 1985 (Quần đảo Nam Georgia và Nam Sandwich).11 Argentina chiếm đóng trong Chiến tranh Falklands vào tháng 4-tháng 6 năm 1982.

Từ khóa » Củ éo En