Calvary - TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM - Tin Lanh

Facebook| YouTube| Thờ phượng| Thư viện sách| Đọc Kinh Thánh| Nhạc thờ phượng| Liên lạc| Nghe 500 bài giảng của Mục sư Huỳnh Quốc Khánh| Tiên tri giả Tb Joshua Thu hẹp Vui lòng đăng nhập và sử dụng điều hướng lối tắtKhông có tài khoản?Đăng ký

Lối tắt
  • ForumForum
  • Karaokenhac thánh Karaoke
  • Phim
  • Thánh Kinh
  • MessengerX
  • Download
  • Nhạc thánh
  • Thư viện
  • ISOMNghe Trọn Bộ ISOM Mp3
  • Đại Hội Phục HưngĐại Hội Phục Hưng 2018 - 2019
  • GiveDâng hiến cho công việc Chúa
Tìm Tìm
Kinh thanh mp3, Nhac thanh, Phin Co Doc, Trường Đấng Christ Mp3, Bible English Mp3, MessengerX, Worship Mp3, Giao trinh ISOM, »Forum › Thư Viện Tin Lành › Nghiên cứu › Calvary - TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM Trở lại danh sách Đăng bài----- Tweet
Xem: 5134|Trả lời: 0 Calvary - TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM [Lấy địa chỉ]
admin admin Offline Điểm60517 Xem chi tiết Thẻ IP Thẻ dò tìm Chọn nhanh Chủ nhà Đăng lúc 27-7-2011 17:41:52 | Chỉ xem của tác giả |Xem ngược lại |Chế độ đọc
Chương Trình Calvary TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM Mục Lục I. CHƯƠNG MỘT: SỰ KÊU GỌI VÀO CHỨC VỤ TRUYỀN GIÁO. A. Truyền giáo B. Phá đổ những chướng ngại II. CHƯƠNG HAI: CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO QUYỀN NĂNG . A. Sứ mạng trọng đại B. Đội quân truyền giáo C. Công cuộc truyền giáo quyền năng D. Thi hành chức vụ bởi sự xức dầu E. Tài chánh và tinh thần tiên phong III. CHƯƠNG BA: PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM Phương pháp cứu rỗi Phương pháp truyền bá Phúc Âm IV. CHƯƠNG BỐN: SƯ THÔNG BIẾT VÀ VĂN HÓA NHỮNG HỆ TƯ TƯỞNG KHÁC Công giáo SỰ KÊU GỌI VÀO CHỨC VỤ TRUYỀN GIÁO I. TRUYỀN GIÁO Truyền giáo: là sự công bố, tuyên rao, thông báo và làm lan truyền Phúc âm ra. Rao giảng: là sự phát ngôn sống động những lời lẽ có năng quyền, nóng cháy từ môi miệng của người Cơ-đốc. Phúc âm: theo Webster - là tin tức tốt lành, là sự rao truyền đặc biệt về Đấng Christ, về sự cứu chuộc và về nước Thiên đàng. Phúc âm: theo Strong - 20 quan trọng - Evaggelizo là loan báo tin tức tốt lành. A. ĐAM MÊ CHINH PHỤC LINH HỒN. Đam mê: - theo Webster’s Dictionnary - là lòng nhiệt thành cao độ, sự ước muốn hết lòng, niềm khát khao mãnh liệt. Tấm lòng của chúng ta cần tan vỡ ra vì những linh hồn hư mất. Ông C.T Studd : năm 56 tuổi, dù các hiệp hội truyền giáo không chấp thuận, ông vẫn rời Anh quốc, đến Phi-châu để truyền giáo. Ông nói: “Nếu Đức Chúa Giê-xu, là Đức Chúa Trời, mà đã chết vì tôi; thì ra đi hầu việc Ngài, đâu phải là một hy sinh gì quá lớn lao...!” Ông Oswald. J. Smill : từng nói: ”Hỡi các bạn, chúng ta nặng lòng với vô số hoạt động của Hội thánh. Trong khi đó; thực ra, công việc của Hội thánh là truyền bá Phúc âm cho thế gian, và chinh phục những linh hồn hư mất; thì hầu như hoàn toàn bị quên lãng...” Ông William Booth : thì ước gì ông có thể treo những chiến sĩ trong đội Cứu thế quân của ông trên ngọn lửa của địa ngục một lúc để sau đó họ có thể tiến ra các ngã đường tìm kiếm tội nhân hư mất với lòng đầy thương xót. Hai điều cần phải thực hiện để khuấy động lòng khao khát chinh phục tội nhân trong chúng ta. Cầu nguyện cho người hư mất Làm chứng B. TẠI SAO TRUYỀN GIÁO LÀ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI CHÚNG TA. Bởi vì theo GiGa 5: 16 “Nhơn đó dân Giu-đa bắt bớ Đức Chúa Giê-xu, vì cớ Ngài làm những sự ấy trong ngày Sa-bát” Chỉ những người tin thì không bị đoán xét Đoán xét - 2910 - Krimo : là quyết định (trong lòng hoặc do tòa án) có liên quan việc thẩm định, phán xét, kết tội, tuyên án, trừng phạt. Theo Webster : Động từ đoán xét có nghĩa là làm chứng nghịch lại, để bày tỏ hay chứng minh có sự sai lầm, phạm tội. Sự đoán xét không miễn trừ cho ai cả, dù là ông bà, cha mẹ, cậu dì, con cái, cháu chắt của chúng ta. Trong xã hội, từ người ăn mày nghèo nhất trên đường phố, đến kẻ giàu sang nhất trên thế gian, tất cả sẽ bị đoán xét nếu họ không tin. Tại tòa án của Thiên đàng cả nhân loại đã bị xét xử, đã bị kết tội; có sự phán quyết và chứng minh rằng hết thảy chúng ta đều có tôi trước mặt Đức Chúa Trời công bình và thánh khiết. Án chúng ta phải chịu là sự trừng phạt đời đời của hỏa ngục. Không phải tất cả mỗi người đều là giáo sĩ, nhưng tất cả chúng ta được kêu gọi để truyền giáo. Mẹ tôi Sellavon giảng dạy Phúc âm. Một vài lý do quan trọng hơn về việc truyền giáo Panny, Sava v.v... Tiến sĩ Oswall J. Smits nói: ”nhiệm vụ trọng yếu của Hội thánh là truyền giáo cho muôn dân. Khi dân số thế giới lên đều 4 tỉ mỗi ngày có trên 119.520 người chết. Trung bình 2 giây có 3 người chết. Mỗi giây hơn một linh hồn qua đời. Trong 50 phút có 4150 linh hồn bước vào cõi đời đời, 60 phút sẽ có 4980 linh hồn... Mat Mt 7:13 “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều”. ”Nhiều” - 4183- polus - có nghĩa là phần lớn. Minh họa: Đường rộng khoảng khoát kinh nghiệm ở Windsor - Ngày lễ tự do. Minh họa - Charlie Peace - Armley Jail - Leeds England - Buồn ngủ, đọc vài câu Kinh Thánh. - “Niềm an ủi tôn giáo”. - Xúc động về một người có khả năng am tường về hỏa ngục. IIPhi 2Pr 3:9 “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn”. Chúng ta phải biết rõ bổn tánh của Đức Chúa Trời để có sự làm chứng hữu hiệu. C. NĂM MẠNG LỆNH DÀNH CHO TÍN ĐỒ ĐỂ TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM CÓ KẾT QUẢ. Mat Mt 28:19 “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ” Mac Mc 16:15 “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người” LuLc 24:47 “và người sẽ nhơn danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được thay đổi tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem” GiGa 15:16 “Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn Ta, bèn là Ta đã chọn và lập các ngươi, để các ngươi đi va kết quả, hầu cho trái các ngươi thường đậu luôn: lại cũng cho mọi điều các ngươi sẽ nhơn danh Ta cầu xin Cha, thì Ngài ban cho các ngươi” Cong Cv 1:8 “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất”. II. PHÁ ĐỔ NHỮNG CHƯỚNG NGẠI: Ngày hôm nay có rất nhiều người mang trong lòng họ những đắng cay, sợ hãi, thất vọng và tổn thương. Có thể do họ đã từng trãi những nỗi đau đớn kinh khủng do sự ngược đãi, hà hiếp của người khác, hoặc do những lỗi lầm chính họ gây ra; hoặc cũng có thể vì cuộc sống của họ đơn độc, buồn tủi. Có rất nhiều hạng loại người khác nhau Xuất Ê-díp-tô ký phát từ các bối cảnh dân tộc khác nhau, tôn giáo khác nhau; và chịu những đớn đau, tổn thương khác nhau như: - Nghiện rượu, nghiện ma túy. - Vợ chồng ly dị. - Con cái của gia đình bị đổ vỡ. - Những người vợ, người con bị lạm dụng tình dục, thân xác. - Những Cơ-đốc nhân mang những đắng cay vì bị tổn thương. Gia Gc 5:19-20 “Hỡi anh em, trong vòng anh em nếu có ai lầm lạc cách xa lẽ thật, mà có người khác làm cho nó trở lại, thì phải biết rằng kẻ làm cho người có tội trở lại, bỏ đường lầm lạc, ấy là cứu linh hồn người khỏi sự chết và che đậy vô số tội lỗi ”. A. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ-ĐỐC NHÂN. Mac Mc 16:15 “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người”. Chúng ta có trách nhiệm tiếp nhận với cuộc sống nhiều người và rao truyền phúc âm cho họ. Sự quyết định của những người nầy tuỳ thuộc vào cách trình bày phúc âm của chúng ta và sẽ ảnh hưởng đến số phận của họ trong cõi đời đời! Thi Tv 24:7 “Hỡi các cửa, hãy cất đầu lên! Hỡi các cửa đời đời, hãy mở cao lên. Thì Vua vinh hiển sẽ vào.” Cái cửa: - theo web- là một lối đi luôn luôn mở ra, một cái cửa không bao giờ đóng. Các cửa đời đời: chúng ta có thể là lối đi cho người nào đó để họ bước vào sự sống đời đời, bằng cách dẫn họ đến với cứu Chúa Giê-xu. Đời đời -theo wel- tình trạng hoặc phẩm tính vĩnh hằng. Một sự diễn biến không có khởi đầu và kết thúc toàn thể khoảng thời gian trôi qua.Từ cõi vô tận trong quá khứ đến cõi vô tận trong tương lai;Tình huống, trạng thái bắt đầu từ giây phút lâm chung. Minh họa - Có bác sĩ người Anh, lần kia đáp tàu lửa đi nghỉ hè bên Trung-đông. - Bỗng nhiên, xảy ra tai nạn dữ dội. - Vị trưởng máy tàu cố gắng nhưng không làm sao điều khiển chiếc tàu dừng lại; rồi một vài toa tàu bị văng ra khỏi đường ray... - Vị bác sĩ chứng kiến tận mắt cảnh đổ nát ghê rợn trong tiếng thét hãi hùng của các hành khách. Ông may mắn không bị thương tích; trong lòng rúng động, ông chui ra khỏi toa tàu và đi dọc theo đường ray. - Quanh các toa tàu bẹp nát; đây đó những nạn nhân mình đầy vết thương và máu me đang đau đớn kêu la thảm thiết. Ông nhận ra ngay bên cạnh đường ray nhiều người đang quằn quại, hấp hối, máu ướt đẫm. - Cuối cùng ông kêu lên trong nỗi đau xót “Ước gì tôi có dụng cụ thì tôi cứu được những người nầy”. - Đức Chúa Trời đã phải nhiều lần kêu lên những lời tương tự như vậy khi Ngài nhìn xuống cuộc sống hỗn loạn ở thế gian do ma quỉ và các kẻ ác gây nên. Thậm chí Ngài còn đau xót hơn người Bác sĩ kia rất nhiều. - Dụng cụ của Đức Chúa Trời là những Cơ-đốc nhân tận hiến; với những con người được cảm thúc bởi tình yêu, hết lòng vâng phục Ngài. Mac Mc 16:15 “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người”. B. NGƯỜI ĐÀN BÀ SA-MA-RI BÊN GIẾNG NƯỚC. - GiGa 4:32-42 - GiGa 4:4 “Vả, Ngài phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri” - Theo bản Kinh Thánh Wycliffe: Trong Tin Lành Giăng câu nầy chỉ tỏ một nhu cầu thiêng liêng có lẽ là để Ngài mở ra cho người Sa-ma-ri con đường dẫn đến sự sống. - Người Do-thái khinh miệt người Sa-ma-ri vì họ mang nhiều dòng máu, tuy nhiên lại sử dụng Ngũ-Kinh và tự nhận là có tôn giáo thờ phượng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên - WBC - trang 1080. Do sự kỳ thị giữa hai dân tộc như thế nên người Sa-ma-ri đã từ chối kêu gọi tiếp Chúa Giê-xu lưu lại qua đêm, lúc Ngài băng qua xứ họ. Khi bị khước từ các môn đồ đồng hành với Chúa như Giăng, Gia-cơ, đã xin Chúa cho phép họ khiến lửa từ trời giáng trên dân Sa-ma-ri (LuLc 9:55-56 ) cảm xúc tức giận, thậm chí là sự thù hằn có trong lòng những môn đồ của Chúa đã phản ảnh mối xung đột do thành kiến về văn hóa của họ. Câu 6: Và khoảng giờ thứ sáu (từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa) người đàn bà nầy phải lẫn tránh mọi người, bà xấu hổ vì cuộc sống đầy tội lỗi của mình. Bà ra giếng múc nước vào ban trưa, lúc trời nóng bức. (Reaching the Nations trang 108). Câu 7: “Một người đàn bà Sa-ma-ri đến múc nước. Đức Chúa Giê-xu phán rằng: Hãy cho Ta uống” Trong làng Si-kha cũng có nước. Có thể người đàn bà nầy đã lén lút ra múc nước tại giếng Gia Cốp từ ngày này sang ngày kia. Điều nầy cho chúng ta biết bà bị bạc đãi, khinh khi giữa cộng đồng (WBC - trang 1080). Bên giếng nước, để có thể dạy dỗ người đàn bà nầy, Chúa đã phá đổ các trở ngại về tôn giáo và văn hóa của người Do Thái. Không một người Do Thái nào muốn quan hệ với người Sa-ma-ri. Ngài dẹp bỏ truyền thống nghi lễ không tinh sạch bằng cách xin nước uống từ chiếc bình của người đàn bà Sa-ma-ri. Các giáo sư dạy luật pháp của dân Do Thái không bao giờ nói chuyện với phụ nữ giữa công chúng. Phụ nữ và trẻ em bị xem thường. Như trong câu chuyện bày tỏ, đây là một phụ nữ tà dâm, quan hệ với bà là một sai lầm. Đôi khi Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta vượt quá các qui tắc thông thường. Ngài cũng khiến chúng ta lìa khỏi môi trường dễ chịu, tiện nghi để tìm đến những linh hồn hư mất (ví dụ gương của Hudson Taylor ). LuLc 7:34-50 Mat Mt 9:9-13 Câu 12: “Đức Chúa Giê-xu nghe điều đó, bèn phán rằng: Chẳng phải là người khoẻ mạnh cần thầy thuốc đâu, song là người có bệnh” Câu 13: “Vì ta đến đây không phải để kêu kẻ công bình, song kêu kẻ có tội” Đức Chúa Giê-xu đã phá đổ những điều cấm kỵ của tôn giáo khi ngồi với người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng nước (GiGa 4:1-54). Ngài bào chữa cho người phụ nữ phạm tội tà dâm (GiGa 8:1-59). Ngài ăn tối với quan thâu thuế Xa-chê ở thành Giê-ri-cô (LuLc 19:1-48). Ngài rờ người phung cùi (Mat Mt 8:3 ) và chữa lành trong ngày Sa-bát (LuLc 13:14 ). Hầu hết những linh hồn mà Chúa Giê-xu đã chinh phục đều từ đáy cùng của xã hội. Còn chúng ta thì sao? Ngài đã từng được xem như một người bạn thiết của kẻ thâu thuế, xấu xa, tội lỗi, tai tiếng. Riêng chúng ta thế nào. Đức Chúa Giê-xu đã rờ những kẻ không thể rờ được, yêu những kẻ không thể yêu nổi, phục hưng những con người không thể phục hồi được, chiến thắng những người không thể khuất phục được. Chúng ta có học theo gương Ngài không? CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO QUYỀN NĂNG. I. SỨ MẠNG TRỌNG ĐẠI Trước khi rời khỏi thế gian Đức Chúa Giê-xu đã ban những huấn thị sau cùng cho chúng ta. chúng ta xem những lời nầy như một sứ mạng trọng đại. Sứ mạng lớn lao nầy không phải chỉ là một đề nghị hay một yêu cầu. Nó là mạng lệnh của vua muôn vua, chúa muôn chúa. Đức Chúa Giê-xu phán bảo chúng ta phải mang hết thảy sự dạy dỗ của Ngài đến tận cùng trái đất, cặp theo các dấu kỳ và phép lạ. Đây phải là mục tiêu của mỗi Cơ-đốc nhân. Sứ mạng trọng đại nầy là nhiệm vụ cơ bản của mỗi Hội thánh địa phương. Để kế hoạch truyền giáo thế giới được tiến hành, vấn đề cốt lỏi là phải có một khải tượng rõ ràng cho chức vụ, mục tiêu và chiến lược của chúng ta. A. CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO CÓ QUYỀN PHÉP PHẢI ĐƯỢC KHÍCH LỆ TRƯỚC KHI HỌ ĐEM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG. Cả 2 sách Ma-thi-ơ và Mác đều ghi lại những lời sau cùng của Chúa Giê-xu - tức sứ mạng trọng đại. Mat Mt 28:19-20 “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”. Mac Mc 16:15-18 “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng:Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp têm, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh ta mà trừ quỉ; dùng tiếng mới mà nói; bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành.” Nhiều người cảm thấy vì họ đã không được Hội thánh địa phương sai đi đến những vùng đất xa xôi nên từ “đi” không được áp dụng cho họ. Họ lý luận: “Đức Chúa Trời không kêu gọi tôi. Tôi cần làm việc vì nhu cầu của gia đình mình”. Thậm chí họ lý lẽ: “Đức Chúa Trời muốn tôi ở nhà làm việc và dâng hiến tài chánh để cho những người khác ra đi”. Từ liệu được dịch là “đi” trong mạng lệnh nầy có ý nghĩa là “đang khi bạn đi”. Mỗi một Cơ-đốc nhân đều đang đi trong cuộc sống hằng ngày. Mạng lệnh của Chúa “hãy đi” của Chúa không giới hạn cho một số người được chọn ra như các giáo sĩ. Trái lại, mạng lệnh nầy đã và đang dành cho mọi Cơ-đốc nhân. Mỗi người sẽ ra đi tại mỗi nơi: đi đến công sở, đi mua sắm, đi đến trường, đi thăm bạn hữu, bà con, hàng xóm. Ở mọi nơi, chúng ta đều đang ra đi, để thực hiện nhiệm vụ của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Đức Chúa Giê-xu phán, đang khi các ngươi ra đi trong cuộc sống đời thường, các ngươi rao truyền Phúc âm của ta cho mọi người. Sứ mạng trọng đại được ban cho mọi tín đồ trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Nó không phải chỉ được thực hiện bởi các giáo sĩ mà Ngài kêu gọi và ban chức vụ cho họ trong Hội thánh Ngài. Khi chúng ta nghiên cứu về công cuộc truyền giáo quyền phép, chúng ta khám phá ra rằng việc truyền giáo không phải chúng ta thực hiện một đôi lần trong tuần khi Hội thánh phát động chương trình ra đi làm chứng. Truyền giáo phải trở nên một nếp sống. Đó là một việc mà chúng ta phải làm suốt mọi thời gian, đang khi chúng ta sinh hoạt trong cuộc sống thường nhật. KHẮP CẢ THẾ GIAN Đúc Chúa Giê-xu đã dạy dỗ sáng tỏ rằng trách nhiệm của Hội thánh trong kế hoạch truyền giáo là không phải giới hạn trong vùng của mình. Chúng ta phải đem Phúc âm đến khắp thế gian. Không phải mọi tin đồ đều được đưa ra nước ngoài để giảng Tin Lành nhưng tất cả mọi tín đồ đều có liên quan đến sứ mạng truyền giáo cho muôn dân. Một số người được sai đi do sự hiến dâng của họ, một số người khác thì ra đi trong cuộc sống đời thường, và hết thảy chúng ta đều phải cầu nguyện. Mạng lệnh của Đức Chúa Giê-xu dành cho chúng ta, Hội thánh Ngài là: “Hãy đi ra khắp cả thế gian mà rao giảng Phúc âm”’. Hội thánh phải nhấn mạnh được “vùng đất xa xôi” để chinh phục nhiều linh hồn chưa được nghe Phúc âm, phải khôi phục sự kêu gọi truyền giáo khắp thế gian. Công tác trọng yếu của Hội thánh là truyền giáo cho muôn dân. IICo 2Cr 10:16 “Cho đến nỗi chúng tôi sẽ có thể truyền Tin Lành ra đến các xứ xa hơn xứ anh em, song chúng tôi không hề khoe mình về việc đã làm trong địa phận của người khác” Phương cách duy nhất để Hội thánh sinh tồn là chinh phục linh hồn. Hội thánh đã được sinh ra trong ngọn lửa bùng cháy của phép lạ truyền giáo và Hội thánh sẽ suy xong khi các tín đồ dừng lại tiệc rao giảng phúc âm cho người lui mất. CHO MỌI NGƯỜI Kế hoạch của Đức Chúa Trời cho mùa gặt toàn cầu, cho công cuộc truyền giáo khắp thế gian không bao giờ thay đổi. Phần chúng ta phải đi ra, truyền bá phúc âm cho tất cả mọi người; và Đức Chúa Trời sẽ ấn chứng lời của Ngài bằng những dấu kỳ, phép lạ nhưng lời Ngài đã hứa: Đức Chúa Giê-xu đã bày tỏ rõ ràng rằng mọi tín đồ trong Hội thánh Ngài phải khởi sự ngay tại chỗ họ sinh sống. Họ phải rao giảng phúc âm trong địa phương của họ. Tuy nhiên họ sẽ không dừng tại đó. Họ vẫn tiếp tục truyền bá và đem phúc âm đến với mọi người khác nữa. Cho đến như hết thảy mọi người ở đầu cùng trái đất đều được nghe danh của Chúa Giê-xu. Cong Cv 1:8 “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất”. MỌI QUỐC GIA, MỌI CHI PHÁI, MỌI BỘ TỘC, MỌI NGƯỜI, MỌI THỨ TIẾNG. Chúng ta không chỉ giới hạn trong vùng của mình, một chúng ta cũng đi xa hơn. Đến các vùng xa để rao giảng cho mọi nước, mọi chi phái, mọi bộ tộc, mọi người, mọi thứ tiếng, mọi nơi. Thành công thật của Hội thánh là hoàn tất chức vụ của mình. Sự tĩnh thức, hay sự nhận biết về chức vụ của Hội thánh là sự việc mang tính chất quyết định. RAO GIẢNG PHÚC ÂM Chúng ta phải rao giảng Phúc âm trong sự xức dầu của Đức Thánh Linh kèm theo các dấu kỳ phép lạ. Chỉ công bố lời của Đức Chúa Trời thì chưa đủ. Kế hoạch của Đức Chúa Trời bao hàm cả hai: công bố và ấn chứng. LuLc 4:18 “Thần của Chúa ngự trên ta, vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo”. Mat Mt 24:14 “Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến” MÔN ĐỒ HÓA Chúng ta không chỉ ra đi và giảng dạy nhưng cũng môn đệ hóa để hoàn tất mạng lệnh trọng đại của Chúa. Trong kế hoạch của Đức Chúa Trời các tín hữu được tăng lên theo cấp số nhân chứ không phải cấp số cộng. Trong Mat Mt 28:19 , khi Đức Chúa Giê-xu phán dạy chúng ta phải môn đồ hóa muôn dân Ngài đã tỏ bày chương trình của Ngài dành cho mọi tín đồ, tức những người được trang bị để xúc tiến công việc qua sự truyền giáo quyền phép. IITi 2Tm 2:2 “Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác”. B. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO : Truyền giáo là cứu cánh của cuộc sống nhân loại. Không có câu trả lời nào khác cho những nan đề của thế giới hay của từng cá nhân chúng ta. Mỗi chúng ta đã được cứu là nhờ ai đó đã vâng lời Đức Chúa Trời và chia xẻ Phúc âm của Chúa Giê-xu Christ cho chúng ta. VUA SA-LÔ-MÔN Vua Sa-lô-môn đã cho chúng ta một ý thức về trách nhiệm cảnh tỉnh những người đang đối diện với sự chết. ChCn 24:11-12 “Hãy giải cứu kẻ bị đùa đến sự chết. Và chớ chối rỗi cho người đi xiêu tó tới chốn hình khổ. Nếu con nói chúng tôi chẳng biết gì đến; thì Đấng mà cân nhắc lòng người ta, há chẳng xem xét điều ấy sao? Và Đấng gìn giữ linh hồn con, há không biết đến ư? Chớ thì Ngài sẽ chẳng báo mỗi người tùy theo công việc họ làm sao?” Nếu chúng ta không cảnh tỉnh những người chung quanh đang hướng đến hồ lửa, Đức Chúa Trời sẽ báo trả cho ta như lời Ngài ở trên. TIÊN TRI Ê-XÊ-CHI-ÊN Tiên tri Ê-xê-chi-ên cảnh cáo chúng ta về tội không chịu rao giảng những điều mà chúng ta đã biết rõ cho mọi người hay. Exe Ed 3:17-19 “Hỡi con người, ta đã lập ngươi lên đặng canh giữ nhà Y-sơ-ra-ên; khá nghe lời từ miệng ta, và thay ta răn bảo chúng nó. Khi ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết! nếu ngươi không răn bảo nó, không nói với nó đặng khuyên nó từ bỏ đường xấu để cứu mạng mình, thì người dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi. Trái lại, nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó không từ bỏ sự dữ cùng dường xấu mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó; còn ngươi thì giải cứu được linh hồn mình”. TIÊN TRI Ê-SAI Tiên tri Ê-sai nói cho chúng ta biết các ích lợi của việc rao giảng Phúc âm. EsIs 58:10 “Nếu ngươi mở lòng cho kẻ đói, và làm no kẻ khốn khổ, thì sự sáng ngươi sẽ sáng ra trong tối tăm, và sự tối tăm ngươi sẽ như ban trưa” ĐẶT SỰ ƯU TIÊN ĐÚNG CHỖ. Trên trái đất nầy có hàng ngàn làng mạc, thành thị đã bị bỏ quên; chính những nơi nầy đang có hành tỉ người sinh sống, mà phần lớn chưa biết Phúc âm là gì. Chúng ta - thân thể của Đấng Christ - phải ưu tiên dành mỗi lưu tâm thích đáng cho các vùng nầy. Một khi Hội thánh cưu mang gánh nặng ra đi chinh phục những linh hồn hư mất bằng Phúc âm của Đức Chúa Giê-xu; tất cả các quyền phép cần ưu tiên hàng đầu sành cho các vùng chưa có dịp nghe biết Phúc âm. Mọi nổ lực chiến thắng linh hồn của chúng ta phải được hướng về các tuyến đầu như vậy. Huyết của các anh hùng tuận đạo luôn là những hạt giống gieo cho một mùa gặt những linh hồn; để họ được đem vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Trong quá khứ rất nhiều Cơ-đốc nhân đã trả một giá đắt bởi chịu những đau đớn hy sinh để ngày hôm nay chúng ta có thể mạnh dạn chia xẻ Phúc âm cho mọi người đang chìm đắm trong tối tăm và cho thế giới hư vong nầy. Vấn đề ngày hôm nay là: chúng ta có vui lòng thực hiện, ban ra và manh Phúc âm nầy đến cho thế hệ hôm nay của chúng ta không? C. LÒNG TRẮC ẨN CỦA VUA. Khi Đức Chúa Giê-xu ban sứ mạng trọng đại, Ngài cũng gợi lại cho chúng ta nhớ đến tấm lòng trắt ẩn của Cha. Mỗi khi chúng ta nhớ đến sự hy sinh của Cha, bởi ban con một của Ngài; chúng ta phải biết rằng lòng ao ước của Đức Chúa Trời là chúng ta phải được trở nên hòa hợp đúng đắn với chính Ngài. Đức Chúa Trời -Cha chúng ta -có một lòng thưng xót trãi rộng khắp thế gian. Hội thánh của Ngài cũng phải có lòng trắt ẩn y như vậy. Ngày hôm nay Đức Chúa Trời đang dấy lên một đạo quân chuyển động trong sự tuôn đổ của Thánh Linh. MƯỜI HAI MÔN ĐỒ. Đức Chúa Giê-xu sai mười hai môn đồ ra đi với những lời dặn dò. Mat Mt 10:7-8 “Khi đi đàng, hãy rao giảng rằng: Nước thiên đàng gần rồi. Hãy chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ. Các ngươi đã điều lãnh không thì hãy cho không.” ẨN DỤ VỀ CON CHIÊN LẠC MẤT. LuLc 15:3-7 “Ngài bèn phán cho họ lời thí dụ nầy: Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm con đã mất cho kỳ được sao? Khi đã kiếm được, thì vui mừng vác nó lên vai; đoạn về đến nhà, kêu bạn hữu và kẻ lân cận, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất. Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng như vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn.” NIỀM VUI TRONG THIÊN ĐÀNG. Qua sứ đồ Giăng, Đức Thánh Linh bày tỏ cho chúng ta rằng đang đến thời điểm mà cả Thiên đàng hân hoan mừng vui. Xin chú ý, sứ đồ Giăng đã chép rằng những người được cứu sẽ đến từ mọi chi phái, mọi thứ tiếng, mọi dân, mọi nước. KhKh 5:9 “Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết, lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước” KhKh 7:9-10 “Sự ấy đoạn tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là, cất tiếng lớn kêu rằng: Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con” D. CHIẾN LUỢC TÂN ƯỚC. Chiến lược Tân ước là một chiến lược truyền bá Phúc âm toàn thể có nghĩa là thấm nhuần toàn bộ cả thế gian nầy bằng Phúc âm. Điều đó bao gồm việc những tín đồ trong thế hệ nầy đối diện với tất cả mọi người trong thế gian nầy bằng sự công khai của Đấng Christ trên cuộc đời mình. THẤM NHUẦN THÂN THỂ: Những môn đồ đầu tiên bắt đầu chia xẻ về Đấng Christ với mọi người tại Giê-ru-sa-lem, nơi họ sống. Rồi họ tiếp tục truyền bá Phúc âm đến mọi vùng ở Giu-đa, rồi Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất. Chiến lược của Chúa Giê-xu là thấm nhuần toàn bộ thế giới nầy với Phúc âm xuyên qua công tác của Hội thánh. Mỗi một Hội thánh phải tiếp nhận trách nhiệm nầy và tiếp xúc với từng cá nhân trong khu vực của mình với Phúc âm của Cứu Chúa Giê-xu Christ. THAM DỰ TOÀN THỂ Đức Chúa Giê-xu phán, mỗi tín đồ là một nhân chứng cho Ngài. Cong Cv 1:8 “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem , cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất”. Để thấm nhuần toàn thể thế giới bằng Phúc âm, đòi hỏi mỗi thành viên trong Hội thánh địa phương đều tham gia làm chứng. Hội thánh phải khuyến khích mỗi Cơ-đốc nhân trong công tác chinh phục vùng lân cận cho Đức Chúa Giê-xu Christ. Có nhiều Cơ-đốc nhân không làm chứng vì họ không nhận thấy rằng họ cần phải làm chứng. Người Cơ-đốc phải hiểu rõ rằng làm chứng cho Cứu Chúa Giê-xu không phải thuộc quyền lựa chọn của họ. Đó là một mạng lệnh. Có ba điều mà bất cứ mục sư nào cũng phải làm để trang bị cho các tín đồ, đó là: - Khai sáng tư tưởng cho các Cơ-đốc nhân. - Khuyến khích họ. - Trang bị và dạy dỗ cho họ phương cách để làm chứng. Hội thánh ngày hôm nay cũng phải thực hành chính xác y như Hội thánh ban đầu, khi Chúa Giê-xu chia tay họ và thăng thiên. Mac Mc 10:20 “Người thưa rằng: Lạy thầy, tôi đã giữ mọi điều đó từ khi còn nhỏ” NĂNG QUYỀN CHO TOÀN THỂ. Phương pháp của sứ đồ Phao-lô là rao giảng Phúc âm với sự ấn chứng bằng quyền năng của Đức Chúa Trời. ICo1Cr 2:1-5 “Hỡi anh em, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời cao xa hay là khôn sáng mà rao giảng cho anh em biết chứng cớ của Đức Chúa Trời. Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Giê-xu Christ và Đức Chúa Giê-xu Christ bị đóng đinh trên cây thập tự. Chính tôi đã ở giữa anh em, bộ yếu đuối, sợ hãi, run rẫy lắm. Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời.” Mọi chương trình tận lực truyền bá Phúc âm của chúng ta phải giống như kế hoạch của sứ đồ Phao-lô, đó là rao giảng kèm theo sự bày tỏ của Thánh Linh và quyền phép. II. ĐỘI QUÂN TRUYỀN GIÁO. A. LỜI GIỚI THIỆU : Mỗi Cơ-đốc nhân đã có sự mặc khải về uy quyền mình sở hữu được trong Đức Chúa Giê-xu Christ sẽ là mũi nhọn và đột phá hữu hiệu trong kế hoạch truyền giáo quyền phép. Anh ta sẽ dũng cảm đập tan các cửa địa ngục để giải phóng mọi người được tự do khỏi vòng kềm tỏa của Sa-tan. Đội quân truyền giáo của thời kỳ sau rốt nầy sẽ hoàn toàn chiến thắng quyền lực của ma quỉ và thu hoạch mùa gặt cuối cùng rất quí giá về cho Đức Chúa Trời. SỰ DẤY LÊN CỦA MA QUỈ Ma quỉ sẽ dấy lên, nổ lực ngăn chận con đường tiến đến mùa gặt. Mục đích của chúng nó là phá đổ kế hoạch của Đức Chúa Trời đang xây dựng một Hội thánh vinh hiển, đầy trọn ơn quyền, hoàn thành thiên chức chinh phục muôn dân bằng Phúc âm của Đức Chúa Giê-xu Christ. GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ CHIẾN THẮNG Sa-tan có kế hoạch của nó, nhưng Đức Chúa Trời có kế hoạch lớn lao hơn. Tiên tri Ê-sai có chép rằng khi quân thù tràn đến như nước lũ, Đức Chúa Trời sẽ dấy lên một ngọn cờ để nghịch cùng nó. Chúng ta là ngọn cờ đó. EsIs 59:10 “Chúng ta đi dọc theo tường như người mù; rờ rẫm như người không có mắt; đúng trưa mà vấp chơn như chạng vạng; giữa những kẻ mạnh mẽ mà mình như người chết.” CÁC LINH THEO VÙNG. Có các linh của kẻ thù như: Linh cai quản trên các quốc gia. Linh cai quản trên các địa hạt. Linh cai quản trên các khu vực. Linh cai quản trên các gia đình. Trong khúc Kinh Thánh Đa-ni-ên đoạn 10, ”Vua Phe-rơ-sơ” là một ví dụ điển hình cho sự soi sáng nầy. Chúng ta đã được biết rằng có vua cai trị nước Phe-rơ-sơ đã đi ra cản ngăn thiên sứ của Đức Chúa Trời không cho thiên sứ mang sự phúc đáp của Ngài đến với tiên tri Đa-ni-ên đang cầu nguyện. Sau đó, thiên sứ trưởng Mi-ca-ên đã được sai đến để hổ trợ trong trận chiến chống ác linh. DaDn 10:13 “Song vua nước Phe-rơ-sơ đã ngăn trở ta trong hai mươi mốt ngày; nhưng, nầy, Mi-ca-ên là một trong các quan trưởng đầu nhứt, đã đến mà giúp đỡ ta, và ta ở lại đó với các vua Phe-rơ-sơ.” B. CHIẾN TRẬN TRONG CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO Khi chúng ta bắt đầu truyền giáo, là chúng ta đang chống lại các đồn lũy của ma quỉ. Chúng ta phải thực thi uy quyền mà Chúa đã ban để trói buộc và giải phóng cho mọi kẻ bị giam cầm được tự do trong Chúa. Chúng ta phải sẵn sàng tiến quân đối đầu trực tiếp với lực lượng cai trị đầu não của kẻ thù. Vì thế điều quan trọng cho chúng ta là: Cần hiểu biết về kẻ mạnh sức nầy. Thực thi uy quyền của chúng ta. Chiếm lại những vùng bị chiếm đóng. Biết cách tiến quân vào trận chiến. LINH CẢN TRỞ Có một lực lượng linh vô hình trong đạo quân của Sa-tan. Công việc chính của chúng là cản trở sự bành trướng Phúc âm. Do thiếu hiểu biết về việc cầu thay, chúng ta thường bị thất bại khi tiến công trực tiếp vào các lực lượng tối tăm vô hình. ITe1Tx 2:18 “Vì vậy, đã hai lần, chúng tôi, nhất là tôi, Phao-lô, muốn đi đến cùng anh em; nhưng quỉ Sa-tan đã ngăn trở chúng tôi.” LINH MÙ TỐI Sa-tan đã làm mù lòng những kẻ vô tín để họ không thể tiếp nhận Phúc âm. Chúng ta phải đánh đuổi linh mù tối nầy bằng cách cột trói, không cho chúng có quyền trên mọi người. Đồng thời, chúng ta phải mở ra hầu cho ánh sáng Phúc âm chiếu trên họ. IICo 2Cr 4:4 “Cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời.” TRÓI BUỘC KẺ MẠNH SỨC: Đức Chúa Giê-xu dạy chúng ta trước hết phải cột trói kẻ mạnh sức lại. Đây là một nhân vật cầm đầu, có quyền lực đang khống chế các lãnh thổ, các quốc gia, các khu vực, các gia đình và từng cá nhân. Mat Mt 12:29 “Hay là, có lẽ nào, ai vào nhà một người mạnh sức để cướp lấy của, mà trước không trói người mạnh sức ấy được sao? Phải trói người rồi mới cướp của nhà người được.” Mat Mt 18:18 “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ đều gì mà các ngươi buộc ở dưới đất thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và đều gì mà các ngươi mở ở dưới đất thì cũng sẽ mở ở trên trời.” PHÂN BIỆT LINH. Chúng ta sử dụng ân tứ phân biệt các linh để nhận diện các linh thống trị; rồi sau đó cột trói chúng nó ra xa. ICo1Cr 12:7-11 ”Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung. Vả người nầy nhờ Đức Thánh Linh, được lời nói khôn ngoan; kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức. Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin, cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bệnh, người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần, kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy. Mọi đều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.” CHIẾN TRẬN THUỘC LINH CAM GO Chiến trận thuộc linh thường không tránh khỏi những cuộc đấu tranh dai dẳng. Không phải lúc nào chúng ta cũng dễ dàng đạt được câu giải đáp cho các nhu cầu và những lời cầu nguyện của chúng ta. Đó chính là lúc chúng ta phải chịu đựng thử thách như một người lính giỏi của Đức Chúa Giê-xu Christ. Sứ đồ Phao-lô từng viết về điều nầy: Eph Ep 6:12 “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối này, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy.” Vua Đa-vít cũng đã viết các lời khích lệ cho những lúc giao chiến gay go. Thi Tv 9:11 , 13 “Khá hát ngợi khen Đức Giê-hô-va, là Đấng ngự tại Si-ôn; Hãy báo cáo giữa các dân công việc tối cao của Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! Xin thương xót tôi ; Hỡi Đấng đem tôi lên khỏi cửa sự chết”. CÁC THIÊN SỨ THI HÀNH CHỨC VỤ Có một đạo quân thiên sứ oai hùng sẵn sàng để tiến vào trận chiến cùng với chúng ta. Hãy lưu ý rằng chính Đức Chúa Giê-Xu đã cầu nguyện với Cha và Cha sẽ sai phán các thiên sứ lâm trận. Mat Mt 26:53 "Ngươi tưởng Tak có thể xin Cha Ta lập tức cho Ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?" Chính các thiên sứ cũng ao ước được sai đi vào trong chiến trận như là các linh hầu việc để hổ trợ, thay thế cho chúng ta. HeDt 1:14 “Các thiên sứ há chẳng phải đều là thần hầu việc Đức Chúa Trời, đã được sai xuống để giúp việcnh người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao?” Đang khi chúng ta phát ngôn lời Đức Chúa Trời, các thiên sứ sẽ hưởng ứng lời đã được tuyên bố và họ sẽ hành động thay cho chúng ta. Thi Tv 103:20 “Hỡi các thiên sứ của Đức Giê-hô-va, Là các đấng có sức lực làm theo mạng lịnh Ngài, Hay vâng theo tiếng Ngài, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va” C. NHỮNG VÍ DỤ VỀ CHIẾN TRANH THUỘC LINH TRẬN CHIẾN TRÊN TRỜI Trong Kinh Thánh có một số hình ảnh về chiến tranh thuộc linh như cuộc chiến giữa vua tối tăm Phe-rơ-sơ với thiên sứ trưởng Mi-ca-ên và các thiên sứ. Hoặc một ví dụ khác là trận chiến trên trời giữa thiên sứ Mi-ca-ên và Sa-tan. KhKh 12:7 “Bấy giờ có một cuộc chiến đấu trên trời; Mi-chen và các sứ người tranh chiến cùng con rồng, rồng cùng các sứ mình tranh chiến lại.” VUA PHE-RƠ-SƠ: Vũ khí mà Đức Chúa Trời cung ứng cho chúng ta là những vũ khí thuộc linh nhằm tham gia giải quyết cuộc chiến siêu nhiên trên bầu trời. Đây là một cuộc chiến tranh xung đột giữa hai đạo quân thuộc linh với những quyền năng lớn lao; trong đó mỗi bên đều nỗ lực như nhau để chiếm hữu cho được con người. Các thiên sứ đã chống trả lại vua tối tăm Phe-rơ-sơ. Sự đình trệ ở đây chẳng phải vì Đức Chúa Trời không muốn đáp lời cầu nguyện của Đa-ni-ên, nhưng do có một vua tối tăm cầm quyền ở không trung đã cản ngăn sự trả lời từ Thiên đàng. DaDn 10:12-13 . “Đoạn, người bảo ta rằng: Hỡi Đa-ni-ên, đừng sợ; vì kể từ ngày đầu mà ngươi đã chuyên lòng hiểu, hạ mình ngươi xuống trước mặt Đức Chúa Trời ngươi, thì những lời ngươi đã được nghe, và vì cớ những lời ngươi mà ta đã đến. Song vua nước Phe-rơ-sơ đã ngăn cản ta trong hai mươi mốt ngày; nhưng, nầy, Mi-ca-ên là một trong các quan trưởng đầu nhứt, đã đến mà giúp đỡ ta, và ta ở lại đó với các vua Phe-rơ-sơ”. A-MA-LÉC: Câu chuyện về A-ma-léc là một minh họa những gì xảy ra trong lãnh vực thuộc linh khi chúng ta cầu nguyện. A-ma-léc với đạo quân đi theo là đại diện cho Sa-tan và các thiên sứ ác. Giô-suê cùng binh đội Y-sơ-ra-ên tượng trưng cho thiên sứ trưởng và đạo binh thiên đàng. Môi-se đứng trên đồi, cầm gậy đưa lên tượng trưng cho đội quân cầu thay. Sự toàn thắng của cuộc chiến ở trên trời được quyết định bởi những người ở dưới đất. KhKh 12:11 “Chúng đã thắng nó bởi hyuết Chiên Con và bởi lời làm chứng của mình; chúng chẳng tiếc sự sống mình cho đến chết.” XuXh 17:8-16 . BỀN LÒNG CẦU NGUYỆN. Có lúc chúng ta cần bền bỉ chiến đấu đối nghịch lại với lực lượng tối tăm. Đôi khi chúng ta lại chuyên trì cầu nguyện để thu đoạt chiến thắng. Vì cớ chúng ta yếu đuối, Đức Thánh Linh sẽ giúp đỡ chúng ta trong sự cầu thay. Chúng ta không biết phải cầu nguyện điều chi cho đúng; nhưng Đức Thánh Linh sẽ dùng sự quặn thắt, thở than, không thể nói ra được mà cầu thay trong lòng chúng ta. Đấng dò xét lòng người, hiểu biết ý tưởng của Đức Thánh Linh. Còn Đức Thánh Linh theo ý chỉ của Đức Chúa Trời mà cầu thay cho các thánh đồ. Những lời cầu nguyện hữu hiệu là những lời cầu nguyện dũng cảm, xác tín, quả quyết chiến thắng thuộc về chúng ta. D. CHIẾN TRƯỜNG HUẤN LUYỆN CHIẾN SĨ. Trong đoạn Kinh Thánh Eph Ep 6:10-17 Sứ đồ Phao-lô khuyến khích các Cơ-đốc nhân hãy mặc lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời mà chiến đấu với kẻ thù. Trong câu 18 ông nêu lên sự cầu nguyện chiến trận. Eph Ep 6:18 “Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đỗ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện nài xin cho hết thảy các thánh đồ”. Trong linh giới, hiện hữu một cuộc chiến trên không trung. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng như Sa-tan và lực lượng quỉ sứ của nó đều được lôi cuốn vào một cuộc chiến sinh tử trên phạm vi toàn cầu. Cả hai phía nổ lực chiến đấu vì linh hồn của những người nam, người nữ trên trái đất. Sự cầu thay chính là vũ khí của các Cơ-đốc nhân để giải cứu các dân ra khỏi vương quốc tối tăm, đem họ sang vương quốc của sự sáng. IICo 2Cr 10:3-5 “Vì chúng tôi dầu sống trong xác thịt, chớ chẳng tranh chiến theo xác thịt. Và, những khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, có sức mạnh để đạp đổ các đồn lũy: nhờ khí giới đó chúng tôi đánh đổ các lý luận, mọi sự cao tự nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời. và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ.” Mac Mc 3:27 “Chẳng ai có thể vào nhà một người mạnh sức cướp lấy của người, mà trước hết không trói người lại; phải trói người lại, rồi mới cướp nhà người được.” Đức Chúa Giê-Xu Christ đã ban cho chúng ta các chìa khóa của thiên đàng và Ngài mong đợi chúng ta chiếm lại các thành phố, các quốc gia từ tay kẻ thù bằng cách trói buộc kẻ mạnh sức trên mọi lãnh thổ. Cầu nguyện, cầu thay là phương tiện duy nhất để thực thi ý nuốn Ngài. Cầu nguyện là ngôn ngữ của chiến trận. CẦU NGUYỆN VÀ TRUYỀN GIÁO Khi chúng ta cầu nguyện cho mùa gặt, chúng ta phải cầu nguyện cho các quốc gia và các nhà lãnh đạo của họ. Chúng ta phải cầu nguyện cho tất cả mọi nơi đều được bình an, thuận lợi cho công cuộc truyền giáo quyền phép. Trong thư viết cho Ti-mô-thê, sứ đồ Phao-lô đưa ra cho chúng ta một gương mẫu về sự cầu nguyện. MỞ MẮT KẺ MÙ Lời cầu thay sẽ đến thẳng ngôi của Đức Chúa Trời và khiến cho tấm lòng mù tối của con người được mở ra. Chúng ta phải chiến đấu với sự tối tăm thuộc linh đã làm mù lòng những người vô tín. PHÁ ĐỔ CÁC ĐỒN LŨY Đức Chúa Trời khao khát gây dựng một đội quân cầu nguyện biết sử dụng sự cầu thay để lật đổ mọi đồn lũy của ma quỉ. Ngài mong muốn có một đạo quân trói buộc lũ tà linh cản ngăn mùa gặt và mở ra cho Đức Chúa Trời những cơ hội kéo những người hư mất đến với Đấng Christ. Chúa khao khát có một đạo quân biết khẩn xin Chủ mùa gặt sai thêm con gặt vào cánh đồng chín vàng và truyền cho các thiên sứ lâm trận chiến đấu với ma quỉ và các quỉ sứ của nó. EsIs 43:5-7 “Đừng sợ, vì Ta ở cùng ngươi: Ta sẽ khiến dòng dõi ngươi đến từ phương đông, và nhóm họp ngươi từ phương tây. Ta sẽ bảo phương bắc rằng: Hãy buông ra! và bảo phương nam rằng: Chớ cầm lại làm chi! Hãy đem các con trai Ta về từ nơi xa, và đem các con gái Ta về từ nơi đầu cùng đất, ” THU HOẠCH MÙA GẶT Khi đã đắc thắng trên các lãnh thổ trong lãnh vực thuộc linh, kế tiếp chúng ta phải ra đi với Phúc âm, vận dụng công cuộc truyền giáo quyền phép để thu hoạch các linh hồn về cho Chúa. II. CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO QUYỀN PHÉP # Truyền thống tôn giáo đã bị sụp đổ. Đức Chúa Trời đang dấy lên một dòng dõi Cơ-đốc nhân mới, là những người dũng cảm tiến lên thực thi mọi công tác như Chúa Giê-xu đã từng làm. A. NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐẦY QUYỀN NĂNG CÁNH ĐỒNG MÙA GẶT Chúa phán: “Mùa gặt chín vàng nhưng con gặt thì ít”. Đức Chúa Trời, Cha chúng ta , là Chúa của mùa gặt, Ngài đã sai nhiều con gặt vào cánh đồng chín vàng của Ngài. Mat Mt 9:37-38 “Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Mùa gặt thì thật trúng, song con gặt thì thật ít. Vậy, hãy cầu xin Chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình.” QUI LUẬT GIEO VÀ GẶT Qui luật gieo và gặt của Đức Chúa Trời vẫn luôn hiệu nghiệm. Hội thánh sẽ gặt được những gì đã gieo ra trong mỗi khu vực. Nếu chúng ta không bỏ cuộc, chúng ta sẽ thấy mùa gặt. GaGl 6:7-9 “Chớ hề dối mình;Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt ssg đời đời. Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ, chúng ta sẽ gặt.” CUNG ỨNG VÀ GIA BỘI Đức Chúa Trời đã hứa Ngài sẽ cung ứng hạt giống để gieo và bánh để chúng ta nuôi mình. Rồi Ngài cũng hứa sẽ làm cho nó sanh hóa ra nhiều, khiến tăng bội các bông trái của chúng ta. IICo 2Cr 9:10 TRUYỀN GIÁO QUYỀN PHÉP Quyền phép đóng một vai trò quan trọng trong chương trình truyền giáo mà Đức Chúa Giê-xu đã phán ở Mạng lệnh trọng đại. Mac Mc 16:15-18 “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người. Ai tin và chịu báp-tem, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. Vậy, những kẻ tin sẽ được những dấu lạ này: lấy danh Ta mà trừ quỉ; dùng tiếng mới mà nói; bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ được lành.” Và họ đi ra giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng làm việc với họ, lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo. Amen. Mat Mt 28:19-20 “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi. Và này, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.” Đức Chúa Giê-xu dạy chúng ta phải đi khắp thế gian, môn đồ hóa muôn dân, báp-tem và dạy dỗ họ mọi điều Ngài đã truyền. Chúng ta sẽ dạy cho những tín đồ cách truyền giáo hữu hiệu, cách đuổi quỉ và cách đặt tay trên kẻ đau để chữa lành. Đức Chúa Giê-Xu Là Gương Mẫu Của Chúng Ta. Chúa Giê-xu khởi sự chức vụ của Ngài, Ngài đích thân: -Dạy dỗ. -Rao giảng -Chữa lành. -Đem đến sự giải cứu và sự phục hồi cho mọi người bị cầm tù. -Tỏ lòng thương xót. LuLc 4:8 Mat Mt 9:35-36 GiGa 14:16 B. NHÂN CẤP. Tại một thời điểm chức vụ của Chúa Giê-xu sẽ bị giới hạn trong một làng hay một thành; nên Chúa nhân cấp chức vụ của Ngài lên bằng cách ủy nhiệm cho mười hai môn đồ. Họ sẽ thi hành chức vụ tương tự như Chúa đã chỉ thị cho họ. Họ phải hành động trong tình yêu và lòng thương xót như chính Chúa đã có. MƯỜI HAI MÔN ĐỒ. Những môn đồ đầu tiên được Chúa dạy bảo phải cầu nguyện cho mùa gặt, rồi Ngài ban sự ủy nhiệm cho họ, đồng thời Ngài ban năng quyền cho họ trước khi sai họ ra đi... Mat Mt 10:1, 5, 8. BẢY MƯƠI MÔN ĐỒ. Sau khi mười hai môn đồ vui mừng trở về, Chúa ủy thác thêm cho bảy mươi môn đồ và sai họ ra đi. LuLc 10:1-9 MỖI CƠ-ĐỐC NHÂN Ngay trước khi rời khỏi thế gian Đức Chúa Giê-xu ủy thác cho mọi Cơ-đốc nhân và sai phái họ ra đi. Các Cơ-đốc nhân phải làm công việc của Ngài, thậm chí còn làm lớn hơn. Mat Mt 16:15, 17-18 “Ngài phán rằng: Còn các ngươi thì xưng Ta là ai?.. Bấy giờ, Đức Chúa Jê-sus phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều này đâu, bèn là Cha Ta ở trên trời vậy. Còn Ta, Ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, Ta sẽ lập Hội thánh Ta trên đá này, các cửa Âm-phủ chẳng thắng được hội đó.” Chúa Giê-xu phán rằng khi chúng ta công bố Phúc âm, Ngài sẽ ở cùng chúng ta, chứng thực cho lời Ngài bằng các phép lạ. Chúng ta nên mong đợi điều nầy. Chúa Giê-xu dạy bảo chúng ta phải thực hiện những công tác y như Ngài đã làm khi còn thi hành trên mặt đất. Để thông biết được gương mẫu truyền giáo hữu hiệu của Đức Chúa Trời chúng ta phải đọc kỹ các sách Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng. Đồng thời hãy hình dung ra bản chúng ta có thực hiện chính xác những công tác y như Chúa đã làm chăng? GiGa 14:12 “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin Ta, cũng sẽ làm việc Ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa.”. Chúa chưa hoàn tất công việc. Tác giả Lu-ca bảo công việc của Chúa Giê-xu mà ông đã ghi chép trong sách Tin Lành của ông chỉ là “việc làm và sự dạy dỗ ban đầu” của Chúa. Cong Cv 1:1 "Hỡi Thê-ô-phi-lơ, trong sách thứ nhứt ta, Ta từng nói về mọi điều Đức Chúa Jê-sus đã làm và dạy từ ban đầu, " CÙNG MỘT QUYỀN NĂNG. Cùng một quyền năng của Thánh Linh đã giáng trên Chúa Giê-xu để trang bị cho chức vụ của Ngài trên đất; cũng sẵn sàng ban cho các Cơ-đốc nhân ngày hôm nay. Cong Cv 1:8 "Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất." Quyền năng được ban cho chúng ta qua phép báp-têm trong Thánh Linh là để làm chứng cho Chúa Giê-xu. Đây là quyền năng cung ứng cho mọi Cơ-đốc nhân để họ hữu hiệu trong công tác truyền giáo bằng quyền phép. E. QUYỀN NĂNG TRUYỀN GIÁO. QUYỀN NĂNG ĐỐI PHÓ. Các tà giáo cũng thường bày tỏ những dấu hiệu siêu nhiên do quyền phép của ma quỉ vận hành. Để chinh phục những người hư mất đang bị cột trói trong các tà giáo nầy; điều cần thiết là các Cơ-đốc nhân phải đầy dẫy Đức Thánh Linh biểu minh quyền năng lớn lao của Ngài qua những dấu kỳ và phép lạ. Sự vận hành của các việc mầu nhiệm, các phép lạ, dấu kỳ là “khí dụng quyền năng” mà Đức Chúa Trời ban cho thân thể Ngài. T.L. Osborn đã viết rằng:”Tin Lành của nước Đức Chúa Trời được rao giảng trong quyền năng của Đức Thánh Linh được ấn chứng bởi các dấu kỳ, phép lạ và các việc mầu nhiệm, siêu nhiên; luôn luôn đem đến thắng lợi vẻ vang hơn hết, dù trong bất kỳ thế hệ nào”. Phần nhiều ở thế gian, người ta có hướng về các việc siêu nhiên. Họ muốn, cần và sẽ chấp nhận ngay một Tin Lành có kèm theo năng quyền siêu nhiên. Một cuộc chạm trán quyền lực là điều không thể tránh được. Qua đó sẽ thực tiễn tỏ ra rằng Đức Chúa Giê-xu có quyền phép hơn mọi tà thần đang được những nhóm người sợ hãi, thờ phượng. Tác giả John Wimber đã ghi lại trong tác phẩm “Power Evangelism ” của ông rằng: “Năng quyền phát sinh nhằm chiến thắng các hệ thống, các quyền lực đối nghịch, hầu cho Phúc âm được tiếp nhận...” Tác giả sách Hê-bơ-rơ đã nêu lên tầm quan trọng của các dấu kỳ, phép lạ và các phép mầu nhiệm, cùng ân tứ của Thánh Linh trong việc chinh phục tội nhân hư mất. HeDt 2:3-4 "mà nếu ta còn trễ nải sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao tránh cho khỏi được? Là sự cứu rỗi Chúa truyền ra trước hết, rồi có những kẻ nghe chứng nghiệm nó cho chúng ta, Đức Chúa Trời cũng dùngnh dấu kỳ sự lạ, và đủ thứ phép mầu, lại dùng sự ban cho của Đức Thánh Linh mà Ngài đã theo ý muốn mình phát ra, để làm chứng với các kẻ đó." PHÉP LẠ TRONG CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO. Một Phúc âm được rao giảng với các dấu kỳ phép lạ cặp theo sẽ chắc chắn phát sinh kết quả truyền giáo. Dù là Phi-e-rơ, Phi-líp hoặc Phao-lô, đều nhận được kết quả như nhau: -Họ công bố Phúc âm. -Có các phép lạ làm bằng chứng. -Vô số người tin theo. Sứ đồ Phao-lô bảo: “Phúc âm là quyền phép của Đức Chúa Trời”. RoRm 1:16 "Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc;" Các phép lạ thường cặo theo sự giảng dạy lời Đức Chúa Trời. Mac Mc 16:20 "Về phần các môn đồ, thì đi ra giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng làm với môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo làm giảng mà làm cho vững đạo" Người ta thường kéo đến với Chúa Giê-xu khi có dấu kỳ, phép lạ ấn chứng cho sự công bố Phúc âm. ĐẦY DẪY THÁNH LINH Khi chúng ta nghiên cứu sách Công-vụ, chúng ta nhận thấy rằng mỗi khi người ta đầy dẫy Thánh Linh, họ trở nên những nhà truyền giáo đầy năng quyền phép lạ để phục vụ cho Đức Chúa Giê-xu. Đức Chúa Giê-xu chịu xức dầu. Chúa phán rằng ta đã được Thánh Linh xức dầu để rao giảng Tin Lành. LuLc 4:18 "Thần của Chúa ngự trên Ta; Vì Ngài đã xức dầu cho Ta đặng truyền Tin lành cho kẻ nghèo” Sự rao giảng không được xức dầu từ Đức Thánh Linh sẽ không hiệu quả. Sự rao giảng có quyền năng của sự xức dầu luôn luôn đem đến những kết quả tốt đẹp. GƯƠNG MẪU TÂN ƯỚC. Phi-Líp Tại Sa-Ma-Ri. Phi-líp đã cho chúng ta một gương mẫu trong Tân-ước về công tác truyền giáo quyền phép. Cong Cv 8:5-8 "Phi-líp cũng vậy, xuống trong thành Sa-ma-ri mà giảng về Đấng Christ tại đó. Đoàn dân nghe người giảng và thấy các phép lạ người làm, thì đồng lòng lắng tai nghe người nói; vì có những tà ma kêu lớn tiếng lên mà ra khỏi nhiều kẻ bị ám, cùng kẻ bại và què được chữa lành cũng nhiều. Tại cớ đó, trong thành được vui mừng khôn xiết”. Dân chúng tại Sa-ma-ri nghe những điều Phi-líp nói và chứng kiến những phép lạ do ông thực hiện. Phi-Líp Và Hoạn Quan E-Thi-O-Pi. Phi-líp không chỉ vâng lời và trung tín truyền giáo cho số đông, ông cũng vâng phục và có hiệu quả khi truyền giáo cho cá nhân nữa. Cong Cv 8:26-31 "Sau-lơ tới thành Giê-ru-sa-lem rồi, muốn hiệp với các môn đồ; nhưng hết thảy đều nghi sợ người, không tin là môn đồ. Ba-na-ba bèn đem người đi, đưa đến các sứ đồ và thuật lại cho biết thể nào dọc đường Chúa đã hiện ra và phán cùng người, lại thể nào người đã giảng dạy cách bạo dạn về danh Đức Chúa Jê-sus tại thành Đa-mách. Từ đó, Sau-lơ tới lui với môn đồ tại thành Giê-ru-sa-lem, và nhơn danh Chúa mà nói cách dạn dĩ. Người cùng nói và cãi với những người Hê-lê-nít; nhưng bọn này tìm thế để hại mạng người. Các anh em hay điều đó, thì đem người đến thànhSê-sa-rê, và sai đi đất Tạt-sơ. Ay vậy, Hội thánh trong cả xứ Giu-đê, xứ Ga-li-lê và xứ Sa-ma-ri được hưởng sự bình an, gây dựng và đi trong đường kính sợ Chúa, lại nhờ Đức Thánh Linh vùa giúp, thì số của hội được thêm lên". Và Kinh Thánh bảo rằng Phi-líp đã rao giảng về Chúa Giê-xu cho vị hoạn quan. Cong Cv 8:35 "Phi-líp bèn mở miệng, bắt đầu từ chỗ Kinh thánh đó mà rao giảng Đức Chúa Jê-sus cho người". Có nhiều người, khi nghe về sứ mạng trọng đại thì kêu lên: “Tôi không thể rao giảng! Tôi chưa bao giờ đứng nói trước đám đông cả. Tất nhiên là Chúa Giê-xu không bàn đến những người giống như tôi, chắc chắn Ngài chỉ đặt vấn đề với những ai mà Ngài đã kêu gọi làm thầy giảng thôí!”. Mac Mc 16:15 "Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người". và Mác tiếp tục nói Mac Mc 16:17 "Vậy, những kẻ tin sẽ được những dấu lạ này …". Tất cả các tín đồ đều phải giảng Phúc âm. Tuy nhiên, giảng Phúc âm không có nghĩa là chúng ta phải đứng đằng sau bục giảng và tuyên rao trước một đám đông người! Trong gương mẫu của nhà truyền đạo Phi-líp chúng ta thấy ông ngồi xuống và giảng cho hoạn quan Ê-thi-ô-pi theo nguyên tắc một giảng cho một. Rao giảng có nghĩa là công bố hoặc đơn giản là chia xẻ Phúc âm của Chúa Giê-xu ở bất cứ nơi nào chúng ta đi đến. Cong Cv 8:36-38 “Hai người đương đi dọc đường, gặp chỗ có nước, hoạn quan nói rằng: Này, nước đây có sự gì ngăn cấm tôi chịu phép báp-têm chăng? Người biểu dừng xe lại; rồi cả hai đều xuống nước, và Phi-líp làm phép báp-têm cho hoạn quan”. CHIẾN LƯỢC CỦA PHAO-LÔ Sứ đồ Phao-lô bảo ông đã rao giảng Phúc âm đầy đủ. RoRm 15:11 18-21 Phao lô đã nhiệt tâm truyền giảng Phúc âm bằng quyền phép ở các vùng biên giới. Xin lưu ý, những người chưa nghe, chưa thấy, chưa hiểu, họ thấy gì? -Những dấu kỳ phép lạ. Có ba phương cách tiếp cận trong việc truyền giáo: -Lời -Hành động -Dấu kỳ và phép lạ Theo chiến lược của Kinh Thánh, để chinh phục các dân cho Chúa Giê-xu, cần có sự phối hợp hài hòa một cách thuộc linh giữa lời Chúa, hành động và các phép lạ. CUỘC CHIẾN CƠ ĐỐC ICo1Cr 2:1-5 "Hỡi anh em, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời cao xa hay là khôn sáng mà rao giảng cho anh em biết chứng cớ của Đức Chúa Trời. Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jê-sus Christ, và Đức Chúa Jê-sus Christ bị đóng đinh trên thập tự. Chính tôi đã ở giữa anh em, bộ yếu đuối, sợ hãi, run rẩy lắm. Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép; hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời". Để trở thành những nhà truyền giáo có hiệu quả trong bất cứ nền văn hóa nào chúng ta phải tin chắc về bốn thực sự nầy: -Quyền năng của Phúc âm -Quyền năng của lời Đức Chúa Trời -Quyền năng của danh Chúa Giê-xu -Truyền giáo là công tác cao cả Số người tin trong sách Công vụ được gia tăng nhanh chóng là nhờ công cuộc truyền giáo mạnh mẽ với một tinh thần chiến đấu tích cực. Cuộc chiến của chúng ta không phải để địch lại với thịt và huyết (của con người) nhưng với các thế lực tối tăm. Vương quốc của Đức Chúa Trời được mở rộng nhờ một sức tiến công dũng mãnh vào vương quốc của Satan đã định hình trên mặt đất này. Công cuộc truyền giáo nào hữu hiệu bao gồm một chiến trận thuộc linh quyết liệt và một sự biểu minh quyền năng của Đức Chúa Trời xuyên qua các phép lạ. Mat Mt 11:12 “Song, từ ngày Giăng Báp-tít đến nay, nước thiên đàng bị hãm ép, và là kẻ hãm ép đó choán lấy.” III. THI HÀNH CHỨC VỤ BỞI SỰ XỨC DẦU Sự sức dầu chính là sự hiện diện thiết thực của Đức Chúa Trời. Đây là sự thông- ban chính năng lực của Ngài trên nhữngống dẫn có kết quả, sẳn sàng để thực thi ý muốn và công việc của Ngài. Học tập để tuôn đổ những điều Đức Chúa Trời đang thực hiện là bí quyết để khai phóngcho những người khác được tự do. Ơn sức dầu có thể tích trữ, chuyển nhượng và chia phần trong sự đặt tay. Chính Đức Chúa Giê-Xu cũng đã cần sự sức dầu. Mọi việc Chúa đã làm khi thi hành chức vụ trên đất đều nhờ sự sức dầu và bởi các ân tứ của Thánh Linh. Chúa đã nghe biết và nhận thấy những sự việc trong lãnh vực thuộc linh là nhờ những ân tứ mặc khải. Vậy những ai muốn thực hiện công tác như Chúa Giê-xu đã làm; phải học tập cách thi hành chức vụ bởi sự sức dầu. Đường lối cơ bản của Đức Chúa Trời là sự dẫn dắt dân sự của Ngài bằng sự xức dầu của Đức Thánh Linh. Tất cả những dị tượng, các sự khải thị, các sự cảm nhận và mọi sự bày tỏ ra phải được kiểm tra bằng sự xức dầu ở bề trong chúng ta. Trong lãnh vực truyền giáo quyền phép tất cả những cảm nhận cần được tiếp thu qua sự xác nhận từ bên trong của chúng ta. Khi chúng ta bước ra thi hành công tác trong các ân tứ quyền năng, chúng ta sẽ thấy các phép lạ xảy ra và mọi người sẽ hưởng ứng Phúc âm. Thế giới nầy không thể biến cải và tin theo Phúc âm nếu sự rao giảng của chúng ta thiếu quyền phép và ơn xức dầu của Đức Thánh Linh. A. LỜI HỨA VỀ THÁNH LINH. LỜI HỨA TRONG CỰU-ƯỚC Sự xức dầu của Đức Thánh Linh đã được hứa trong Cựu-ước. Gio Ge 2:28-29 . LỜI HỨA TRONG TÂN ƯỚC. Sự đổ đầy Thánh Linh đã được hứa trong Tân-ước. LuLc 24:49 GiGa 7:37-39 Cong Cv 2:38-39 NHẬN LINH CỦA LỜI HỨA. Vào ngày Lễ Ngũ Tuần Đức Thánh Linh giáng xuống như lời Chúa Giê-xu đã hứa. Cong Cv 2:1-4 "Đến ngày lễ Ngũ-tuần, môn đồ nhóm họp lại một chỗ. Thình lình, có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi. Các môn đồ thấy lưỡi rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người trong bọn mình. Hết thẻy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói". Để nhận lãnh ân tứ Thánh Linh chúng ta chỉ đơn giản cầu xin và tiếp nhận bằng đức tin. LuLc 11:11-13 . Được đổ đầy Đức Thánh Linh là một ân tứ tốt lành từ Cha ban cho. Chính Đức Chúa Trời đang ao ước ban Thánh Linh đầy dẫy cho bạn. ĐỨC CHÚA GIÊ-XU LÀ GƯƠNG MẪU CHO CHÚNG TA. Đức Chúa Giê-xu đã là một con người thuần túy khi Ngài sống trên đất và cả Kinh Thánh bảo rằng Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Ngài bằng Thánh Linh và quyền phép. Đức Chúa Trời làm điều đó cho Đấng mà Ngài đã bổ nhiệm. Đức Chúa Giê-xu cần ơn xức dầu để rao giảng bằng Phúc âm. LuLc 4:18 "Thần của Chúa ngự trên Ta; Vì Ngài đã xức dầu cho Ta đặng truyền Tin lành cho kẻ nghèo". Cong Cv 10:38 "thể nào Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Đức Chúa Jê-sus ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi họ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài". LuLc 3:21-22 "Vả, khi hết thảy dân chúng đều chịu phép báp-têm, Đức Chúa Jê-sus cũng chịu phép báp-têm. Ngài đương cầu nguyện thì trời mở ra, Đức Thánh Linh lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Ngài; lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu Ta, đẹp lòng Ta mọi đường". Nếu như Đức Chúa Giê-xu thi hành chức vụ với tư cách là Con Đức Chúa Trời, Ngài sẽ không cần sự xức dầu của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, Ngài đã ở trong địa vị là A-đam sau cùng, như một con người, như một Đức Chúa Trời trong xác thịt; do đó, Ngài cần thực thi công tác qua sự xức dầu của Đức Thánh Linh. Điều nầy cũng ứng dụng tương tự cho các Cơ-đốc nhân ngày hôm nay. B. SỰ XỨC DẦU. CÙNG MỘT SỰ XỨC DẦU NHƯ CHÚA GIÊ-XU Chúng ta cần cùng một sự xức dầu như Chúa đã nhận để thực hiện những công việc mà Ngài đã từng làm. Chúa phán với mọi tín đồ phải làm công việc của Ngài. Ngài không phán riêng với các sứ đồ hay với những người đã từng trãi lâu năm, lão luyện trong các công tác. Đức Chúa Trời đưa ra một tiêu chuẩn chung cho mọi Cơ-đốc nhân, họ phải nhận lãnh cùng một sự xức dầu để thực hiện công việc mà Chúa Giê-xu đã làm. GiGa 14:12 “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin Ta, cũng sẽ làm việc Ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì Ta đi về cùng Cha”. SỰ XỨC DẦU BỀ TRONG Sự xức dầu của Cơ-đốc nhân đến từ bề trong. IGi1Ga 2:27 “Về phần các con, sự xức dầu đã chịu từ nơi Chúa vẫn còn trong mình, thì không cần ai dạy cho hết; song vì sự xức dầu của Ngài dạy các con đủ mọi việc, mà sự ấy là thật, không phải dối, thì hãy ở trong Ngài, theo như sự dạy dỗ mà các con đã nhận” Mọi Cơ-đốc nhân đều đã nhận được một sự xức dầu ở bên trong ngay khi Đức Thánh Linh ngự đến, cư trú trong tâm linh họ. Ngoài ra, Đức Chúa Trời cũng ban một sự xức dầu đặc biệt trên các Cơ-đốc nhân được Ngài lựa chọn cho những chức vụ, hoặc công tác đặc biệt. Ơn xức dầu trong cuộc sống của người tín đồ là để họ thực hiện những chức năng trong lãnh vực thuộc linh qua sự vận hành các ân tứ siêu nhiên được Đức Thánh Linh ban cho. Trong Cựu-ước, những tín đồ không có sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong họ như chúng ta có từ ngày lễ Ngũ tuần. Trong Cựu-ước, Đức Thánh Linh chỉ giáng lên trên các tiên tri, vua chúa hoặc các thầy tế lễ để ban cho họ năng quyền thực hiện công việc Ngài. XaDr 4:6 “Ay chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy”. C. NHỮNG LÝ DO CHO SỰ XỨC DẦU VỀ CÁC CÔNG VIỆC CHO SỰ XỨC DẦU CỦA ĐỨC CHÚA GIÊ-XU. Ơn xức dầu là điều không thể thiếu được nên chúng ta muốn thực hiện những công tác mà Chúa Giê-xu đã thi hành. Mac Mc 16:17-18 . Mat Mt 28:16-20 . KẾT QUẢ. Nhờ ơn xức dầu của Đức Thánh Linh mà các Cơ-đốc nhân có được các bông trái tốt. GiGa 15:7-8 . SỰ HÒA THUẬN. Nhờ Đức Chúa Giê-xu chúng ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời. Bây giờ chúng ta khiến thế gian hòa thuận cùng Ngài. IICo 2Cr 5:17-21 "Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới. Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi. Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhơn danh Đấng Christ mà nài xin anh em: hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời". GIỐNG NHƯ ĐỨC CHÚA GIÊ-XU Chúng ta phải biến hóa giống như hình ảnh của Đức Chúa Trời. IICo 2Cr 3:18 "Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa, là Thánh Linh". DẠY DỖ CHÚNG TA. Ơn xức dầu của Đức Chúa Trời sẽ dạy dỗ chúng ta mọi điều. IGi1Ga 2:20-27 . NHẬN BIẾT SỰ KÊU GỌI. Chúng ta phải học tập chờ đợi Đức Thánh Linh vận hành và nhận biết được chức năng mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng ta. Cong Cv 10:38 “thể nào Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Đức Chúa Jê-sus ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi họ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài". Chúng ta phải tin chắc rằng có hiện diện của linh Đức Chúa Trời trên đời sống của chúng ta. Người ta phải nhìn thấy, tin cậy và tôn trọng sự xức dầu nầy. Mat Mt 20:30-34 . HỌC TẬP ĐỂ THI HÀNH CHỨC VỤ. Để học tập trở thành ống dẫn cung ứng Thánh Linh, chúng ta phải có: - Sự nhận biết. - Sự nhạy cảm. - Sự sẵn sàng. - Những tư tưởng tích cực. - Vâng phục. Chúng ta sẽ - Có sự hiểu biết. - Kết ước với Ngài. - Làm việc dưới sự lãnh đạo của Đức Thánh Linh. Chúng ta phải học tập để được Đức Thánh Linh dẫn dắt và học tập để tuôn đổ những gì Đức Chúa Trời đang vận hành, đó chính là bí quyết thành công cho chức vụ của chúng ta. RoRm 8:14 "Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời". ChCn 20:24 "Các bước của loài người do nơi Đức Chúa Trời nhứt định”. CHỨNG CỚ Ở BỀ TRONG. Khi chúng ta hoạt động trong sự xức dầu của Đức Thánh Linh sẽ có một sự ấn chứng bên trong tâm linh của chúng ta. RoRm 8:16 . GiGa 14:20 . TIẾNG NÓI BỀ TRONG. Lương tâm của chúng ta là tiếng nói, hay là lời chứng của Đức Thánh Linh. Những Lời Chỉ Dẫn Cho Ti-Mô-Thê. Sứ đồ Phao-lô đã viết cho Ti-mô-thê những lời tốt đẹp. ITi1Tm 6:17-19 "Hãy răn bảo kẻ giàu ở thế gian này đừng kiêu ngạo và đừng để lòng trông cậy nơi của cải không chắc chắn, nhưng hãy để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng. Hãy răn bảo họ làm điều lành, làm nhiều việc phước đức, kíp ban phát và phân chia của mình có, vậy thì dồn chứa về ngày sau một cái nền tốt và bền vững cho mình để được cầm lấy sự sống thật”. Gieo câu 18. Gặt câu 19. Quản gia: các tín đồ là những quản gia của Đức Chúa Trời vì cuối cùng mọi sự đều thuộc về họ. IPhi 1Pr 4:10 "Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời". Đội quân tiên phong của Hội thánh đầu tiên đã tình nguyện đi vào thế gian, bán hết tài sản mình có, bắt đầu từ ruộng đất. Rồi họ sốt sắng ra đi đến đầu cùng trái đất để phục vụ cho Cứu Chúa. Vì đối với họ để Phúc âm được công bố thì không có một hy sinh nào đáng coi là quá lớn lao cả. Chúng ta phải xác định mục đích cho đức tin của chúng ta, để chúng ta dâng hiến cho công việc Chúa. Rồi chúng ta sẽ hoàn tất sứ mạng trọng đại của Ngài. Các Cơ-đốc nhân đầu tiên có đất ruộng, đã bán đi và đem tiền đặt dưới chân của các sứ đồ. Thu gặt đức tin. Chúng ta nghe về Ba-na-ba, lần nữa khi ông được chọn đi đến thành An-ti-ốt Kinh Thánh chép ông là người nhân đức, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin. Cong Cv 11:12-14 "Này, sáu người anh em đây đồng đi với ta, và chúng ta đều vào trong nhà Cạt-nây. Người này thuật lại cho ta thể nào tại nhà mình đã thấy một thiên sứ hiện đến và phán rằng: Hãy sai tới thành Giốp-bê, mời Si-môn cũng gọi là Phi-e-rơ đến đây. Người sẽ nói cho ngươi những lời, mà nhờ đó, ngươi và cả nhà mình sẽ được cứu rỗi". Thu gặt những linh hồn. Ba-na-ba đã đi tìm Sau-lơ, đem người vào chức vụ. Hai người đã dạy dỗ Hội thánh tại An-ti-ốt trọn cả năm, môn đồ hóa nhiều người. Cong Cv 11:25-26 "Kế đó, Ba-na-ba đi đến thành Tạt-sơ, để tìm Sau-lơ, tìm gặp rồi, bèn đưa đến thành An-ti-ốt. Trọn một năm, hai người cùng nhóm với Hội thánh và dạy dỗ nhiều người. Ay là ở thành An-ti-ốt, người ta bắt đầu xưng môn đồ là Cơ-rê-tiên”. Thu gặt sự xức dầu. Ba-na-ba và Sau-lơ đã được Đức Thánh Linh biệt riêng ra cho chức vụ mà Ngài đã kêu gọi họ. Họ được sai đi để dạy dỗ rao giảng. Cong Cv 13:2-5 "Đương khi môn đồ thờ phượng Chúa, và kiêng ăn, thì Đức Thánh Linh phán rằng: Hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ đặng làm công việc Ta đã gọi làm. Đã kiêng ăn và cầu nguyện xong môn đồ bèn đặt tay trên hai người, rồi để cho đi. Vậy, Sau-lơ và Ba-na-ba đã chịu Đức Thánh Linh sai đi, bèn xuống thành Sê-lơ-xi, rồi từ đó đi thuyền đến đảo Chíp-rơ. Đến thành Sa-la-min, hai người giảng đạo Đức Chúa Trời trong các nhà hội của người Giu-đa; cũng có Giăng cùng đi để giúp cho”. Thu gặt tài chánh. Từ khi Ba-na-ba dâng hiến tất cả tài sản của mình, chúng ta không nghe nói ông làm việc để kiếm tiền nữa. Ông cũng không có nguồn tài chánh nào vì ông đã tận hiến cho Chúa. Ông đã trung tín gieo ra. Truyền giáo cho thế giới là mục tiêu cơ bản. Vấn đề tài chánh thạnh vượng đã có trong lời của Ngài rồi. D. NHÀ NÔNG GIEO VÀ GẶT. Khi một nông dân gieo hạt giống, ông không thu lại chỉ một hạt đã gieo. Một hạt lúa sẽ nẩy mầm ra cây lúa, cây lúa có nhiều bông, mỗi cây kết hàng trăm hạt... Nhà nông trước hết phải gieo ra rồi về sau mới có thể gặt hái. Hễ gieo nhiều thì mùa gặt càng lớn. IICo 2Cr 9:6 "Hãy biết rõ điều đó, hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều". Vậy, mỗi người hãy ban cho theo lòng mình đã dự định, đừng vì miễn cưỡng, bởi Đức Chúa Trời yêu thương những ai vui lòng dâng hiến. Đức Chúa Trời đã hứa sẽ cung ứng cả giống để gieo và lương thực cần thiết để chúng ta dùng hằng ngày. IICo 2Cr 9:10 "Đấng phát hột giống cho kẻ gieo giống và bánh để nuôi mình, cũng sẽ phát hột giống cho anh em và làm cho sanh hóa ra nhiều, Ngài lại sẽ thêm nhiều trái của sự công bình anh em nữa". SƯ LỰA CHỌN CỦA CHÚNG TA. Chúng ta có quyền lựa chọn, hoặc là gieo ra hạt giống của mình hoặc ăn nó đi. Khi chúng ta thực hành đức tin của mình, gieo ra hạt giống; chúng ta sẽ khai phóng quy luật gieo và gặt của Đức Chúa Trời trên đời sống mình. PhuDnl 26:13-14 "Rồi ngươi sẽ nói tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi , rằng: Tôi đã đemnh vật thánh khỏi nhà tôi và cấp cho người Lê-vi, khách lạ, kẻ mồ côi, cùng người góa bụa, chiếu theo các mạng lịnh mà Ngài đã phán dặn tôi; tôi không phạm cũng không quên một mạng lệnh nào của Ngài. Trong lúc tang chế, tôi không ăn đến vật thánh này; khi bị ô uế, tôi không đụng đến đó, và cũng không vì một người chết mà dùng đến; tôi vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, và làm y như mọi điều Ngài đã phán dặn tôi.". Vua Sa-lô-môn nhắc nhở chúng ta rằng nếu chúng ta cứ dựa vào hoàn cảnh thì không khi nào chúng ta gieo ra được đâu. TrGv 11:4 . GIEO RA VÀO BUỔI SÁNG VÀ BUỔI CHIỀU. Chúng ta phải thường xuyên gieo việc lành, rao giảng Phúc âm của Đức Chúa Giê-xu. TrGv 11:4 "Ai xem gió sẽ không gieo; ai xem mây sẽ không gặt.". GIEO TRONG XÁC THỊT HAY TRONG LINH. Sứ đồ Phao-lô bảo chúng ta sẽ gặt điều chúng ta đã gieo. GaGl 6:6-9 "Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy đó. Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt.". Quy luật thạnh vượng của Đức Chúa Trời -Gieo giống. -Đến kỳ chúng ta sẽ gặt. IGi1Ga 3:20-21 "Vì nếu lòng mình cáo trách mình, thì Đức Chúa Trời lại lớn hơn lòng mình nữa, và biết cả mọi sự. Hỡi kẻ rất yêu dấu, ví bằng lòng mình không cáo trách, thì chúng ta có lòng rất dạn dĩ, đặng đến gần Đức Chúa Trời.". VÂNG LỜI. Khi chúng ta đã biết được ý muốn Chúa nhờ các ân tứ khải thị của Đức Thánh Linh; và chúng ta vâng lời Ngài; chúng ta sẽ phụng sự Ngài có hiệu quả như Phi-líp vậy. Cong Cv 8:26-31 "Bấy giờ, có một thiên sứ của Chúa phán cùng Phi-líp rằng: Hãy chờ dậy đi qua phía nam, trên con đường từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Ga-xa. Đường ấy vắng vẻ. Ngài chờ dậy và đi. Kìa, có một hoạn quan Ê-thi-ô-bi, làm quan hầu của Can-đác, nữ vương nước Ê-thi-ô-bi, coi sóc cả kho tàng bà, đã đến thành Giê-ru-sa-lem để thờ phượng, khi trở về, ngồi trên xe mà đọc sách tiên tri Ê-sai. Đức Thánh Linh phán cùng Phi-líp rằng: Hãy lại gần và theo kịp xe đó. Phi-líp chạy đến, nghe người Ê-thi-ô-bi đọc sách tiên tri Ê-sai, thì nói rằng: Ông hiểu lời mình đọc đó chăng? Hoạn quan trả lời rằng: Nếu chẳng ai dạy cho tôi, thể nào tôi hiểu được? Người bèn mời Phi-líp lên xe ngồi kề bên.”. E. THI HÀNH CHỨC VỤ BỞI SỰ XỨC DẦU. Vấn đề quan trọng là mỗi một tín đồ phải học biết chuyển động và thực hiện công tác trong Thánh Linh. Các Cơ-đốc nhân phải dạn dĩ áp dụng ơn xức dầu mà Đức Chúa Trời đã đặt trên đời sống của họ để thực hiện những công tác như chính Chúa Giê-xu đã làm. ĐỨC CHÚA GIÊ-XU VÀ NGƯỜI ĐÀN BÀ SA-MA-RI. Chúng ta có một gương mẫu tuyệt vời về sự vận dụng ân tứ mặc khải từ Thánh Linh của Chúa Giê-xu, lúc Ngài giảng dạy cho người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng nước. Chúa đã đối diện với bà bằng ân tứ mặc khải siêu nhiên đến từ Thánh Linh. GiGa 4:16-18 "Đức Chúa Jê-sus phán rằng: Hãy đi gọi chồng ngươi, rồi trở lại đây. Người đàn bà thưa rằng: Tôi không có chồng. Đức Chúa Jê-sus lại phán: Ngươi nói rằng: Tôi không có chồng, là phải lắm; vì ngươi đã có năm đời chồng, còn người mà ngươi hiện có, chẳng phải là chồng ngươi; điều dó ngươi đã nói thật vậy.". GiGa 4:30, 39 "Chúng bèn từ trong thành ra và đến cùng Đức Chúa Jê-sus. Có nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì cớ lời đờn bà đã làm chứngvề Ngài mà rằng: Ngài đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm.”. SỨ ĐỒ PHAO-LÔ VÀ LINH BÓI KHOA. Sứ đồ Phao-lô đã vận dụng ơn phân biệt các linh nhờ sự xức dầu trên ông để xử lý với linh bói khoa. Cong Cv 16:16-18 . PHI-E-RƠ VÀ GIĂNG CHỮA LÀNH NGƯỜI QUÈ . Sứ đồ Phi-e-rơ và Giăng đã thi hành chức vụ bởi sự xức dầu của Đức Chúa Trời khi họ chữa lành cho người què tại Cửa đẹp. Cong Cv 3:1-9 "Buổi cầu nguyện giờ thứ chín, Phi-e-rơ với Giăng cùng lên đền thờ. Vả, có một người què từ lúc sanh ra, cứ hằng ngày người ta đem đặt tại cửa đền, gọi là Cửa Đẹp, đặng ăn mày những người vqào đền. Người thấy Phi-e-rơ và Giăng vào, thì xin hai người bố thí. Phi-e-rơ với Giăng ngó chăm người, rồi nói rằng: Hãy nhìn xem chúng ta. Vậy, người bèn nhìn chăm chăm hai người, tưởng sẽ được chút gì. Nhưng Phi-e-rơ nói với người rằng: Ta chẳng có vàng bạc chi hết, song điều ta có thì ta cho ngươi: nhơn dang Đu71c Chúa Jê-sus Christ ở Na-xa-rét, hãy bước đi! Phi-e-rơ nắn tay hữu người đỡ dậy. Tức thì bàn chơn và mắt cá người trở nên cứng vững; người liền nhảy, đứng lên và bước đi cùng hai người vào đền thờ, vừa đi, vừa nhảy, vừa ngợi khen Đức Chúa Trời. Cả dân chúng đều thấy người bước đi và ngợi khen Đức Chúa Trời.". Trong công cuộc truyền giáo quyền phép, chúng ta cần nhạy bén với sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Chúng ta cần để cho Đức Chúa Trời bày tỏ gốc rễ của các vấn đề xuyên qua tri thức được Ngài mặc khải, chúng ta cần dạn dĩ công bố và làm phát lộ năng quyền của Đức Chúa Trời trong ơn xức dầu mà chúng ta đã có trên đời sống mình. Có những sự xức dầu và những ban tứ đặc biệt dành cho những người biệt riêng lão luyện trong chức-vụ để họ tỏ bày ra các năng quyền và sự khải thị siêu nhiên. Tuy nhiên ơn xức dầu và năng lượng để làm những công tác cho Chúa Giê-xu được dành cho hết thảy tín đồ. PHI-LÍP Ở SA-MA-RI. Phi- líp là một gương mẫu tốt về một Cơ-đốc nhân thi hành chức vụ dưới sự xức dầu của Đức Thánh Linh.Vào cuối sách Công-vụ, chúng ta thấy Phi-líp đảm nhiệm trọng trách của một thầy giảng Tin Lành chuyên biệt. Tuy nhiên, tại Sa-ma-ri, ông chỉ vâng lời Chúa Giê-xu, làm một chứng nhân, và thi hành chức năng như một tín hữu bình thường hay một chấp sự của Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem. Cong Cv 8:4-8, 12, 13. "Vậy, những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin lành. Phi-líp cũng vậy, xuống trong thành Sa-ma-ri mà giảng tại đó. Doàn dân nghe người giảng và thấy các Phép lạ người làm, thì đồng lòng lắng tai nghe người nói; Vì có những tà ma kêu lớn tiếng lên mà ra khỏi nhiều kẻ bị ám, cùng kẻ bại và què được chữa lành cũng nhiều. Tại cớ đó, trong thành được vui mừng khôn xiết. Nhưng khi chúng đã tin Phi-líp, là người rao giảng Tin lành của nước Đức Chúa Trời và danh Đức Chúa Jê-sus Christ cho mình, thì cả đờn ông đờn bà đều chịu phép Báp-tem. Chính Si-môn cũng tin, và khi đã chịu phép Báp-tem, thì ở luôn với Phi-líp; người thấy những dấu lạ phép kỳd làm ra, thì lấy làm lạ lắm.". Tất cả những tín đồ đều sở hữu một sự xức dầu bên trong để chinh phục tội nhân hư mất. Những tín đồ đã nhận lãnh báp-têm trong Thánh Linh, vâng lời Chúa Giê-xu, dạn dĩ làm chứng sẽ kinh nghiệm được một sự xức dầu tuyệt vời của Đức Thánh Linh giáng trên họ, tức sự xức dầu phục vụ cho công cuộc truyền giáo quyền phép dũng mãnh. Họ, giống như Phi-líp, sẽ kinh nghiệm cùng ơn xức dầu đã giáng trên Chúa Giê-xu khi Ngài nói: “Linh của Đức Chúa Trời ngự trên Ta vì Ngài đã xức dầu cho Ta để rao giảng...” CHINH PHỤC CÁC THÀNH PHỐ. Hội thánh có gánh nặng chinh phục cả thành phố cần trang bị cho mọi tín đồ thi hành chức vụ bởi ơn xức dầu của Đức Thánh Linh. EsIs 10:27 "Trong ngày đó, gánh nặng nó sẽ cất khỏi vai ngươi, ách nó cất khỏi cổ ngươi, ách sẽ bị gãy vì sự béo mập." Những Cơ-đốc nhân học biết cách nhận lãnh, tuôn đổ Thánh Linh và thực thi chức vụ trong ơn xức dầu của Ngài sẽ trở nên đầy dẫy quyền năng, làm công việc quyền phép của những nhà chinh phục linh hồn cho Cứu Chúa Giê-xu. IV. TÀI CHÁNH VÀ TINH THẦN TIÊN PHONG A. TÀI CHÁNH CHO CUỘC PHỤC HƯNG. Vào những năm 1980, Thánh Linh đã dạy dỗ về tầm quan trọng của sự thạnh vượng để trang bị kinh tế cho Hội thánh, ngõ hầu đáp ứng cho mùa gặt toàn cầu trong thập niên 90 của thế kỷ 20. Thực tế sẽ phí tổn hàng triệu đôla để hoàn tất sứ mạng trọng đại . Mọi nổ lực truyền giáo cần tài chánh. Việc phát triển các chức vụ, công tác không thể thiếu tiền bạc. Thánh Linh đã nhấn mạnh đến sự thạnh vượng để giải phóng chúng ta khỏi sự nợ nần và cung ứng cho chúng ta để hoàn tất mùa gặt toàn cầu trong kỳ sau rốt. HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN Chúng ta thường nghe Hội thánh ban đầu bán mọi điều họ có để dâng hiến cho Đức Chúa Trời. Cong Cv 4:32-35 "Vả, người tin theo đông lắm, cứ một lòng một ý cùng nhau. Chẳng ai kể của mình là của riêng; nhưng kể mọi vật là của chung cho nhau. Các sứ đồ lại lấy quyền phép rất lớn mà làm chứng về sự sống lại của Đức Chúa Jê-sus Christ; và hết thảy đều được phước lớn. Vì trong tín đồ không ai thiếu thốn cả, bởi những người có ruộng hay nhà dều bán đi, bán được bao nhiêu tiền cũng đem đến đặt dưới châ các sứ đồ; rồi tùy theo sự cần dùng của mổi người mà phát cho. ". Thật thú vị nhận thấy rằng, ngay giữa câu chuyện nầy tinh thần dâng hiến đã lan khắp Hội thánh. Chúng ta tìm thấy những lời quan trọng nầy: “Các sứ đồ lại lấy quyền năng rất lớn mà làm chứng về sự sống lại của Chúa Giê-xu...” GƯƠNG MẪU CỦA BA-NA-BA. Gieo- dâng hiến tất cả. Ba-na-ba là một người bán hết những gì mình có và mang tiền đến dâng cho các sứ đồ, ông đầu tư nó cho công cuộc truyền giáo cho thế gian. Cong Cv 4:36-37 "Vậy có Giô-sép mà các sứ đồ đặt tên là ba-na-ba, nghĩa là con trai của sự yên ủi, về họ Lê-vi, quê hương tại Chíp-rơ, có một đám ruộng, bán đi, đem tiền đặt nơi chơn các sứ đồ.". Thu gặt đức tin. Chúng ta lại nghe về Ba-na-ba lần nữa. Khi ông được lựa chọn để đi đến An-ti-ốt, Kinh Thánh nói ông là người lương thiện, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin. Cong Cv 11:22-24 "Hội bèn sai Ba-na-ba sang đến thành An-ti-ốt. Khi người đến nơi và thấy ơn Đức Chúa Trời, bèn vui mừng và khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa; vì Ba-na-ba thật là người lành đầy dẫy Thánh Linh và đức tin. Bấy giờ rất đông người tin theo Chúa.". Thu gặt những linh hồn. Câu 24b “Bấy giờ rất đông người tin theo Chúa.". Ba-na-ba đi tìm Sau-lơ. đem ông trở lại với chức vụ của ông. Hai người dạy dỗ trọn cả năm, môn đồ hóa nhiều người tạo thành An-ti-ốt. Cong Cv 11:25-26 . Thu gặt sự xức dầu. Đức Thánh Linh đã biệt riêng Phao-lô và Ba-na-ba cho công tác mà Ngài đã kêu gọi họ. Họ được sai phái ra đi dạy dỗ và rao giảng. Cong Cv 13:2-5 Thu gặt tài chánh. Từ khi Ba-na-ba tận hiến mọi sự chúng ta không nghe ông làm việc kiếm tiền nữa. Ông cũng không có một nguồn tài chánh nào. Ông đã dâng tất cả những gì mình có cho Chúa. Ông đã trung tín gieo hạt giống cho Phúc âm, và ông đã bội thu trong chức vụ diệu kỳ của mình. Ba-na-ba đã có đủ tài chánh mà ông cần để làm theo ý muốn của Thánh Linh và ra đi khắp nơi trên thế giới, rao giảng Phúc âm. B. QUY LUẬT GIEO VÀ GẶT. Đức Chúa Trời mong muốn chúng ta hiểu biết chu kỳ gieo và gặt và rồi lại gieo nhiều hơn. Đây là một nguyên tắc mà Ngài đã thiết định trong vũ trụ nầy. Truyền giáo cho thế giới hiển nhiên là công tác tốt lành. Đức Chúa Trời mong muốn chúng ta được thạnh vượng để gieo cho công việc truyền giáo chúng ta không thể chia phần những gì mà chúng ta không có. Chúng ta gieo gì thì sẽ gặt đó. Nếu chúng ta gieo hạt giống mình cho Phúc âm của Đức Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ thu hoạch mùa màng của Ngài. Đức Chúa Trời sẽ nhận lấy hạt giống của chúng ta và nhân lên cho chúng ta. Hãy chú ý rằng chúng ta sẽ gặt vào “kỳ thuận tiện”; và gặt những gì mình đã gieo. Nếu chúng ta gieo tiền bạc thì sẽ gặt tiền bạc. Chúng ta không thể mong đợi Đức Chúa Trời phúc đáp tài chánh khi chỉ gieo “việc lành” suông thôi. Nếu chúng ta mong ước có nhiều của cải vật chất hơn để chinh phục tội nhân hư mất, nhiều tiền bạc hơn để giải quyết những nhu cần, thì chúng ta phải gởi nhiều tiền hơn vào nước Đức Chúa Trời. C. TINH THẦN TIÊN PHONG. Tinh thần tiên phong là sức mạnh mở ra những thông lộ mới để có nhiều người khác có thể tiến lên theo sau đó. Hội thánh đầu tiên đã là một cơn bùng nổ đập vào thành trì của thế gian được dựng nên bằng những truyền thống, luật lệ. Tinh thần tiên phong sẽ xung kích tiến lên, vượt mọi trở ngại để tiếp cận với những lãnh vực mới mẻ. Con người tiên phong luôn được kêu gọi dấn thân vào một cuộc phiêu lưu gian khổ đầy thách thức, hiểm nguy. Những nhà tiên phong của Hội thánh Tân ước đã giúp Hội thánh vượt qua các trở ngại, đã thiết định những ân tứ và phóng thích cho những người nam, người nữ dấn thân vào công trường của Đấng Christ, làm các công việc Ngài. Sức mạnh của Hội thánh Tân ước được phát huy và thăng tiến trong công cuộc truyền bá Phúc âm cho thế giới. PHỤC HƯNG Đức Chúa Trời đang tái lập các người tiên phong trong công cuộc truyền giáo có quyền phép của Hội thánh. Có một sự thúc giục trong tâm linh họ để di hành và tiến quân ra những vùng đất mới. Đức Chúa Giê-xu đã nêu lên một gương sáng về người truyền giáo tiên phong. Ngài cùng các môn đồ liên tục đi từ nơi nầy sang nơi khác, không nghỉ ngơi quá lâu ở một chỗ bởi vì nhiều nơi khác chưa được nghe Phúc âm. CÁC GƯƠNG MẪU KHÁC Gương của Phao-lô. Sứ đồ Phao-lô hiển nhiên là một gương mẫu của tinh thần tiên phong. Ông là: - Một sự quấy rầy cho truyền thống cũ kỹ. - Một sự nhức đầu cho các nhà lãnh đạo tôn giáo. - Một người phá tan những luật lệ khắc khe của luật pháp. - Là tổ phụ của những nhà tiên phong Tân ước. Trước khi Phao-lô hối cải; ông hoàn toàn dự phần trong việc phá hoại Hội thánh, sau khi ông đã tiếp nhận Đức Chúa Giê-xu Christ là Cứu Chúa mình, ông trọn vẹn hiến dâng cho sự phát triển vương quốc của Đức Chúa Trời. Khi những người khác khoe khoang về những việc họ đã làm, sứ đồ Phao-lô đã viết hết thảy các điều mà ông đã kinh qua vì Phúc âm. Tuy nhiên, ông bảo ông không khoe khoang về những điều nầy đâu. IICo 2Cr 11:23 : “Họ là chấp sự của Đấng Christ chăng? Tôi nói như một kẻ ngu dại và còn hơn.” - Có công lao nhiều hơn. - Bị đánh đòn quá chừng. - Lắm phiên bị tù đày. - Nhiều lần liều chết. - Năm lần người Do-thái đánh, mỗi lần thiếu một roi đủ 40. - Ba lần bị đòn vọt. - Một lần bị ném đá. - Ba lần bị chìm tàu. - Một ngày, một đêm bị chìm ở biển sâu. - Đi đường nhiều. - Nguy trên sông bến. - Nguy với trộm cướp. - Nguy với đồng bào. - Nguy với dân ngoại bang. - Nguy trong thành phố. - Nguy giữa đồng vắng. - Nguy trên biển. - Nguy giữa anh em giả dối. - Nhọc nhằn vất vả. - Thường không ngủ. - Đói khát. - Thường phải nhịn ăn. - Trần truồng, lạnh lẽo. - Ngoài những điều đó ra, hằng ngày còn có sự lo lắng về hết thảy các Hội thánh đè ập trên tôi nữa. Các sứ đồ: Thậm chí dù có sự hăm dọa đánh đập, giết chóc, các sứ đồ vẫn hằng ngày đến đền thờ (nơi công cộng) và ở mỗi nhà riêng dạy dỗ và rao giảng về Đức Chúa Giê-xu. Cong Cv 5:40-42 "thì đòi các sứ đồ trở vào, sai đánh đòn rồi cấm không được lấy danh Đức Chúa Jê-sus mà giảng dạy; đoạn tha ra. Vậy, các sứ đồ từ toà công luận ra, đều hớn hở về mình đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Đức Chúa Jê-sus. Ngày nào cũng vậy, tại trong đền thờ hoặc từng nhà, sứ đồ cứ dạy dỗ rao truyền mãi về Tin lành của Đức Chúa Jê-sus, tức là Đấng Christ.". Những tín đồ bị ngược đãi: Ở trên trở thành người tuận đạo đầu tiên thậm chí khi đang đối diện với sự chết ông vẫn giảng dạy lời Đức Chúa Trời. Những lời ông trình bày đã có tác dụng đến một con người đang chứng kiến: người đó về sau chính là sứ đồ Phao-lô. Khi bắt bớ gia tăng, các tín đồ đã chạy tan lạc để bảo vệ gia đình khỏi tù tội và chết chóc. Nhưng họ đã làm gì? Có phải họ đã nín lặng trong đức tin để được sống thoải mái? Không, họ đã đi khắp nơi để rao giảng lời của Đức Chúa Trời. Cong Cv 8:1-4 “Sau-lơ vốn ưng thuận về sự Ê-tiên bị giết. Trong lúc đó, Hội thánh ở thành Giê-ru-sa-lem gặp cơn bắt bớ dữ tợn, trừ ra các sứ đồ, còn hết thảy tín đồ đều phải chạy tan lạc trong các miền Giu-đê và xứ Sa-ma-ri. Dầu vậy có mấy người tin kính chôn xác Ê-tiên và than khóc người quá bội. Nhưng Sau-lơ làm tàn hại Hội thánh, sấn vào các nhà, dùng sức mạnh bắt đàn ông, đàn bà mà bỏ tù. Vậy, những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin Lành.” Trong những giai đoạn chịu bắt bớ lớn hơn hết, công cuộc truyền bá Phúc âm tiến triển không ngừng. D. KẾ HOẠCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Kế hoạch xây dựng Thân thể Đấng Christ của Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Hội thánh ban đầu đã vâng phục sứ mạng trọng đại, đã đi khắp nơi làm công việc của Chúa Giê-xu, chữa lành kẻ đau, giảng và dạy Tin Lành của nước trời. Các tín hữu đã phải liên tục đối diện với sự bắt bớ thậm chí cả cái chết. CHỨC VỤ CỦA CÁC NHÓM. Chúa Giê-xu đã sai bảy mươi môn đồ đi ra từng nhóm hai người. Phao-lô làm việc cùng một nhóm với Ba-na-ba, Si-la và Ti-mô-thê. Si-la và Ba-na-ba làm việc chung với nhau. Khi có cơn phục hưng bắt đầu xảy ra ở các thành Sa-ma-ri và An-ti-ốt, các sứ đồ ở Giê-ru-sa-lem đã sai một nhóm công tác đến những thành nầy. Kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho Hội thánh địa phương cũng như trong những nổ lực dành cho công tác truyền giáo thì không bao giờ chỉ có một người quán xuyến cả. Các sứ đồ, tiên tri, nhà truyền giáo, giáo sư, mục sư và các tín đồ cùng làm việc chung với nhau trong các nhóm nhỏ. Khi chúng ta tiến hành công việc theo như Đức Chúa Trời đã hoạch định chúng ta sẽ được bảo vệ khỏi sự cám dỗ của Sa-tan. Nhóm truyền giáo là một lá thuẫn chống lại những tội lỗi, trong các cám dỗ thông thường mà một người đơn độc sẽ dễ mắc phải khi đi ra và thi hành chức vụ. SỰ KÊU GỌI THANH NIÊN Đức Chúa Trời luôn luôn quan tâm đến thế hệ trẻ. Đức Chúa Trời luôn luôn dùng những người trẻ tuổi. Có lẽ bởi vì họ không bị ảnh hưởng bởi những tri thức về truyền thống. Nếu có công việc nào được giao phải hoàn thành, họ làm xong trước và sau đó mới đặt câu hỏi. Xuyên suốt Kinh Thánh chúng ta thấy rằng, khi Đức Chúa Trời có công việc lớn lao để làm Ngài thường kêu gọi người trẻ tuổi. Những người trẻ tuổi thường tiên phong trong trọng trách truyền giáo cho muôn dân. Trong thế hệ nầy, Đức Chúa Trời đang tiếp nhận tấm lòng của những người trẻ tuổi. Họ chính là lực lượng mạnh mẽ để bành trướng nước Đức Chúa Trời. Trên khắp thế giới, một thế hệ những người trẻ tuổi mới tận hiến cuộc đời cho Chúa và cho công cuộc truyền giáo thế giới. Họ không chấp nhận tình trạng thờ ơ lãnh đạm trong bản thân họ cũng như trong người khác. Những người trẻ có thể hành động một cách quả cảm để thay đổi thế giới. TÓM TẮT : Hội thánh đang đối diện với những thách thức lớn hơn hết kể từ trước đến nay để hoàn thành sứ mạng trọng đại; mà trong thế kỷ nầy thì giờ cuối cùng đang đến gần. Đây là lúc xông vào chiến trường chứ không phải xông ra. Hội thánh có thể hoàn thành sứ mạng trọng đại. Hội thánh có thể chinh phục thắng các thành phố, các quốc gia mà Chúa sai chúng ta đến. Hội thánh được trang bị để chiến trận. Khi Gô-li-át đến địch lại cùng Đa-vít, Gô-li-át chửi rủa và hăm dọa Đa-vít. Ngày hôm nay Ma-quỉ cũng đang dùng chiến thuật tương tự như vậy. Nó cố gắng hù dọa chúng ta bằng cách khiến cho chúng ta nhìn vào sự thất bại, chỉ ra cho chúng ta thấy rằng chúng ta là những em bé thiếu khả năng và dĩ nhiên chúng ta sẽ thôi không đánh trận cho Đức Chúa Trời. Đa-vít đã tránh chiếc bẫy nầy. Ông đã không dùng sức mạnh của mình mà địch lại cùng Gô-li-át nhưng bằng sức mạnh của Đức Chúa Trời. PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN BÁ PHÚC-ÂM I. GIỚI THIỆU SỰ TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM : NỀN TẢNG CỦA HỘI THÁNH Công việc khởi đầu của sứ mạng trọng đại là truyền bá Phúc âm. Công cuộc truyền bá Phúc âm là để xây dựng Hội thánh, không thể tách ra khỏi Hội thánh nhưng hiển nhiên phối hợp chặc chẽ với Hội thánh. Hội thánh giống như sự chăm sóc của một người mẹ ở nơi có tiếng khóc của trẻ sơ sanh trong Đấng Christ. II. PHƯƠNG PHÁP CỨU RỖI A. NHỮNG PHẦN CHÍNH TRONG PHƯƠNG PHÁP CỨU RỖI LÀ GÌ ? Nghiên cứu RoRm 10:9 “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giê-xu ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu”. Sự cứu rỗi gồm hai phần chính: a. Giê-xu là Chúa: 1) Một người hoàn toàn để Chúa Giê-xu làm chủ trên mọi lãnh vực của mình thì anh ta đã thừa nhận Chúa Giê-xu là Chủ của mình. Do vậy, lòng khao khát và sự trông mong của anh là nhận được sự hướng dẫn trực tiếp từ nơi Chúa. 2) Chúa Giê-xu là người Chủ của cá nhân bạn. Ngài sẽ là người có quyền hành tuyệt đối chỉ dẫn công việc bạn phải làm. Điều nầy bao gồm: Sự thừa nhận Kinh Thánh là kim chỉ nam của bạn. Sự thừa nhận Hội thánh là cộng đồng của bạn. Sự thừa nhận mọi sứ điệp mà Chúa ban cho bạn. b. Giê-xu là Đấng Cứu Thế: 1) Một người thừa nhận sự chết của Chúa Giê-xu và sự phục sinh thì đó là con đường duy nhất để đến Thiên-đàng. 2) Một người thừa nhận mọi nan đề đã treo ở thập tự giá. Điều đó có nghĩa là anh ta phải thừa nhận Chúa Giê-xu đã làm xong tất cả cho anh ta. Trên phương diện của sự cứu rỗi, Chúa Giê-xu đã làm xong 100% công việc. Bạn không còn phải tìm kiếm gì nữa. Suy gẫm Mat Mt 16:24-25 “Đức Chúa Giê-xu bèn phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo Ta thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta. (25) Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ Ta mà mất sự sống thì sẽ được lại”. a. Hai phần chính trong phương pháp cứu rỗi dẫn đến kết quả là chết. Đó là, khi một người có lòng tin thật Giê-xu là Chúa, là Đấng Cứu Rỗi thì sẽ dẫn đến kết quả là chết bản ngã. Chết lòng tham muốn làm chủ cuộc đời của mình. Lúc đó Giê-xu là Chúa của anh ta, anh ta sẽ đặt quyền của mình xuống. Chết đi lòng tin cậy vào chính mình để được cứu. Thì lúc đó Giê-xu là Đấng Cứu Rỗi. Có lẽ, dưới đây là cách tốt nhất để diễn tả phương pháp cứu rỗi. Con người cũ của bạn chết và bạn sống vì Chúa. Bạn giơ cờ trắng đầu phục và nói: Con từ bỏ bản ngã cũ. Xin Chúa nắm giữ cuộc đời của con. Bạn giao phó cuộc đời của bạn cho Chúa. B. BẢY ĐIỂM CĂN BẢN. Điểm #1: Đức Chúa Trời yêu bạn(GiGa 3:16 ) Điểm #2: Bạn là một tội nhân (RoRm 3:23 ) Điểm #3: Bạn chết trong tội lỗi của mình (RoRm 6:23 ) Điểm #4: Đấng Christ chết vì bạn (RoRm 5:6-8 ) Điểm #5: Bạn được cứu qua đức tin trong Chúa Giê-xu (Cong Cv 16:30, 31) (RoRm 5:1 ) (Eph Ep 2:8 ). Điểm #6: Bạn được cứu và bạn nhận biết được điều nầy (IGi1Ga 5:10-13 ) (Đảm bảo sự cứu rỗi). Điểm #7: Là con cái của Chúa, bạn phải vâng lời Ngài (Cong Cv 5:29 ) (GiGa 14:21-24 ). C. BÀN TAY A. Học và thảo luận cách thức sử dụng biểu đồ bàn tay sau để bạn có thể giới thiệu Đấng Christ cho người khác. Điểm chú ý #1. Sự giới thiệu được thực hiện trong 5 phần. Ở ba phần đầu giải thích một “nan đề”. Hai phần cuối trình bày giải pháp của Đức Chúa Trời. Điểm chú ý #2. Có nhiều câu Kinh Thánh được liệt kê cho mỗi điểm. Học viên cần phải biết cách áp dụng hữu hiệu các câu Kinh Thánh. 1. RoRm 3:23 . Con người là tội nhân ICác vua 8:46;, Thi Tv 51:5, RoRm 5:12, RoRm 3:12 . 2. RoRm 6:23 . Đức Chúa Trời ghét tội lỗi và “trừng phạt tội lỗi”. ChCn 6:16, EsIs 59:2, XuXh 32:34, Exe Ed 18:4 . 3. IIPhi 2Pr 3:9 . Đức Chúa Trời yêu loài người và không muốn trừng phạt loài người. Tit Tt 3:4, IITe 2Tx 2:16 . 4. RoRm 5:8, IICo 2Cr 5:21, GiGa 3:16 . Chúa Giê-xu chết vì chúng ta. Ngài gánh chịu thay chúng ta. HeDt 2:9, IPhi 1Pr 1:18-21, IICo 2Cr 5:18, IPhi 1Pr 3:18, HeDt 9:26-28 . 5. Eph Ep 2:8 , 9;, RoRm 109, 13. Con người không thể tìm kiếm được sự cứu rỗi, con người phải nhận điều đó.Mac Mc 1:15, Tit Tt 3:5, RoRm 4:2-4, RoRm 11:6, EsIs 64:6 . D. CÂU CHUYỆN. Trong nhiều nền văn hóa, kể chuyện là một hình thức truyền thông tư tưởng hữu hiệu nhất. A. Đức Chúa Trời là Đấng Thánh. Ngài sống trên một ngọn núi gọi là thánh. B. Loài người là tội nhân. Loài người sống trên ngọn núi gọi là tội lỗi. C. Hai ngọn núi bị ngăn cách bởi một thung lũng rộng lớn. D. Đức Chúa Trời sai Con Ngài lấp đầy thung lũng bằng tình yêu của Ngài. Tình yêu nầy đụng chạm đến Núi Thánh và Núi Tội lỗi cùng một lúc. E. Tình yêu nầy lớn lao đến nỗi mãi mãi ở đó như một chiếc cầu nối giữa hai ngọn núi. Chiếc cầu đó bắc qua thung lũng ngăn cách. Sự chết Con Một của Đức Chúa đã khiến loài người có thể có sự thông công với Đức Chúa Trời. Chiếc cầu nầy được gọi là Giê-xu Christ, một con đường duy nhất để đi từ núi nầy sang núi kia. III. PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM A. LỜI GIỚI THIỆU. 1. ĐÂY LÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC. a.Chúng ta phải học cách làm chứng. Đọc Mat Mt 4:19 “Ngài phán cùng hai người rằng: Các ngươi hãy theo Ta. Ta sẽ cho các ngươi nên tay đánh lưới người”. Chúng ta được đào tạo để trở thành nhân chứng cho Chúa Giê-xu. Chúng ta phải được dạy dỗ, huấn luyện, thúc đẩy bởi Đức Thánh Linh. 1. Đức Thánh Linh là Đấng ban quyền phép cho chúng ta làm chứng. Hãy xem sự tuôn chảy của Đức Thánh Linh trong Cong Cv 1:8 Các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và các ngươi sẽ là những chứng nhân. 2. Chúng ta thành lập một nhóm với sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh vì cớ Đấng Christ. Xem Cong Cv 5:32 Còn chúng ta đây; là kẻ làm chứng mọi việc đó, cũng như Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho kẻ vâng lời Ngài vậy. ICo1Cr 6:19-20 . “Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? (20.) Vì chưng anh em đã chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời.”. Đức Thánh Linh ở trong anh em. 3. Chúng ta phải tin cậy rằng Đức Thánh Linh sẽ thực hiện 3 điều sau: Ngài phải mang sự hiểu biết đến tấm lòng của người vô tín. Xem IICo 2Cr 4:3-4 . Nếu Tin Lành của chúng tôi bị che khuất, cho những kẻ hư mất. 4 cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lòa của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Ngài khuấy động tấm lòng của kẻ vô tín. Xem Cong Cv 2:37 . Chúng nghe bấy nhiêu lời, trong lòng cảm động, bèn hỏi Phi-e-rơ và các sứ đồ khác rằng: Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi? Ngài tác động đến kẻ vô tín. Xem LuLc 15:14-19 : “Khi đã xài hết của rồi, trong xứ xảy có cơn đói lớn, nó mới bị nghèo thiếu, bèn đi làm mướn cho một người bổn xứ, thì họ sai ra đồng chăn heo. Nó muốn lấy vỏ đậu của heo mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho. Vậy nó mới tỉnh ngộ mà rằng: Tai nhà cha ta, biết bao người làm mướn được bánh ăn dư dật mà ta đây phải chết đói. Ta sẽ đứng dậy, trở về cùng cha, mà rằng: Thưa cha, tôi đã đặng tôi với trời và với cha, không đáng gọi là con của cha nữa; xin cha đãi tôi như đứa làm mướn của cha vậy.”. b. Chúng ta phải học tầm quan trọng của việc làm chứng. RoRm 10:13-17 . “Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. (14) nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng thì nghe làm sao? Nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? Như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao. Nhưng chẳng phải mọi người đều nghe theo Tin Lành đâu, vì Ê-sai có nói rằng: Lạy Chúa, ai tin lời chúng tôi rao giảng. Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe là khi lời của Đấng Christ được rao giảng. 2. LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐẾN GẦN MỌI NGƯỜI. Phương pháp đến gần trực tiếp có thể được dùng. (1.) Với các thành viên trong gia đình. GiGa 1:40-42 . Trong hai người đã nghe điều Giăng nói và đi theo Đức Chúa Giê-xu đó, một là Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ. Trước hết gặp người anh mình là Si-môn, thì nói rằng: Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Christ). Người bèn dẫn Si-môn đến cùng Đức Chúa Giê-xu. Ngài ngó thấy Si-môn, liền phán rằng: Ngươi là Si-môn, con của Giô-na; ngươi sẽ được gọi là Sê-pha (nghĩa là Phi-e-rơ). (2.) Với bạn hữu. GiGa 1:45-46 . Phi-líp gặp Na-tha-na-ên, nói với người rằng: Chúng ta đã gặp Đấng mà Môi-se có chép trong luật pháp, và các đấng tiên tri cũng có nói đến; ấy là Đức Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét, con của Giô-sép. Na-tha-na-ên nói rằng: Há có vật gì tốt ra từ Na-xa-rét sao. Phi-líp nói: Hãy đến xem. (3.) Với những người quan tâm đến công việc của Đức Chúa Trời. GiGa 3:1-21 . Trong vòng người Pha-ri-si, có người tên là Ni-cô-đem, là một người trong những kẻ cai trị dân Giu-đa. Ban đêm, người nầy đến cùng Đức Chúa Giê-xu mà nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được. Đức Chúa Giê-xu cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nuớc Đức Chúa Trời. Ni-cô-đem thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: Quả thật, quả thật, Ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời. (4.) Với những người tìm kiếm Chúa. Cong Cv 16:19-34 (25) Lối nửa đêm, Phao-lô và Si-la đương cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe. Thình lình có cơn động đất rất lớn, đến nỗi nền ngục rúng động, cùng một lúc các cửa mở ra, xiềng tù phạm thảy đều tháo cả. Người đề lao giựt mình thức dậy, thấy các cửa ngục đều mở, tưởng tù đã trốn hết, bèn rút gươm toan giết mình. Nhưng Phao-lô kêu người lớn tiếng rằng: Chớ làm hại mình, chúng ta còn cả đây. Người đề lao bèn kêu lấy đèn, chạy lại, run sợ lắm, gieo mình nơi chân Phao-lô và Si-la. Đoạn đưa hai người ra ngoài, mà hỏi rằng: “Các Chúa ơi, tôi phải làm chi cho được cứu rỗi? Hai người trả lời rằng: Hãy tin Đức Chúa Giê-xu, thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi. Hai người truyền đạo Đức Chúa Trời cho người, và cho những kẻ ở nhà người nữa. Trong ban đêm, chính giờ đó, người đề lao đem hai người ra rửa các thương tích cho; rồi tức thì người và mọi kẻ thuộc về mình đều chịu phép báp-têm. Đoạn người đề lao mời hai người lên nhà mình, đặt bàn, và người với cả nhà mình đều mừng rỡ vì đã tin Đức Chúa Trời. 3. Phương cách đến gần trực tiếp. (1.) Với khách lạ. GiGa 4:7-26 Một người đàn bà Sa-ma-ri đến múc nước. Đức Chúa Giê-xu phán rằng: Hãy cho Ta uống. (2.) Với những người mộ đạo Cong Cv 8:26-30 . Bấy giờ, có một thiên sứ của Chúa phán cùng Phi-líp. 4. Chúng ta phải có óc sáng tạo khi chúng ta đến gần với mọi người bằng Phúc âm. Hãy để Đức Thánh Linh dắt dẫn. Nếu chúng ta tìm kiếm một cánh cửa mở ra thì Chúa sẽ ban cho. C. SỨ ĐIỆP. 1. Mỗi khi chúng ta giao tiếp, chúng ta nên tìm cách truyền đạt một cách êm dịu trong lời làm chứng của chúng ta. Lời làm chứng của chúng ta phải ngắn gọn từ 3 đến 5 phút. Phần làm chứng nên bao gồm những thông tin sau: (1.) Trước khi tin Chúa cuộc đời tôi ra sao? (2.) Tôi đã được cứu như thế nào. (3.) Bây giờ cuộc sống của tôi ra sao. 2. Khi bạn làm chứng để giới thiệu về Phúc âm, bạn có thể dùng một trong những câu hỏi sau đây để trao đổi: (1.) Có bao giờ bạn trãi qua những điều như vậy không? Bạn có muốn tôi nói cho bạn biết làm thể nào để chính bạn cũng nhận được những điều như vậy không? (2.) Bạn có thể cho phép tôi chia xẻ với bạn những điều gì mà đã xảy ra cho cuộc đời tôi thì cũng có thể đến với cuộc đời bạn thể ấy. Nếu người ta có ý định muốn nghe, thì bạn bắt đầu giới thiệu về Đấng Christ. Bạn có thể áp dụng cách trình bày mà chúng ta đã học qua. Khi giới thiệu xong, bạn mời họ giao phó cuộc đời cho Đấng Christ. (1) Bạn có muốn tiếp nhận Đấng Christ làm Chúa, làm Đấng cứu rỗi cho cuộc đời bạn không? 5. Nếu họ muốn tiếp nhận Đấng Christ thì bạn hãy nói một cách ngắn gọn về những điều kiện cần thiết để ăn năn và tin nhận. Hãy giải thích cho họ biết Chúa Giê-xu đang hiện diện ở đây ngay bây giờ và Ngài muốn nghe lời xưng nhận của chính họ, gồm cả ăn năn lẫn đức tin. Hãy giúp họ cầu nguyện nếu họ muốn bạn giúp họ. D. HÃY THEO NHỮNG BƯỚC SAU. 1. Tân tín hữu phải nhận được sự hướng dẫn. a. Tặng họ một cuốn Kinh Thánh. b. Cùng suy gẫm với họ một đoạn Kinh Thánh ngắn về đề tài bảo đảm của sự cứu rỗi. c. Nhấn mạnh tầm quan trọng của sự vâng phục Đấng Christ. d. Mời họ đi nhà thờ cùng với bạn. Cung cấp thông tin cho họ và các buổi nhóm lại và khuyến khích họ tham gia càng nhiều càng tốt. e. Giới thiệu họ với các tín hữu khác. Cố gắng mời họ tham gia vào nhóm tư gia. f. Khuyến khích họ chia xẻ niềm tin mới cho người khác. Hãy đi với họ làm chứng cho gia quyến và bạn bè họ. g. Bạn có thể dùng 30 điểm trong chương trình môn đệ hóa của khóa học “Thưc hành môn đệ hóa”. Hãy nhớ rằng chúng ta được gọi để môn đệ hóa người khác chứ không phải chỉ để thu gặt 1 quyết định. Diễn trình truyền bá phải chưa phải chấm dứt khi một người quyết định cầu nguyện tin nhận Chúa. Kế hoạch truyền giáo phải dẫn người ta đến quá trình tái môn đệ hóa. VI. CÁCH TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI VÀ NHỮNG SỰ BÀO CHỮA A. SỰ GIỚI THIỆU. 1. Một khi chúng ta có những lợi khí căn bản mà chúng ta cần để truyền bá Phúc âm, chúng ta có thể suy gẫm cách thức chuẩn bị tốt hơn để chúng ta có thể được khôn khéo (khôn ngoan) như lời của Sa-lô-môn. ChCn 11:30 . Kết quả của người công bình giống như cây sự sống. Người khôn ngoan có tài được linh hồn người ta. a. Chúng ta có thể nói với một người nào đó thức ăn của Cơ-đốc nhân là gì, và nơi để tìm thức ăn đó. b. Bây giờ chúng ta hãy thực hành cách trả lời câu hỏi về thức ăn. Đối với một mức độ nào đó, thì đây là một trong những sự chuẩn bị căn bản để truyền bá Phúc âm. Sự dạy dỗ được chép trong IPhi 1Pr 3:15 hướng dẫn chúng ta sẵn sàng bảo vệ đức tin của chúng ta. 2. Luận giải những câu hỏi. Hãy học những câu Kinh Thánh sau để bạn có thể trả lời được những câu hỏi về những đề tài nầy. a. Tội lỗi là gì? IGi1Ga 3:10, IGi1Ga 5:17, GiGa 16:8, 9, RoRm 14:23, GiGa 4:17 . b. Tại sao Đức Chúa Trời cho phép tội lỗi trong thế gian nầy? PhuDnl 30:19, RoRm 6:14, GiGa 14:6 c. Tôi có phải quyết định một cách công khai không? Mat Mt 10:32, 33, RoRm 10:10, Mac Mc 8:38, LuLc 12:8, GiGa 12:42-43 . d. Những sự mâu thuẫn và trái ngược trong Kinh Thánh là gì? EsIs 55:8, 9, DaDn 12:10, IIPhi 2Pr 3:16-18 . e. Làm thế nào tôi có thể nhận biết rằng có Đức Chúa Trời? RoRm 1:19, Thi Tv 8:3, Thi Tv 33:6 . f. Tại sao tôi cần huyết của Chúa Giê-xu? LeLv 17:1, Mat Mt 26:28, HeDt 9:22, RoRm 5:9, 10, IPhi 1Pr 1:18 , 19. 3. Luận giải những sự bào chữa. a. Tôi không muốn quyết định ngay bây giờ. Gios Gs 24:15, IVua 1V 18:21, ChCn 27:1, EsIs 55:6, Mat Mt 24:44, LuLc 12:19, 20, Cong Cv 22:16, IICo 2Cr 6:2 . b. Quá muộn để cho tôi thay đổi. Exe Ed 33:19, Mat Mt 20:16, GiGa 6:37, RoRm 10:13 . c. Tôi cố gắng để trở thành một Cơ-đốc nhân, nhưng tôi không thể làm được điều đó. DaDn 3:17, RoRm 4:21, IITi 2Tm 1:12, HeDt 7:25. d. Có quá nhiều điều huyền bí. PhuDnl 29:29, GiGa 13:7, Cong Cv 1:7, ICo1Cr 13:12 . e. Tôi không cần Đấng cứu rỗi. GiGa 3:18 , 36;, RoRm 3:23, RoRm 6:23, HeDt 2:3 . f. Đức Chúa Trời là tình yêu thương nên không có gì đáng sợ cho tôi (mối đe dọa). Mat Mt 22:13, LuLc 13:3, IIPhi 2Pr 2:4 . g. Có quá nhiều kẻ giả hình trong Hội thánh. Giop G 8:13, Mat Mt 7:1, RoRm 14:12, IPhi 1Pr 4:8 . h. Giá quá đắt. Giá phải trả quá cao. Thi Tv 116:12, Mac Mc 8:36, LuLc 18:29, 30, IPhi 1Pr 2:24 . i. Tôi không muốn mất những người bạn của tôi. XuXh 23:2, ChCn 13:20, ICo1Cr 15:33, IICo 2Cr 6:14 . j. Tôi sẽ bị bắt bớ. Mat Mt 5:11 , 12;, IITi 2Tm 3:12, KhKh 2:10 . k. Tôi không muốn từ bỏ những thói quen của tôi (tội lỗi). LuLc 13:3, GaGl 6:8, KhKh 21:8, GiGa 8:36, Phi Pl 4:13, HeDt 7:25 . l. Những tội lỗi của tôi thì không đến nỗi lớn lắm. Chúng chỉ là những lỗi lầm nhỏ. EsIs 48:22, EsIs 59:2, GiGa 8:34, RoRm 6:23, ICo1Cr 6:9 . V. SỰ TRUYỀN BÁ PHÚC ÂM QUA LỜI TIÊN TRI ỨNG NGHIỆM A. ĐẤNG MÊ-SI Đà ĐẾN. 1. Có lẽ một trong những cách tốt nhất của Kinh Thánh để truyền bá Phúc âm là qua sự công bố của lời tiên tri ứng nghiệm. 2. Hiển nhiên cho thấy truyền bá Phúc âm cho người Do thái phải nhắm vào lợi khí nầy. a. Tuy nhiên điều đó cũng là một lợi khí hữu hiệu cho người khác. (1) Nó cho ta thấy sự hợp nhất của Kinh Thánh và do vậy tăng thêm sự tin cậy Kinh Thánh cũng như sứ điệp trong Kinh Thánh. (2) Nó cho ta thấy quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Thật là kinh ngạc để nhận thấy rằng các lời tiên tri rõ ràng đã được ứng nghiệm một cách đặc biệt trong Chúa Giê-xu Christ hằng trăm năm trước khi Ngài sinh. (a) Tính chất xác thực của các lời tiên tri thật là kinh ngạc. Chúng rất rõ ràng và chính xác. (b) Số lượng của các lời tiên tri thật là kinh ngạc, không chỉ có 4 hoặc 5 lời. Mà có ít nhất là 40 hoặc 50 lời. (3) Mục tiêu quan trọng nhất cần phải vào đó là chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Nhắm vào Đấng Mê-si-a. Cho thấy lời hứa được ứng nghiệm như thế nào, và do vậy sự ứng nghiệm dành cho mỗi một cá nhân ngày hôm nay. Mỗi một cá nhân đều phải cần Đấng Mê-si-a. Sau đây là một số lời tiên tri quan trọng được ứng nghiệm. Hãy học các câu Kinh Thánh và thảo luận phương pháp dùng chúng trong công cuộc truyền bá Phúc âm. Ôn lạ bài học cũ. Thầy giáo là người vô tín, còn học viên là người truyền bá Phúc âm. B. CÁC CÂU KINH THÁNH ĐƯỢC DÙNG CHO THẤY ĐẤNG MÊ-SI-A Đà ĐẾN. 1. Lời tiên tri: Đấng Mê-si-a trong bộ tộc Giu-đa a. SaSt 49:10 b. LuLc 3:33 2. Lời tiên tri: Đấng Mê-si-a sẽ là con cháu của vua Đa-vít a. EsIs 9:6, 7 b. LuLc 1:32, 33 3. Lời tiên tri: Đấng Mê-si-a được sanh từ người nữ đồng trinh a. EsIs 7:14 b. LuLc 1:26-30 4. Lời tiên tri: Đấng Mê-si-a sẽ sanh tại Bết-lê-hem a. MiMk 5:1 b. Mat Mt 2:1-6 5. Lời tiên tri: Đấng Mê-si-a sẽ chết vì tội lỗi chúng ta a. EsIs 53:8 b. LuLc 23:33 6. Lời tiên tri: Đấng Mê-si-a sẽ chết bằng cách bị đóng đinh a. Thi Tv 22:14-17 b. LuLc 23:33 7. Lời tiên tri: Đấng Mê-si-a sẽ sống lại a. Thi Tv 16:10 b. ICo1Cr 15:4 8. Lời tiên tri: Nẻo đường sẽ được dọn sẵn trước Ngài a. EsIs 40:3-5, MaMl 4:5, 6 b. LuLc 3:3-6 7:24, 27;, Mat Mt 11:13, 14 9. Lời tiên tri: Đấng Mê-si-a sẽ vào thành Giê-ru-sa-lem một cách vinh quang a. XaDr 9:9 b. Mac Mc 11:7, 9, 11 10. Lời tiên tri: Đấng Mê-si-a sẽ bị người bạn thân phản vì 30 miếng bạc a. Thi Tv 41:9, XaDr 11:12 b. LuLc 22:47, 48, Mat Mt 26:15 11. Lời tiên tri: quân lính biốc thăm áo của Ngài a. Thi Tv 22:17, 18 Mat Mt 27:35, 36 Lời tiên tri: Đấng Mê-si sẽ bị đâm nhưng không một cái xương nào bị gãy cả. XaDr 12:10, Thi Tv 34:24 GiGa 19:32-36 20:27; . MƯỜI CÁCH CHẮC CHẮN ĐỂ QUYẾT ĐỊNH # 1. Nhấn mạnh việc bỏ lơ không màng về hình phạt trong tương lai. Giảng về tình yêu của Đức Chúa Trơ và lời hứa được sự bình an, vui mừng, yêu thương, và làm thỏa mãn Đánh vào cảm giác hơn là ý chí và lương tâm (nói về sự ‘cô đơn’ của họ. Mổ xẻ sự nghiêm trọng của tội lỗi và ‘tất cả dều phạm tội’. Bỏ qua sự sừ dụng Luật pháp của Đức Chúa Trời để đưa đến sự nhận thấy tội lỗi . Trong lúc bạn kêu gọi, thực hiện, ‘trong lúc mọi con mắt đều nhắm (trừ một con của bạn ) __ không ai nhìn bạn đâu ;, chúng tôi không muốn ôm choàng lấy bạn __ chỉ quờ quạng cái tay của bạn. A! ha! Tôi đã thấy cái tay ấy.’ Hãy có những cố vấn một cách lịch sự kéo những cơ bắp của cái tay hướng về phía toà giảng. Hãy hát suốt Thi Tv 119:1-176 trong lúc bạn kêu gọi lần chót. Hãy dùng đèn pha. Hãy xây cất nhà thờ của bạn có độ giốc thoai thoải về phía trước. SỰ THÔNG HIỂU VÀ VĂN HÓA NHỮNG HỆ TƯ TƯỞNG KHÁC. I. LỜI GIỚI THIỆU Trong tỉ lệ 1/3 người trên thế giới có một “cách thức suy nghĩ thuộc về Cơ-đốc”. Rủi thay, thống kê nầy không có nghĩa là 1/3 người ta thực sự là Cơ-đốc nhân. Chứng nhân Giê-hô-va và Mọt- mông (Mormonism ) ý niệm những gì có thể được coi là một “đường hướng suy nghĩ thuộc về Cơ-đốc”. Tuy nhiên, nó không nằm trong Cơ-đốc giáo. Họ là những sự bái lạy, cúng tế. Bản chất trường kỳ của loài người đôi khi cũng xuất hiện tư duy theo một “phương pháp thuộc về Cơ-đốc”. Tuy nhiên, trong hình thức thuần khiết nhất của nó đã trở nên một thế giới tôn giáo mà lại không thuộc Cơ-đốc. Công giáo chắc chắn là dựa trên một phương pháp thuộc về Cơ-đốc trong lối suy nghĩ. Nó được coi như là thuộc Cơ-đốc giáo. Hơn nữa, nó có khuynh hướng cốt lõi lớn của tôn giáo. Hậu quả bi thương là nhiều người Công giáo không phải là Cơ-đốc nhân. Dĩ nhiên, chủ nghĩa Công giáo thì “có tính cách Cơ-đốc“ hơn là thuyết Mọt-mông. Tôi đã từng gặp những người Công giáo là những Cơ-đốc nhân. Tôi chưa bao giờ gặp một người đạo Mọt-mông là Cơ-đốc nhân. Thuyết Mọt-mông là một sự tế tự. Vì vậy, phải có sự phân biệt giữa hai bên. Những Cơ-đốc nhân có thể tìm thấy trong vòng Cơ-đốc giáo (mặc dù đôi khi nó là ngoại lệ và không phải là nguyên tắc). Cơ-đốc nhân không tìm thấytrong vòng Chứng-nhân Giê-hô-va và phái Mọt-mông (dẫu rằng: cả hai nhóm thường rêu rao họ là Cơ-đốc nhân và có thể hiện một tư duy theo cách của Cơ-đốc). Như là một tôn giáo, thuyết nhân văn cổ xưa không có những Cơ-đốc nhân trong vòng họ. Tuy nhiên, nhiều Cơ-đốc nhân bị ảnh hưởng bởi những ý kiến của thuyết nhân văn cổ xưa. Những Cơ-đốc nhân nầy thường bị gọi là những Cơ-đốc nhân không đáng kể (những Cơ-đốc nhân yếu đuối). Những đoạn văn trên chỉ có mục đích là giới thiệu. Nó không phải là mục tiêu của khóa học nầy để phân loại người ta vào những nhóm và đoán xét họ. Mục đích của khóa nầy là để thông hiểu và để truyền bá Phúc-âm cho những người của các nhóm nầy. Nếu một người sẵn là một Cơ-đốc nhân chúng ta dẫn dắt người ấy gần Chúa hơn. Nếu là một người chưa lả Cơ-đốc nhân chúng ta phải truyền giảng cho người đó. Cả hai điều nầy chỉ có thể thực hiện được nếu trước tiên chúng ta hiểu người đó và tư tưởng của người ấy. CÔNG GIÁO A. LỜI GIỚI THIỆU 1. Những Cơ-đốc nhân truyền giáo có hai lỗi lầm lớn về quan niệm luật xa gần của thuyết Công giáo. Một cực đoan, những ai nói rằng: Công giáo là một tà giáo. Họ nói rằng: một tín dồ Công giáo không thể được cứu. Môt cực đoan khác, có những ai đó nói đơn giản, “Công giáo suy nghĩ trong một cách và chúng tôi suy nghĩ trong cách khác.” Cả hai cực đoan ấy đều là cực kỳ sai trật. Họ quá đơn sơ. Đầu tiên phải nhớ rằng: Công giáo dựa trên trọng tâm giáo lý Cơ-đốc. Vì vậy, một người Công giáo có thể được cứu. Thứ nhì, chúng ta không nên đá động đến giáo lý tà ngụy vì cớ “sự hiệp một”.Thật ra, đó chỉ là sự hiệp nhất giả tạo. Giáo lý giả ngụy không được thừa nhận bởi vì nó gây cho nhiều (nếu không hầu hết) người Công giáo không vào được Vương-quốc của Đức Chúa Trời. B. CHO NÊN, 2 ĐIỂM PHẢI NHẤN MẠNH Chấp nhận sự kiện rằng: một người Công giáo có thể là Cơ-đốc nhân. Nhưng làm thế nào bạn gọi người Công giáo là một kẻ tin khi người Công giáo không hiểu giáo lý của sự cứu rỗi? Trả lời - - đồng cách ấy “mấy kẻ về đảng Pha-ri-si đã tin” (Cong Cv 15:5 ) có thể gọi là những kẻ tin dù chưa hiểu giáo lý của sự cứu rỗi. Trong Cong Cv 15:1 chúng ta đọc về sự bắt đầu lộn xộn để dẫn đến Giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem. Một số nói, “Trừ phi ngươi được cắt bì theo luật Môi-se, nếu không ngươi không được cứu.” Trong câu 5, những ai được gọi là những kẻ tin (trong sách Công-vụ một tín hữu luôn luôn là một (Cờ-rê-tiên) Cơ-đốc nhân) hợp với sự chưa hiểu rõ giáo lý sự cứu rỗi. Song, họ vẫn được cứu. Chúng ta phải nhớ rằng: sự cứu rỗi là thuộc tấm lòng, không phải tâm trí. Đức Chúa Trời không dựa trên giáo lý để cứu chúng ta. Thế thì, người nào đó được cứu. Người ấy biết Chúa Giê-xu Christ như Đấng Cứu thế của riêng mình và Chúa gần gũi, thân thiện, cho dù chưa thông suốt giáo lý. Nhìn vào tấm lòng của một người. Một Cơ-đốc nhân sẽ rõ nếu người khác là một Cơ-đốc nhân và không biết tên nhà thờ của mình. Chúa Giê-xu có ở trong tấm lòng người ấy không? Người ấy có yêu Chúa Giê-xu không? Người ấy đã dâng mình cho Chúa Giê-xu chưa? 2. Chuẩn bị không thừa nhận giáo lý sai trật. Mục đích là truyền giáo những người Công giáo chưa được cứu và dạy giáo lý chân thật để cứu người Công giáo. Để thành công việc này phải được thực hiện trên 2 mức độ: a. Mức độ #1 giáo lý ngụy là “Cái gì?” : (1) Những giáo lý này nói gì? Điều gì mà Công giáo dạy và tin mà không thuộc Kinh thánh? b. Mức độ #2 giáo lý sai trật “Tại sao? ” : (1) Tại sao giáo lý sai? Tại sao họ có giáo lý? Tại sao từng cá nhân Công giáo tin tưởng vào giáo lý? c. Cần thiết phải hiểu mức độ #1 để nói với một người Công giáo. Nhưng cũng cần hiểu mức độ #2 để truyền bá Phúc-âm cho một người Công giáo. Nếu chúng ta chỉ hiểu mức độ #2 bấy giờ chúng ta có thể tranh biện với một người Công giáo. Nhưng nếu chúng ta cũng hiểu mức độ #2 lúc ấy bạn có thể đụng vào tấm lòng người ấy và thay thế ngụy giáo bằng giáo lý hoàn toàn dựa trên Kinh thánh. + + Hãy luôn luôn nhớ : tín hữu Công giáo tin vào giáo lý sai trật bởi vì người ấy cố gắng khỏa lấp chỗ trống vắng trong sự tương giao với Đức Chúa Trời. Điều nầy hậu quả chỉ là không có tác dụng gì cả. Chỉ có giáo lý tuyệt đối đặt nền tảng trên Kinh thánh mới có thể thỏa mãn người ấy. C. 12 ĐIỂM HOẶC LÃNH VỰC CỦA GIÁO LÝ TÀ NGỤY TRONG CÔNG GIÁO 1. Thờ lạy Ma-ri. Cái gì? (1). Điểm tệ hại nhất nó là giáo lý thuộc về bái lạy, tôn sùng bà Ma-ri như Đức Chúa Trời. Bà được thờ phượng. Điểm nổi bật nhất là một loạt tín lý mà không có nền tảng Kinh thánh, hầu chúng ta xoáy trọng tâm để giảng cho người Công giáo. Sự sùng bái bà Ma-ri gây ra sự méo mó, xuyên tạc về sự minh chứng về bà Ma-ri. a. Quan niệm sự tinh khiết - - vào năm 1845 Giáo hoàng Pius IX đề xướng. Quan niệm nói rằng: bà Ma-ri sanh ra không có tội tổ tông. Cho là nó đúng, kéo theo một trong những điều sau đây cũng đúng: Bà Ma-ri không sanh ra theo tình thường (điều đó nói lên rằng: bà không thuộc loài người). Có một dây chuyền về sanh đẻ vô nhiễm. Điều nầy kéo lùi về thời A-đam là vô tội. Điều nầy phủ nhận sự sa ngã của loài người. Thần học Công giáo không phủ nhận sự sa ngã của loài người. Vì vậy, ý niệm phổ thông về Sự Hoài thai Trong trắng nghĩa là bà Ma-ri là người đặc biệt. Sự thăng thiên - - năm 1950 bởi giáo hoàng Pius XII đề xướng. Bà Ma-ri được đưa lên bằng xương bằng thịt (được thuyên chuyển) lên trời. Điều nầy không có trong Kinh thánh. Bài kinh kính mừng - - lần tràng hạt và những bài kinh khác dâng lên bà Ma-ri hầu cho bà sẽ giúp. Tất cả những giáo lý nầy đưa đến một định mức về sự thờ lạy bà Ma-ri. b. Tại sao? 1. Một người Công giáo La-mã khó đến với Chúa Jê-sus. Sự tương giao cá thể mà người ấy thực hiện không được dạy trong nhà thờ. Đức Chúa Trời thấy dường như rất xa vời. Có sự sợ hãi Đức Chúa Trời một cách vô cớ gây cho người ấy không thể đến gần Đức Chúa Trời. Điều nầy để lại khoảng trống được khỏa lấp bằng những điều gì thể hiện được bằng hình ảnh - - hình ảnh người mé! Bà rất dễ đến gần. c. Phương pháp. 1. Chúa Jê-sus! Sự cần thiết để bày tỏ đích thân với Chúa Jê-sus. Truyền giáo phải nhấn mạnh trường hợp có sự thông công thật sự và thân mật với Đức Chúa Trời qua Chúa Jê-sus. 2. Dùng những trích dẫn Kinh thánh sau đây: GiGa 15:14, Mat Mt 11:28, LuLc 10:38-42, ITi1Tm 2:5 . Để chứng minh Bà Ma-ri cũng là loài người như chúng ta dùng LuLc 2:22-24 và LeLv 12:8 tỏ ra rằng Bà phải dâng của lễ như những người khác nữa. Bà cần sự tha thứ. Bà cần có một Cứu Chúa giống all nhân loại (LuLc 1:47 ). Chính Chúa Jê-sus cũng không đồng ý tôn tặng Bà Ma-ri (trình bày trong LuLc 11:27-28, Mac Mc 3:31-35 ). d. Điều gì được giữ lại? 1) Chúng ta có thể quí trọng Bà Ma-ri nhu7 chúng ta đối với thánh Phao-lô (một thí dụ để làm gương). Chúng ta có thể bắt chướcdt trong trắng của Bà.(LuLc 1:38, 45) và sự rất khiêm tốn của Bà (LuLc 1:46-48 ). 2. Làm phép Báp-tem cho trẻ em. a. Cái gì ? Người ta rảy nước lên trẻ em.Việc nầy rửa sạch tội tổ tông và chúng nó Đấng Christ cứu. b. Tại sao? (1). Nhu cầu về kinh nghiệm sự cứu rỗi không thực sự được dạy trong Hội thánh. Tin Lành không phải giảng theo một phương cách hầu thách thức để người đó phải ăn năn và dâng cuộc đời cho Chúa Giê-xu. (2). Người nào đó quyết định thay cho bạn khi bạn là một đa bé. Đối với Kinh Thánh, điều nầy không the63 được. c. phương pháp. (1). Chúa Giê-xu! Cần thiết nhấn mạnh về nhu cầu ăn năn. Kế đến Đức Thánh Linh bất phục người nhận biết mình là một tội nhân. Người ta phải hiểu rằng để tiếp nha65n một Cứu Chúa một cách riêng tư cho chính mình, người ấy phải tự quyết định. Chúa Giê-xu dạy rằng chúng ta phải quyết định một cách tự do sẽ dâng chính đời sống chúng ta cho Ngài. (2). Trích những câu Kinh Thánh sau đây: RoRm 6:3-10, Cong Cv 8:36-38, Cong Cv 2:38, Mat Mt 16:24-25 . d. Điều có thể giữ lại? (1). Chúng ta có thể dâng con trẻ lên cho Chúa và bày tỏ sự ủy thác của chúng ta để dạy chúng về Chúa Giê-xu và với nguyện vọng chúng trưởng thành trong Chúa. 3. Nơi luyện tội. a. Cái gì? (1) Nó là một nơi và đặt để hầu chịu sự hình phạt. Linh hồn no1 chịu đựng hầu cho được rửa sạch trước khi lên thiên đàng. Những bài kinh cầu các thánh và tiền bạc để có thể hoán chuyển. Điều nầy xảy ra trong lễ Mi-sa (Mass) (đọc những bài kinh và đưa tiền). b. Tại sao? (1). Có một sự thiếu hiểu biết và tiếp nhận sự hoàn tất, hiệu lực, và công việc trọn vẹn của thập tự giá. c. Phương pháp. (1). Chúa Giê-xu! Cần thiết phải nhấn mạnh công việc của tha65p tự giá vá quyền năng thanh tẩy của huyết báu Chúa Giê-xu. Trọng tâm nhấn mạnh sự kiện về sự thay đổi thứ hoàn toàn về tội lỗi trong Danh Chúa Giê-xu. (2). Những trích đoạn Kinh Thánh trưng dẫn: GiGa 19:30 (“Mọi việc đã được trọn”= totalestoy = món nợ được trả đầy đủ). cũng trích IGi1Ga 1:9 . d. Nên giữ lại gì? (1). Ý kiến cho rằng Cơ-đốc nhân chịu đựng là rất phù hợp trong Kinh Thánh. Chúng ta phải chịu đựng về Đấng Christ vì trong cuộc đời chúng ta vì Đấng Christ sống torng chúng ta (không phải vì chúng ta được cứu để chịu đựng). Tra Phi Pl 3:10, GiGa 15:20, IITi 2Tm 3:12, CoCl 1:24 . 4. Hành xác (chịu khổ hạnh) a. Cái gì? (1). Xưng tội với vị linh mục. Thầy tế lễ chỉ người ấy hành động một cái gì đó để làm thay vì hướng dẫn người đó lìa xa tội. Sự hoàn tất của hành động bảo đảm sự thay đổi tội. b. Tại sao? (1). Thiếu khả năng để tin cậy hoàn toàn nơi Chúa Giê-xu hầu cho Đấng Christ hầu cho Đấng Christ thay được thứ tội. Có một sự ham muốn để đánh đổi sự thay đổi thứ. c. Phương pháp. (1).Chúa Giê-xu! Cần thiết nhấn mạnh vào sự xưng tội và ăn năn từ bỏ tội lỗi để được tha thứ , thay vì nói về “ngục luyện tội”. Giải thích giáo lý tha tội bởi huyết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá. (2) Hãy sử dụng IGi1Ga 2:1, 2, GiGa 6:28, 29, GaGl 2:21 . d. Chúng ta có thể giữ điều gì? (1) Những Cơ-đốc nhân cần xưng tội với người khác (Gia Gc 5:16 ). 5. Lễ Mi-sa. a. Cái gì? (1) Thiếu khả năng để nhận rõ tức thì sự quí báu của sự cứu rỗi. Của lễ tại Đồi Sọ không được coi như là sự hoàn tất trọn vẹn. Công việc của Chúa Giê-xu tại thập tự giá không được đánh giá là một công việc trọn vẹn và cuối cùng. c. Phương pháp. (1) Chúa Giê-xu: Hãy chứng minh của lễ hi sinh của Chúa Giê-xu trên thập tự giá là cuối cùng và hoàn tất. Bây giờ sự cứu rỗi có giá trị cho những ai trong Đấng Christ. Hơn thế nữa, nhấn mạnh sự sống lại và sự thăng thiên. Chúa Giê-xu không còn trên thập tự giá nữa. Ngài ở trên thiên đàng! (2) Trưng dẫn Eph Ep 1:20, Mat Mt 27:51, HeDt 9:24-28, HeDt 10:11, 12, HeDt 6:4, 6. d. Chúng ta có giữ được gì? (1) Đề nghị nhóm nhau và ca ngợi về huyết linh nghiệm của Chúa Giê-xu tại thập tự giá. 6. Truyền thuyết. a. Cái gì? (1) Công giáo có hai nguồn bày tỏ, Kinh Thánh là một nguồn. Những truyền thuyết về Hội thánh là một nguồn khác. Trong thực tế, truyền thuyết có thế lực hơn (khẳng định lại trong Giáo hội nghị Va-ti-can lần thứ nhì). c. Phương pháp. (1) Chúa Giê-xu! Hãy tôn thờ Chúa Giê-xu như Cứu Chúa duy nhất. Hãy dạy rằng Hội thánh là Thân thể của Đấng Christ, và huyết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá là sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho loài người. Khích lệ Công giáo đọc Kinh Thánh. Trung tín cổ vũ về Vương quốc của Đức Chúa Trời. (2) Hãy dùng những câu Kinh Thánh Thi Tv 138:2, Mat Mt 24:35, GiGa 12:48, Mac Mc 7:6-8, KhKh 22:19 . d. Chúng ta rút được kinh nghiệm gì? (1) Những truyền thuyết thuộc về Kinh Thánh rất hữu dụng. Truyền thuyết không tự động trở nên xấu. 7. Những trung gian khác ngoài Chúa Giê-xu. a. Cái gì? (1) Chúa Giê-xu được thay thế bằng những môi giới khác giữa Đức Chúa Trời và loài người. (a) Linh mục - linh mục đứng vị trí của Chúa Giê-xu và đại diện cho Ngài trên đất. Ông ta được gọi là “bàn thờ Christus” (Đấng Christ khác). Linh mục cử hành lễ với nhiều động tác nặng phần trình diễn. (b) Các thánh - những bài kinh cầu đặc biệt dâng lên các thánh đặc biệt hầu nhận sự giúp đỡ. b. Tại sao? (1) Lúc không có chính đích thân Chúa Giê-xu nên cần lấy điều khác thay thế vào. c. Phương pháp. (1) Chúa Giê-xu! Đức Chúa Giê-xu là Đấng trung bảo duy nhất được chấp nhận. Nhấn mạnh Chúa Giê-xu luôn luôn có giá trị và luôn luôn muốn giúp đỡ chúng ta. (2) Trưng dẫn các câu Kinh Thánh GiGa 14:6, EsIs 8:19, ITi1Tm 2:5, Mat Mt 27:51, IPhi 1Pr 2:9, ISa1Sm 28:8-19, RoRm 8:26, HeDt 7:25 . d. Rút được kinh nghiệm gì? (1) Chúng ta là thầy tế lễ. Đấng Christ sống trong chúng ta (IPhi 1Pr 2:9 ). 8. Giáo hoàng. a. Cái gì? (1) Ông ta có một tước vị thánh (Cha thánh). Ông trị vì như Đấng Christ tại Va-ti-can. Những tiếng nói của ông ta tự động là tiếng nói của Đức Chúa Trời. Ông ta không thể sai trật. Ông ta đã sáng tác một giáo lý không thể từ khước được. (2) Giáo hoàng Leo XIII rêu rao rằng ông nắm địa vị của Đức Chúa Trời Quyền Năng trên đất. (3) Boniface VIII công bố rằng Ông ta là Đức Chúa Trời. Ông nói rằng “phải tuân thủ giáo hoàng là điều cần thiết cho sự cứu rỗi.” b. Tại sao? (1) Thiếu sự thông công với Chúa Giê-xu tạo nên một sự cần thiết lớn lao để thế vào. Thuộc linh được thay thế bằng thuộc thể. c. Phương pháp. (1) Chúa Giê-xu! Nhấn mạnh Chúa Giê-xu là Đấng cứu thế duy nhất, chỉ duy Ngài là Toàn hảo. Ngài duy nhất là Đầu của Hội thánh. (2) Sử dụng RoRm 3:10, 23 và Eph Ep 1:22 . d. Chúng ta rút những kinh nghiệm gì? (1) Hãy kính trọng những lãnh đạo của Hội thánh (ITe1Tx 5:12, 13). 9. Tượng, bình thánh thể, hòm đựng thánh cốt, và chuỗi hạt. a. Cái gì? (1) Tất cả những thứ này là đối tượng để cúng lạy (hình tượng). Những bài kinh dâng trước bức tượng. Bánh thánh đựng trong bình thánh thể. Chỗ hài cốt các thánh là nơi cúng bái. Dây chuyền, chuỗi hạt đeo vào như là những vật thánh. Tất cả những vật ấy được tôn kính như là đồ đặc biệt và Thánh khiết. b. Tại sao? (1) Nhiều lần Công giáo học về thần học của công việc từ thiện thay vì học của đức tin. Thế giới thuộc linh dường như quá xa cách. Như đưc tin, dường như không đích thực. Thờ phượng trong tâm linh dường như quá mơ hồ. Vì vậy, Công giáo khuynh về hình thức thuộc của thần học và sự thờ phượng. c. Phương pháp. (1) Chúa Giê-xu! Nhấn mạnh tính chất xác mực của sự sống lại. Chứng minh rằng Chúa Giê-xu là Đấng cu thế duy nhất. Sự thông công thuộc linh với Ngài bởi đức tin là điều thực tế. Nó có thể kinh nghiệm được. (2) Sử dụng Eph Ep 2:8-10, GiGa 4:20-24, Cong Cv 17:22-31, Mac Mc 7:3, 18-20 . d. Chúng ta được điều gì? (1). Cho rằng tất cả dùng để bái lạy, cu1ng tế là việc nguy hiểm! 10. Bánh không men, bánh thánh. a. Cái gì? (1) Một cách huyền diệu, bánh vá rượu nho đổi thành thân và huyết thật của Đấng Christ. Những yếu tố được đưa lên ngang hàng như là chúng nó là Đức Chúa Trời. b. Tại sao? (1) Một lần nữa chúng ta thấy nhu cầu cho điều đích thực. c. Phương pháp. (1) Chúa Giê-xu! Sự hiện diện thiêng liêng hẳn nhiên của Chúa Giê-xu trong Tiệc thánh. (2) Dùng Mat Mt 28:20 11. Lễ Ban phước như là một phương pháp để được sự cứu rỗi. a. Cái gì? (1) Lễ Ban phước của Công giáo cử hành như một hệ thống của hệ thống tổ chức của lễ nghi thuộc tôn giáo. Hệ thống nầy phục vụ như một ống dẫn qua đó người ta nhận được sự cứu rỗi. b. Tại sao? (1) Nó gây dựng niềm tin. Bởi vì thiếu đức tin nơi công việc của thập tự giá có một nhu cầu một hệ thống đích thực hầu cho bảo đảm sự cứu rỗi. c. Phương pháp. (1) Chúa Giê-xu! Ngài là ống dẫn duy nhất để được sự cứu rỗi. (2) Trích dẫn Eph Ep 2:8-10 và GiGa 14:6 . d. Chúng ta rút được kinh nghiệm gì? (1) Dùng biểu tượng của những lễ ban phước thuộc về Thánh Kinh (thánh lễ báp-têm và lễ tiêec thánh). 12. Thiếu sự bảo đảm. a. Cái gì? (1) Không có sự bảo đảm trong giáp lý Công giáo. (2) Đại Hội đồng lễ cầu siêu phán quyết: “Đáng rủa sả thay cho kẻ nào nói họ có sự bảo đảm của sự cứu rỗi”. b. Tại sao? (1) Giáo lý Công giáo khuyến khích có sự cứu rỗi bởi công đức. Nên, một người không biết kết quả cuối cùng cho đến khi công tác từ thiện của người ấy hoàn tất (sau khi người đó chết). c. Phương pháp. (1) Chúa Giê-xu! Hãy cắt nghĩa rằng chúng ta không thể dựa vào đời sống riêng của chúng ta. Chúng ta phải dựa vào sự sống của Chúa Giê-xu. Sự sống Chúa Giê-xu là vĩnh cửu. Lời tuyên phán đã định trong Ngài. Một người không cần chờ đợi để có được sự sống khi việc ấy đã được Chúa Giê-xu thực hiện rồi. (2) Trích dẫn GiGa 1:12, GiGa 3:16, 36 19:30;, Cong Cv 4:12, IICo 2Cr 1:9, Phi Pl 3:3-9, IGi1Ga 2:5, IGi1Ga 3:2, 14, 19, 24, IGi1Ga 5:13 . d. Chúng ta có được kinh nghiệm gì? (1) Dĩ nhiên chúng ta phải nhẫn nại cho đến cuối cùng. Chúng ta phải chạy cho xong cuộc đua (Mat Mt 24:13 , ICo1Cr 9:24-27 ). D. TÓM TẮT 1. Cái gì? a). Những giáo lý cực đoan phi Kinh Thánh làm giảm sự thiêng liêng của Chúa Giê-xu. (b). Chúng thu nhỏ công việc của thập tự giá . (c). Chúng cổ vũ một thần học của những công tác từ thiện. 2. Tại sao? a. Bởi vì thiếu sự hiểu biết Kinh Thánh b. Bởi vì thiếu Đức Thánh Linh (quyền năng của Đức Thánh Linh thay thế bằng những công đức, bằng việc làm.). c. Bởi vì ham muốn để thâu được sự cứu rỗi. d. Bởi vì thích thể hiện lòng thành kính qua sự thánh khiết siêu nhiên. e. Bởi vì thiếu sự thông công riêng tư với Chúa Giê-xu. f. Bởi vì thiếu sự tin cậy vào công việc của thập tự giá. gặt. g. Bởi vì giáo lý Công giáo đã không bao giờ thực hiện bước nhảy trọn từ Cựu-ước đến Tân ước. 3. Phương pháp a. Chúa Giê-xu! Chúa Giê-xu! Chúa Giê-xu! Hãy lay động Ngài. Hãy tán tụng Ngài. Nhấn mạnh sự thành công, hiểu lực, sự trọn vẹn và cuối cùng công việc của thập tự giá. Thách thức Công giáo chưa được cứu nên có một quyết cho chính mình. Người ấy phải ăn năn và dâng chính cuộc đời mình cho Chúa Jesus. Quan trọng nhất, bảo người ấy nên có sự thông công riêng tư, thành thật và thân mật với Chúa Jesus. b. Sách quan trọng nhất cho Công giáo là đọc Hê-bơ-rơ. c. Câu quan trọng nhất cho Công giáo là GaGl 2:21 . 4. Chúng ta rút kinh nghiệm gì? a. Có nhiều nhịp cầu để truyền giảng Phúc âm cho Công giáo. CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN THẾ TỤC. A. Lời Giới Thiệu 1. Chủ nghĩa nhân văn là gì? Tuyên ngôn của chủ nghĩa nhân văn qui định “Không có thần nào cứu chúng ta . Chúng ta phải tự cứu lấy mình.” Vì vậy, người theo chủ nghĩa nhân văn là Thượng đế. Chủ nghĩa nhân văn là một tôn giáo tin tưởng rằng loài người là Đấng Hóa Công. 2. Augustine nói, “Tội lỗi đang tin sự dối trá rằng bạn tự hữu, tự lập, tự nuôi sống. “Trong ý nghĩa này, thuyết nhân văn là tư tưởng cực kỳ tội lỗi. Nó là tột đỉnh của sự thờ phượng (loài người thờ lạy loài người). 3. Thuyết nhân văn ở đâu? Chủ nghĩa nhân văn ở khắp nơi nào mà người ta ở. Những người theo thuyết nhân văn chính thống là những kẻ vô-thần( thực tế, không có sự việc như chủ nghĩa không có đạo nào cả từ lúc tất cả người ta có một bụt -- ngay cả bụt ấy là chính người đó ). Cùng một lúc, thuyết nhân văn thâm nhập vào mọi tôn giáo. Rủi thay, nó đã từng thâm nhập vào Cơ-đốc giáo. Có hai hậu quả của thuyết nhân văn trong nhà thờ: a. Những thánh đường đầy ắp những người “tốt” mà lại không phải là Cơ-đốc nhân. Có cỏ lùng trong đám lúa mì (Mat Mt 13:24-30 ). b. Các Hội thánh tràn ngập những Cơ-đốc nhân yếu đuối (thường gọi là Cơ-đốc nhân bất bình thường). Những người nầy được cứu. Tuy nhiên, ý kiến và triết lý của chủ nghĩa nhân văn gây cho họ không tăng trưởng trong Chúa. B. TRI THỨC VỀ CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN THẾ TỤC 1. Hai triết lý chính của thuyết nhân văn phổ quát. a. Tình huống đạo đức -- đây là căn bản định nghĩa qui tắc luân thường đạo lý của thuyết nhân văn, Thuyết nầy nói rằng mọi vật đều lủng lẳng. Không có sự thuần khiết. Mọi thứ tùy thuộc vào gì? Nó hoàn toàn lệ thuộc vào những gì bạn muốn. Nó là một đạo lý thuộc thuyết cái tôi là trên hết (thuyết ngã chi thương). Từ khi loài người là Thần, loài làm ra qui luật. Luật là gì? Nó lơ lửng. Nó tùy thuộc vàogì mà đem lại lợi ích nhất cho loài người. Nó là một triết lý thực dụng bấy giờ người ta áp dụng thực tế và coi như là đạo lý. Một người thuộc chủ nghĩa nhân văn cực đoan có thể nói, “Hãy làm bất cứ gì đem lại lợi ích nhất cho bạn” (tra xem Cac Tl 21:25 ). Ấy là tại sao người ta có thể ở tình trạng suy dinh dưỡng và thốt lên rằng nó là đạo lý đúng đắn để theo. b. Lòng khoan dung -- nguyên tắc căn bản định nghĩa “tình thương” của thuyết nhân văn. Nó rêu rao rằng sự yêu thương là để khoan dung mọi sự (ICo1Cr 13:7 “nín chịu mọi sự”). Tình thương theo Thánh Kinh là nín chịu mọi sự (nó chấp nhận và ủng hộ một người ngay cả không thể và sẽ không chấp nhận hành động của người ấy). Tình thương thuộc thuyết nhân văn khoan dung mọi sự (nó chấp nhận một người và những hành động sai quấy của người đó nhưng không làm gì để giúp người đó cả). Nó chỉ là tình yêu bằng những lời lẽ mà thôi. Tình yêu thuộc chủ nghĩa nhân văn nói, “Tôi O.K. và bạn O.K.”. Nó nói, “Bạn đừng đụng chạm tôi và tôi sẽ không quấy rầy gì bạn cả.” c. Nguồn gốc và hậu quả của cả hai triết lý nầy là loài người là Đấng Tối Cao. Con người là thần. Loài người tạo ra luật. Bất cứ loài người làm gì đều ưng thuận được. 2. Từ khi loài người là Đức Chúa Trời, chủ đề quan trọng nhất trong thuyết nhân văn là nhân quyền. Loài người phải bảo vệ quyền hành của mình. Người ấy phải giữ cho kỳ được quyền với bất cứ giá nào. Một người theo thuyết chủ nghĩa nhân văn sẽ nói: ‘khi một người đánh mất quyền hành người ấy mất sự sống.’ So sánh với Mat Mt 5:38-41, Mat Mt 16:24-26, Phi Pl 2:5-7 . 3. Chủ nghĩa nhân văn luôn luôn hướng dẫn d6 khoái lạc thuyết (sự yêu đương của những tham muốn xấu xa). Chủ nghĩa nhân văn cho rằng loài người là Đức Chúa Trời. Lẽ thật nói rằng loài người có nguyên tội. Kết quả đưa đến trong thuyết nhân văn rằng thần có nguyên tội. Đức Chúa Trời có quyền tự do làm gì mà Ngài muốn. Nên, thần (người ta) sẽ hành động theo bản năng. Hậu quả thuyết nầy chẳng qua là chủ nghĩa khoái lạc. 4. Đặc biệt, thế giới Phương Tây, chủ nghĩa nầy xuất hie5n là “tốt, thuận lợi”. Người theo chủ thuyết nhân văn được coi là người tốt muốn sống như anh em với tất cả mọi dân tộc trên thế giới. Họ muốn thực hiện những gì tốt cho nhân loại. Những người có phẩm cách và luân lý theo như Kinh Thánh là những người “xấu” (cho dù lý lẽ tại sao chủ nghĩa được coi là “tốt” nhờ no1 giữ những lề luật và sự áp dụng của Cơ-đốc. 5. Đây là danh sách để những niềm tin khác thuộc thuyết nhân văn: a) Vũ trụ không được tạo dựng. b) Loài người liên quan đến sự tiến đến sự hoàn hảo (sự tiến hóa). c) Sự siêu nhiên không có hiện hữu. d) Không có sự sống sau khi chết. e) Nên cần có một trật tự của thế giới mới. f) Chủ nghĩa xã hội. C. Truyền giảng cho người theo thuyết chủ nghĩa nhân văn 1. Không thừa nhận tư duy của họ. a. Tín đồ chủ nghĩa thuyết tin sự khoan dung. Tuy nhiên, những người theo thuyết nhân văn không độ lượng cho Cơ-đốc nhân. Thuyết nhân văn là chiến đấu chống lại Cơ-đốc giáo. Tuyên ngôn của thuyết nhân văn khuyến khích khoan nhân nhưng kịch liết phản đối tôn giáo. Nó muốn nó “Người ta có thể làm bất cứ gì càng lâu càng tốt và nó không dính dấp đến tôn giáo”. Đây là sự mâu thuẫn. Một tín đồ thuyết nhân văn ngay cả không sẵn sàng lắng nghe lời làm chứng của bạn cho đến lúc bạn thách thức người ấy về quan điểm nầy. b. Thuyết nhân văn nói rằng người ta có năng lực bên trongx làm thế giới một nơi hoàn hảo để sinh sống. Nó chỉ là vấn đề thời gian (sự tiến hóa). Thế thì sao họ làm những điều dường như là trở nên tệ hơn. Nhiều tệ nạn, nhiều tội hình sự hơn. Nhiều kẻ sát nhân. Đói kém nhiều hơn. Ô nhie64m môi trường nhiều hơn. Ly dị nhiều hơn. Khủng bố nhiều hơn. Chiến tranh nhie2u hơn. Mãi dâm nhie2u hơn. Thách thức tín đồ chủ nghĩa nhân văn; Niềm hy vọng của người ấy ở đâu? Lịch sử chứng tỏ rằng trong con người vô vọng dẫn đến thất vọng. Không có Đức Chúa Trời không có hy vọng. 2. Sự thách thức tấm lòng của họ. a. Hãy nhớ rằng thuyết nhân văn là một tôn giáo có trình độ. Chớ có phí thời giờ với những tranh biên tri thức. Hãy thách đố tâm trí của người ấy với mục đích tạo cơ hội để thách thức tấm lòng của người đó. b. Dùng lời của Đức Chúa Trời. Tin cậy vào quyền năng của Lời của Chúa (RoRm 1:16 ). c. Trưng dẫn sự tương phản thất bại của loài người với giải pháp của Đấng Christ. Hãy cố gắng phát hiện ra lãnh vực nào của cuộc sống người ấy có vấn đề. Hãy đề nghị họ Chúa Giê-xu là giải pháp. d. Tập trung nhu cầu riêng của người ấy về sự tha thứ. Hãy cầu nguyện cho người nhìn thấy mình là một tội nhân . e. Trình bày về sự sống vĩnh hằng. Thuyết chẳng mang hãy vọng gì trong cỏi tương lai. Tất cả nhân loạid đương nhiên cần sự sống đời đời. Đây là một cơ hội trọng đại trong việc truyền giáo cho những người theo thuyết nhân văn. Chót đến, giải thích cho người rằng người ấy có thể có mối tho6ng công với Đức Chúa Trời. Người theo thuyết chủ nghĩa nhân văn thay thế sự tương giao với Đức Chúa Trời bằng sự giao hảo với xã hội (ủng ho65 một tổ chức hoặc một nan đề của xã hội). Tuy vậy, điều nầy không lấp được khoảng trống trong cuộc sống của ai mà không biết Đức Chúa Trời. Hãy đụng đến nhu cầu của trái tim. Trình bày Chúa Giê-xu cho họ! CHỨNG NHÂN GIÊ-HÔ-VA VÀ PHÁI MỌT-MÔN A. Chứng nhân Giê-hô-va 1. Nó bắt đầu vào năm 1879 dưới sự lãnh đạo của Charles Russell. 2. Họ sử dụng Kinh Thánh như một Quyển sách Thánh của họ. Tuy nhiên, họ đặt lý lẽ trên Kinh Thánh. Nếu có điều chi viết trong Kinh Thánh ngược lại với lý lẽ của loài người thì nó bi5 từ chối. Cho nên, giáo lý (ngụy giáo) của họ trên lý luận thuyết. 3. Giáo lý của họ: a. Họ khước từ Ba Ngôi Đức Chúa Trời. b. Họ chối bỏ thần tánh của Đấng Christ. c. Họ từ bỏ sự hiện hữu từ trước của Chúa Giê-xu. d. Họ phủ nhận sự cứu rỗi bởi đức tin. e. Họ phủ nhận nhu cầu cần có một Đấng Cứu Thế siêu nhiên. f. Họ nói rằng Chúa Giê-xu đã trở lại rồi vào năm 1914 (một cách bí mật). B. Thuyết Mọt-môn 1. Nó bắt đầu năm 1830 dưới sự chỉ đạo của Joseph Smith. 2. Họ dùng Kinh Thánh 1 như là một quyể sách Thánh. Tuy nhiên, quyển sách của pha1i Mọt-môn được sử dụng như là một uy quyền cao hơn (Smith nhân nội dung từ thiên sứ Moroni và ông ta phiên dịch từ những dĩa vàng huyền bí). 3. Giáo lý của họ: a. Họ chối từ Ba Ngôi Đức Chúa Trời. b. Họ khước từ thần tánh của Đấng Christ. c. Họ phủ nhận sự hiện hữu từ trước của Chúa Giê-xu. d. Họ chối bỏ sự cứu rỗi bởi đức tin. e. Họ từ chối nhu cầu cần thiết có một Đấng Cứu Thế siêu nhiên. f. Họ chối bỏ sự sa ngã của loài người (trong giáo lý Mọt-môn A-đam là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Cha). g. Họ tin cậy và áp dụng sự cứu rỗi bằng thuyết đa thê, đa phu. C. Truyền giảng Phúc Âm cho tà giáo 1. Điều quan trọng nhất là nhấn mạnh thần tánh của Chúa Giê-xu Christ. Tất cả tà giáo cho61i bỏ thần tánh của Ngài. Dĩ nhiên, đây là vấn đề nền tảng. Dùng các câu Kinh Thánh: a. GiGa 20:28, HeDt 1:8, GiGa 17:5 b. GiGa 8:51-59 c. Mat Mt 14:33 và GiGa 9:38 d. LuLc 5:21-24 e. Mac Mc 2:5-11 f. CoCl 1:16 g. HeDt 1:3 h. Mat Mt 28:18 i. GiGa 10:30 j. GiGa 14:9 k. GiGa 8:58 và Mac Mc 14:62 l. EsIs 6:1-3 với GiGa 12:41 và EsIs 8:13 với IPhi 1Pr 3:15 (nhất là với chứng nhân Giê-hô-va). 2. Trọng tâm vào giá trị sự cứu rỗi bởi đức tin trong Chúa Giê-xu. Tất cả các tà giáo chỉ đao hình thức nào đó về sự cứu rỗi bởi công đức. Hãy hỏi câu: “Bạn đã được tha thứ tội chưa?” 3. Tạo dịp để trình bày họ thiết lập sự thông công với Đức Chúa Trời. Tà giáp khước từ khả năng nầy. D. Tóm tắt 1. Những người tà giáo rất thủ đoạn. Rất khó để truyền giảng Phúc âm cho họ. 2. Chứng nhân Giê-hô-va và Mọt-môn là hai phái tà giáo lớn nhất. 3. Có rất nhiều giáo lý sai trật, ngụy tà (nhiều trong số ấy rất cực đoan -thí dụ, Mọt-môn tuyên bố Chúa Giê-xu đa thê). Còn có rất nhiều điều để nói về sự truyền giáo cho tà giáo. Nghiên cứu thật là một khóa học chính nó dành trọn cho môn nầy. Ở đây, chúng chỉ lưu ý như lãnh vực học hỏi tổng quát hơn về hệ tư tưởng khác với truyền giáo của Cơ-đốc (cho dù họ thường coi như là “phương pháp Cơ-đốc của tư duy”). Chúng ta phải đầu tư nhiều thì giờ hơn trong việc nghiên cứu Cơ-đốc giáo bởi vì có nhiều điểm tương đồng với Truyền giáo của Cơ-đốc hơn là Nhân văn Thế tục và những Tà giáo. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng những người Công giáo chưa được cứu chính cha81n cho Tin Lành hơn những người theo thuyết chủ nghĩa nhân văn chính qui và hoặc những thành viên của tà giáo. Trong bất cứ trường hợp nào, trước tiên chúng ta phải hiểu biết họ, hầu cho hiệu quả truyền giáo cho những người có hệ tư tưởng khác. HỒI GIÁO I. Lời giới thiệu A. Một nam Cơ-đốc nhân muốn làm chứng về Chúa Giê-xu cho bạn của ông ta. Bạn của ông ta LÀ MỘT NGƯỜI Hồi giáo. Một ngày kia bạn của ông đang sửa soạn để cầu nguyện. Anh ấy rửa tay. Rửa cánh tay và mặt. Anh ta ra ráy nhiều phần khác của cơ thể. Bấy giờ, người bạn Cơ-đốc nói: 'Bạn quên rửa phần quan trọng nhất.' Anh chàng Hồi giáo hỏi: 'Phần nào?' Người bạn Cơ-đốc đáp: 'Bạn quên rửa trái tim của bạn'. Anh chàng Hồi giáo nói: 'Đừng bởn cợt! Tôi không thể rửa trái tim của tôi được.' Người bạn Cơ-đốc đồng tình: 'Đúng vậy, đó là tại sao bạn cần d6 Đấng Christ.' B. Một số đông người trên thế giới là Hồi giáo. Làm thế nào để chúng ta d6 với họ.? Trước nhất, chúng ta phải hiểu họ là ai và họ đặt niềm tin vào điều gì. Kế đến, chúng ta truyền giảng về Phúc âm cho họ theo sự hiểu biết của chúng ta về họ. II. HIỂU BIẾT ĐẠO HỒI (Mà có nghiã là 'quy phục Đức Chúa Trời" - - mà lại, một người Hồi giáo là người quy phục Đức Chúa Trời). A. Vài thống kê và ngày tháng năm. 1. Khoảng 20% người trên thế giới là Hồi giáo. a. 52% của tổng số Hồi giáo sống ở Á-châu. b. 28% sống tại vùng Trung Đông và Bắc phi châu. c. 13% sống ở mạn dưới sa mạc Sa-ha-ra thuộc Phi châu. d. Khoảng 6% sống ở Âu châu và Nga sô. 2. Đạo Hồi chính thức bắt đầu vào năm 680 sau Công nguyên. a. Lịch của Hồi giáo bắt đầu vào năm 622 S.C (nghĩa là năm Zero đối với đạo Hồi). (1) Muhammad, người sáng lập đạo Hồi, sống từ 570- 632. (2) Muhammad nhận được khải thị đầu tiên của ông ta vào năm 610 và bắt đầu công khai giảng vào ba năm sau đó. (3) Muhamad di trú từ Mecca đến Medina và năm 622. B. Một số dữ kiện cơ bản: 1. Những điều tin tưởng căn bản của Hồi giáo. a. Muhamad là tiên tri vĩ đại cuối cùng, và ông vĩ đại hơn tất cả những người khác. b. Những sách Kinh dệ của Hồi giáo và những tiên tri của họ gồm: (1) Torah - Abraham. (2) Thánh vịnh (Thi-thiên) David. (3) Những sách Phúc âm (The Gospels) Chúa Giê-xu. (4) Koran - Muhamad c. Hồi giáo tin vào thiên sứ (cả thiện lẫn ác). d. Hồi giáo tin có ngày phán xét. Tiêu chuẩn được tiếp nhận vào thiên đàng là bởi công đức, việc từ thiện. Nếu một người làm việc lành nhiều hơn việc ác người ấy có thể vào thiên đàng. Họ tin ngày được sống lại. e. Hồi giáo tin vào định mệnh. Bất cứ gì Allah hạ lịnh phải thi hành cho bằng được. f. Allah từ ngữ Á-rập là chỉ về Đức Chúa Trời. Ngài là thuần khiết, Toàn năng và tỏ lòng thương xót đối với mọi người Hồi giáo. 2. Những áp dụng căn bản của Hồi giáo. a. Tín điều tuyên xưng - "Tôi làm chứng rằng không có Đức Chúa Trời nhưng có Allah, và Muhamad là sứ giả của Allah." b. Những bài kinh khuôn sáo, theo nghi lễ. c. Làm công tác bố thí. d. Lễ chay tịnh Ramadan. e. Cuộc hành trình hướng đến Mecca. f. Trận giặc tôn giáo giữa tín đồ Hồi giáo và những người không tín ngưỡng (cuộc Thánh chiến). III. TRUYỀN GIẢNG CHO NGƯỜI HỒI GIÁO A. Lời giới thiệu. 1. Chúa Giê-xu giới thiệu Tin lành trong một phương pháp cho Ni-cô-đem là người Do-thái (GiGa 3:1-21 ). 2. Chúa Giê-xu giới thiệu Tin lành bằng một phương pháp khác cho người phụ nữ Sa-ma-ri (GiGa 4:7-26 ). 3. Sự giới thiệu linh động khác nhau tùy theo hoàn cảnh, môi trường, trình độ của thính giả. a. Giáo sĩ phải biết Kinh Thánh. Người ấy phải biết thân hữu của người ấy nữa. (1) Nội dung của Tin lành không thay đổi. (2) Phương pháp giới thiệu Tin lành sẽ thay đổi. b. Cách thức làm chứng cho người Do-thái khác với phương pháp làm chứng cho người Ngọại. c. Trên thế giới ngày nay chúng ta có thể nói cách làm chứng cho một người theo thuyết chủ nghĩa nhân văn thế tục sẽ khác với cách làm chứng cho một tín đồ Hồi giáo. 5. Chúng ta phải lưu ý những phương pháp khác nhau để truyền giảng cho những từng lớp người khác nhau. Chúng ta phải lập những nhịp cầu trở thành sự truyền giáo của chúng ta. a. Nhịp cầu là những phương tiện liên kết những phần rời rạc lại với nhau. (1) Xây dựng nhịp cầu trong truyền giáo không phải là sáng tác ra sự hiệp nhất giả. (a) Nó không tránh sự khác nhau vì cớ sự giao hảo tốt. (b) Nó không đề nghị một phần của Tin lành vì cớ không bảo vệ người khác. (2) Xây dựng nhịp cầu trong truyền giáo sử dụng những gì có giá trị. Nó đặt trọng tâm vào để đưa thân hữu đến chỗ nhận biết Chúa Giê-xu. (a) Nó mang phước hạnh cho bất cứ gì có thể được chúc phước. (b) Nó trở nên là tất cả mọi sự cho mọi người bằng tất cả các phương pháp dù có thể có một số người được cứu (ICo1Cr 9:22 ). b. Những nhịp cầu không có khởi xướng sự hổn tạp (pha trộn giữa nhiều tôn giáo khác với nhau). Xây dựng nhịp cầu trong truyền giáo cốt ý liền lạc hóa (cho phép Tin lành thâm nhập hầu khai hóa). 6. Phần còn lại của khóa học này sẽ tập trung vào sự xây dựng nhịp cầu trong truyền giáo cho người Hồi giáo. B. Những cách tiếp đãi và dáng bộ tổng quát xây dựng nhịp cầu để đến với Hồi giáo. 1. C.R. Marsh là một chuyên gia về truyền giao cho Đạo Hồi. Ông nói như vầy: "Bắt đầu với ý nghĩa mờ mờ trong tôn giáo người đó và tiếp tục dẫn người ấy biết trọn vẹn về sự mặc khải của Đức Chúa Trời." 2. Công thức đơn giản. a. Nghiên cứu và sử dụng những điểm mạnh về đức tin Hồi giáo đe3 bắt chuyện với một tín đồ Hồi giáo. b. Trình bày Vương Quốc của Đức Chúa Trời hầu trám đầy những thiếu sót của họ. Thí dụ: (1) Một người đạo Hồi biết rằng anh ta không đạt được tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời. Người ấy lặp đi lặp lại bài kinh hầu nhận được sự tha thứ (điểm mạnh). (2) Tuy nhiên, trong tôn giáo anh ta không có sự bảo đảm về sự tha tội. Anh ta chỉ có thể hi vọng (một chỗ thiếu). (3) Cơ-đốc nhân phải trình bày cho anh ta của lễ chuộc tội (Vương Quốc của Đức Chúa Trời). 3. Niềm tin Hồi giáo là duy thần giáo (họ tin tưởng có một Đức Chúa Trời). Cơ-đốc giáo là duy thần giáo. Chúng ta phải khai thác niềm tin phổ quát này. Đừng cư xử Hồi giáo như người đa thần hoặc vô thần. Một tín đồ Hồi giáo có sự kính sợ Đức Chúa Trời tuyệt đối. Đây có thể là một nhịp cầu. 4. Người Hồi không thẹn về những gì họ tin. Họ thường sốt sắng chia xẽ niềm tin của họ cho người khác. Cho nên, có nhiều cơ hội để làm chứng cho người Hồi. a. Họ sẽ khao khát cùng mức độ sốt sắng và cởi mở với một Cơ-đốc nhân. (1) Vậy thì, hãy mạnh dạn trong sự truyền giáo cho Hồi giáo. (2) Cùng một lúc bày tỏ sự khiêm nhường (hảnh diện và khiêm nhường thường cho là riêng biệt - sự thật thì là trái nghĩa nhau - khi cả hai là thực tình thì luôn luôn hài hòa nhau). (3) Sứ điệp phải mạnh dạn (không gây tổn thương). Sứ giả quan trọng như sứ điệp. (a) Vậy nên, việc quan trọng là phải sống một đời sống tương hợp với sứ điệp cho người Hồi (đây là điều đặc biệt quan trọng trong nền văn hóa Hồi giáo). 5. Tránh chỉ trích Hồi giáo. Tránh lời nói có tính cách công kích về Muhamad. Hãy có một thái độ thương xót. a. Hãy đặt bạn vào đia vị của họ. Cái gì xảy ra nếu tỉ như bạn là một người Hồi giáo? (1) Nói lẽ thật và để lẽ thật làm công việc lên án. (2) Nói một cách minh bạch, quả quyết về Chúa Giê-xu. Chớ biện luận chống lại Muhamad. (a) Nói phản đối Muhamad chỉ gây phẩn nộ người Hồi giáo và đóng cánh cửa rao giảng Tin lành. (b) Nói khẳng định về Chúa Giê-xu (ngay cả dẫn chứng GiGa 14:6 ) cũng có thể đóng cánh cửa truyền giáo, nhưng ít nhất có cơ hội để Đức Thánh Linh làm việc. (3) C.R.Marsh nói, "Hãy giới thiệu gốc nho thật trong cách đó co1 khả năng người đó ham thích đơm quả cho Tin lành." 6. Hãy chân thành. Thật thà. Cố gắng nói vào tận tấm lòng và lương tâm người ấy. a. Một người thuộc Hồi giáo muốn có cuộc đàm đạo có tính cách thần học. Cần thiết để biện luận với người ấy ở mức độ hiểu biết. b. Tuy nhiên, hãy luôn luôn trở về mục đích và đưa người ấy đến chỗ nhận biết rằng người ấy cần một Đấng Cứu Thế. Dẫn người ấy đến cao điểm của nhu cầu về sự tha thứ. Linh hồn người ấy sẽ gào lên để được sự tha thứ. (1) Đáp ứng nhu cầu tâm linh của người đó. Trình bày Chúa Giê-xu như là Đấng Cứu Thế cho người ấy Tôn giáo mà người đó mường tượng ra sao không quan trọng. Người đó cần một Đấng Cứu rỗi. 7. Hơn hết thảy mọi việc khác, chứng minh cho người ấy tình yêu của Ngài. a. Hãy lưu ý những lời của một người đạo Hồi qui đạo: "Lúc này đây, ôi! người của Đức Chúa Trời tôi thật là tội lỗi vì sự vô tín và người ấy bắt đầu khóc. Không phải bởi những lời biện luận nhưng bởi những giọt nước mắt ...chúng đã làm tan chảy trái tim tôi." b. C.R.Marsh nói "Gần như trong mỗi trường hợp đàm thoại của một tín đồ Hồi giáo, trước tiên người ấy bị ảnh hưởng bởi tình yêu của Đấng Christ." C. Những nhịp cầu có tính cách Thần học và Tôn giáo. 1. Bởi vì thuyét nhân văn thế tục ở Phương Tây nó không nhận thức một cách tự nhiên để nói về những điều của Đức Chúa Trời. Trong khối Á-rập đây là sự khác biệt. Tất cả sinh hoạt của cuộc sống liên quan đến niềm tin tôn giáo. Một tác giả nói: "niềm tin tôn giáo ảnh hưởng một cách thực tế mỗi hành động trong từng giây phút trong cuộc sống." a. Điều này tạo ra một nhịp cầu rất hữu dụng gọi "lôi cuốn". b. Đối với Hồi giáo thì thật tự nhiên nói về những điều của Đức Chúa Trời. (1) Hãy nhận biết điều này và sử dụng để khai thác. (a) Hãy than thản để bàn luận về những vấn đề và tư tưởng thuộc về tôn giáo. (b) Hãy cùng nhau đọc Kinh Thánh. 2. Hồi giáo là một tôn giáo nổ lực bao trùm lên toàn sự sinh hoạt của cuộc sống. Nó không ngưng nghỉ tại đền thờ (một nơi Hồi giáo thờ phượng). Hồi giáo thâm nhập vào tất cả sinh hoạt của cuộc sống. a. Đây là một nhịp cầu. Hồi giáo có thể không hiểu kiến thức thiên nhiên về nước Đức Chúa Trời như Chúa Giê-xu đã dạy. Họ sẽ không nói (như nhiều Cơ-đốc nhân âu châu nói), "chúng tôi không có gồm tóm Đức Chúa Trời trong mọi lảnh vực của cuộc sống. Có một thời gian và một chỗ cho những sự thuộc về Đức Chúa Trời." Tôn giáo của họ nói rằng Đức Chúa Trời phải được gồm tóm trong mọi mặt của cuộc sống. Vậy nhờ đó chúng ta có một nhịp cầu để sử dụng khi chúng ta làm chứng về Vương quốc của Chúa. Một người đạo Hồi sẽ hiểu lời tuyên bố của chúng ta rằng Cơ-đốc giáo là một phương pháp trọn vẹn cho cuộc đời. Một cơ-đốc Âu châu yếu đuối trưng dẫn cho người đó ChCn 3:6 , nhưng một người Hồi chẳng có vấn đề gì với quan niệm "một cuộc sống hoàn hảo". 3. Đối với một người Hồi giáo, Chúa Giê-xu là hòn đá vấp chân. Dầu vậy, một giáo sĩ khôn ngoan có thể trình bày Chúa Giê-xu như là một cái cầu để đến với Hồi giáo. a. Sự giáng sanh của Chúa Giê-xu. (1) Sự giáng sinh bởi nữ đồng trinh trong kinh Koran (một điều quan trọng nhất trong các sách Thánh của Đạo Hồi). (a) Một văn sĩ Á-rập, Abdul Haqq, tường thuật Chứng cớ sự giáng sanh làm người của Chúa Giê-xu trong Kinh Thánh mà Kinh Koran trích có đề cập hầu diễn tả một sự giáng sanh kỳ diệu duy nhất hơn là theo cách được sanh ra như thông lệ. (b) Kinh Koran chấp nhận sự đồng nhất này trong việc Giáng sanh của Chúa Giê-xu. Điểm này được sử dụng như một nhịp cầu để hướng dẫn Hồi giáo nhận biết rằng Chúa Giê-xu là Đấng duy nhất. Nhờ đó nói rằng Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế. (a) Người Hồi giáo rất tò mò về những phép lạ của Chúa Giê-xu. Họ bị thách thức với biến cố lịch sử mà Chúa Giê-xu chữa lành trong chính danh và bằng chính quyền năng của Ngài. (b) Kinh Koran, nhận thức quyền năng và năng lực trong Thánh chức của Chúa Giê-xu. Điều này có thể dùng như nhịp cầu để hướng dẫn người Hồi giáo, hiện nay, nhận thức rằng trong danh của Ngài quyền năng và năng lực đó vẫn còn được bày tỏ ra. Điều này nói lên rằng Chúa Giê-xu chính là Thượng Đế. c. Cuộc đời vô tội của Chúa Giê-xu. (1) Kinh Koran không phủ nhận sự toàn vẹn của Chúa Giê-xu. Nó khẳng định Ngài là Đấng vô tội. (a) Còn ai nữa trong lịch sử là vô tội? Không, ngay cả Muhamad! Muhamad nói rằng mỗi ngày ông ta cầu xin sự tha thứ 70 lần. (b) Kinh Koran nhận thức sự duy nhất và không thể so sánh được của cuộc đời Chúa Giê-xu. Điều này dùng như là nhịp cầu để hướng dẫn Hồi giáo nhận thức Thần tánh của Chúa Giê-xu. d. Cái chết của Chúa Giê-xu. (1) Cái chết của Chúa Giê-xu phải được dùng để thách thức người Hồi giáo. (a) Chúa Giê-xu tuyên báo về cái chết của Ngài. Ngài biết khi nào, thế nào, và Ngài chết đậu. Chẳng có người nào biết điều này. Một lần nữa, không ai! ngay cả Muhamad! Ông ta chết rất đột ngột. (b) Kinh Koran nhận thức được cuộc đời vô tội của Chúa Giê-xu. Nó nhận biết cuộc đời vô tội của Chúa Giê-xu. Nó ý thức được cái chết của Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu không đáng phải chết. Điều này được dùng như nhịp cầu để hướng dẫn người Hồi giáo ý thức rằng Chúa Giê-xu là Chiên Con của Đức Chúa Trời. Điều ấy cho biết phải nhận thức về của lễ chuộc tội. e. Sự tái lâm của Chúa Giê-xu. (1) Kinh Koran dạy về sự đến lần thứ nhì của Đức Chúa Giê-xu Christ. (a) Theo Kinh Koran, Chúa Giê-xu (không phải Muhamad) sẽ trở lại trái đất này để trị vì trong 40 năm. Đạo Hồi phải bị thách thức với câu hỏi, "Tại sao?" Tại sao Chúa Giê-xu? Tại sao Ngài trở lại? (b) Kinh Koran chấp nhận sự trở lại của Đấng Christ. Điều này được dùng làm nhịp cầu để hướng dẫn người Hồi giáo tiếp nhận Chúa Giê-xu như vị Thẩm phán. f. Những điều răn của Chúa. (1) Hồi giáo tiếp nhận các sách Phúc âm như là những Sách Thánh. Người ấy được thách thức với những mạng lệnh của Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu tuyên bố rằng "Chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha" (GiGa 14:6 ). Ngài nói những điều như "Hãy đến cùng Ta" (Mat Mt 11:28 ), và "vác Thập tự giá mình mà theo Ta" (Mat Mt 26:24 ). (a) Đạo Hồi chấp nhập Các sách Phúc âm. Người ấy gọi Ngài là vị tiên tri Vĩ Đại. Nhưng chưa vâng theo mạng lệnh của Ngài. Hơn thế nữa, người ấy không tiép nhận lẽ thật của những gì Chúa Giê-xu nói. Điều này không phù hợp. Nó chống ngược lại luận lý pháp. Hoặc Chúa Giê-xu là một Đại tiên tri hoặc Ngài là kẻ nói dối. Ngài không là cả hai. Người Hồi giáo được thách thức với sự kiện và họ phải chọn lựa. Nếu Ngài là một Đại tiên tri vậy thì những lời của Ngài phải được tiếp nhận như lẽ thật. (b) Kinh Koran tiếp nhận Chúa Giê-xu như một Đại tiên tri. Điều này có thể dùng như một nhịp cầu để hướng dẫn người Hồi giáo tiếp nhận những mạng lệnh những mạng lệnh của Chúa Giê-xu. (c) Hơn thế nữa, Kinh Koran chấp nhận sự tái lâm của Đấng Christ. Chúng ta phải thách đo1 họ bằng cách hỏi: "Khi Chúa Giê-xu trở lại, bạn sẽ nói gì với Ngài, Đấng mà bạn gọi là Đại tiên tri, nhưng lại chưa tin những lời của Ngài? "Hãy nhắc anh bạn Hồi giáo của bạn rằng Chúa Giê-xu nói, "Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống." (GiGa 14:6 ). Ngài không nói, "TA MANG ĐẾN đường đi, lẽ thật, và sự sống." g. Những tước hiệu của Chúa Giê-xu. (1) Kinh Koran đề cập đến Chúa Giê-xu như là Lời của Đức Chúa Trời. (a) Điều này có thể dùng làm nhịp cầu để hướng dẫn Hồi giáo lưu ý thiết lập hơn sự xác minh về Chúa Giê-xu Christ. Lời của Đức Chúa Trời là gì? (Kinh Thánh). Chúa Giê-xu là ai? h. Trong phần đúc kết, chúng ta muốn nhấn mạnh không phải chúng ta cố gắng thách đố một người bạn và kéo lôi người ấy. Mục đích của chúng ta không phải thắng một lý lẽ. Mục đích củ chúng ta là chinh phục một người! Chúng ta không phải là một luật sư đang nổ lực để thắng một vụ kiện. Chúng ta là những nhà truyền giáo cố gắng chinh phục một linh hồn! 4. Như chúng ta thấy Kinh Koran có thể dùng như nhịp cầu để truyền giảng cho người Hồi giáo. Kinh Koran nói về Chúa Giê-xu với sự đầy trân trọng. Kinh Koran cũng dánh giá Kinh Thánh rất cao. Chính Kinh Thánh có thể dùng như là một cái cầu hiệu quả. a. Nhiều báo cáo cho biết rằng phần đông người Hồi giáo tiếp nhận Chúa Giê-xu do đọc Kinh Thánh. b. Một báo cáo diễn tả trường hợp lảnh Áp-ga-nít-tan người rất ảnh hưởng lảnh đạo Cơ-đốc nhân trong khu vực của ông ta. Vị trưởng tộc ấy làm chứng thế nào một Cơ-đốc nhân đã cho ông ta quyển Kinh Thánh và khuyến khích ông ấy đọc. Cơ-đốc nhân khích lệ ông ta đọc theo như sự trân trọng đã hình thành trong lòng người Cơ-đốc ấy đối với Thánh kinh. Hãy nhớ rằng triết lý của chúng ta. Hãy chúc phước bất cứ gì có thể được chúc phước! (1) Đây là một nhịp cầu quan trọng để đến với Hồi giáo. Người Hồi giáo tôn kính những Sách Thánh. Điều này có thể dùng để hướng đẫn người ấy đến với Kinh Thánh. (a) Cơ-đốc nhân phải nhớ đừng đả kích văn hóa Hồi giáo. Thí dụ, người Hồi giáo không bao giờ để Kinh Koran trên sàn nhà. Họ cầm hoặc đặt nó trên cái kệ bằng gỗ. Chúng ta cũng phải làm hệt như vậy để củng cố mạnh mẽ thêm cho nhịp cầu. 5. Cầu nguyện cũng có thể làm nhịp cầu. Người Hồi giáo tận hiến trong sự cầu nguyện nhưng nó là khuôn sáo của những bài Kinh kệ lặp đi lặp lại. Sự cống hiến phát xuất từ ý nghĩa của bổn phận và luật lệ, một món nợ mắc với Đức Chúa Trời. Hệ thống cầu nguyện của Hồi giáo không thật sự dâng lên trong sự thông công mật thiết với Đức Chúa Trời. Hãy giới thiệu cho họ cách để liên lạc với Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện qua Chúa Giê-xu Christ. D. Những cái cầu khác. 1. Huần luyện tại bổn xứ (huấn luyện cấp quốc gia để họ có thể truyền giáo và môn đệ hóa những văn hóa riêng của chính họ. a. Đây là nhịp cầu mang lại hiêu quả lâu dài nhất! Người ấy đã biết văn hóa và nghi thức tôn giáo. (1) Học viên nên được huấn luyện tại địa điểm của mình nếu được. (2) Học viên nên được đào tạo bằng chính ngôn ngữ của họ nếu được. + Ngôn ngữ đi rất nhanh vào tấm lòng. + Ngôn ngữ Hồi giáo (Á-rập) có vài chữ gốc phải học hỏi và sử dụng đặc biệt. 2. Đơn vị gia đình như là nhịp cầu. a. Trong nền văn hóa Hồi giáo gia đình rất mạnh và rất ảnh hưởng. Tôn giáo áp dụng một cách thực tế uy quyền của nó trên từng thành viên trong gia đình. Gia đình và tôn giáo hổ trợ lẫn nhau như đóng góp của xã hội Á-rập. b. Trong quá khứ công tác truyền giảng không thành công vì họ chỉ tập trung vào cá nhân. Ảnh hưởng chắc chắn của gia đình có thể dùng như một nhịp cầu. c. Một cách văn chương, một cá thể chỉ tham gia trong những nhóm lớn qua những liên hệ xã hội của gia đình của người ấy. Nên, hãy thực hiện truyền giảng cho trọn gia đình. Hồi giáo thường đến với Chúa trong hình thức những đơn vị gia đình. 3. Nhịp cầu tiếp đãi. a. Trong nền văn hóa Hồi giáo, sự tiếp đãi cực kỳ quan trọng. Nó là một đức tính được tôn kính cao. (1) Đây là một nhịp cầu rất tự nhiên đối với Cơ-đốc giáo. (2) Tân ước nhấn mạnh sự tiếp khách như là một đức tính thuộc Cơ-đốc (RoRm 12:13, ITi1Tm 3:2, Tit Tt 1:8, IPhi 1Pr 4:9 ). (3) Đi thăm viếng và được viếng thăm có thể đưa đến tình hữu nghị và dẫn đến nhiều dịp để chia xẽ về đức tin. 4. "Sự Làm Chứng" như là nhịp cầu. a. Như chúng ta học, một trong những áp dụng chính của niềm tin Hồi giáo là điều chi gọi là làm chứng. Hồi giáo sẽ lập lại với lý lẽ, "Tôi làm chứng rằng không có Đức Chúa Trời nhưng là Allah, và đó là Muhamad là sứ giả của Allah." (1) Trong áp dụng này không có nguyên tắc để thay đổi trong cuộc sống đạo đức của người đó. (2) Nên sự làm chứng của Cơ-đốc nhân phải nhấn mạnh sự thay đổi trong đời sống tâm linh có giá trị trong Đấng Christ. Sự làm chứng của ta là chúng ta được tái sanh. Chúng ta là tạo vật mới (GiGa 3:3, IICo 2Cr 5:17 ). (3) Cái cầu ấy chính là cuộc sống của chúng ta sẽ bày tỏ hầu cho tư duy của Hồi giáo cho rằng không có khả năng thay đổi, bởi chính Chúa thay đổi. Chẳng bao lâu người ấy khám phá rằng những gì người ấy thiếu là những gì Chúa đáp ứng. E. Hằng loạt nhu cầu như là những nhịp cầu (đặc biệt dân tộc Hồi ). 1. Tim đen - sự thông công với Đức Chúa Trời. a. Đạo Hồi tuyên bố, "Bất cứ gì mà tâm trí bạn có thể suy nghĩ đến, Đức Chúa Trời không có như thế." b. Tuy thế mà, mỗi người có một nhu cầu ấy là hiểu biết Đức Chúa Trời. (1) Thí dụ: dân gian Hồi (một dạng bình dân của Đạo Hồi, huyền bí hơn) đã tập để tiếp xúc với Đức Chúa Trời bằng cách lặp đi lặp lại "Trời ơi" 20.000 trong khoảng thời gian 3 ngày. (2) Chúng ta phải dùng sự nhiệt thành để hướng dẫn người ấy vào sự thông công với Đức Chúa Trời. Nắm bắt được tim đen của người ấy là nhịp cầu. Chúa Giê-xu chờ đợi phía bên kia để cung ứng cho nhu cầu này. 2. Tim đen - sợ hãi những điều mà không hiểu biết. a. Nhiều người Hồi giáo (đặc biệt giới bình dân Hồi) có nổi sợ hãi vu vơ. (1) Thí dụ, một người Hồi có một nổi lo sợ lớn lao về tương lai. (a) Trả lời của họ cho điều sợ hải này là thờ lạy thiên binh, bói khoa, và chủ nghĩa thiên định. (b) Hãy truyền giảng cho người Hồi qua việc trình bày sự thông công mật thiết trong Đấng Christ. Trong Đấng Christ nơi mà tương lai đã hiện hữu rồi (Eph Ep 2:10 ). Cho nên, ở trong Đấng Christ là không có sợ hãi tương lai nữa. (Cũng trưng dẫn HeDt 2:15 với Phi Pl 1:21, RoRm 6:6-11, IGi1Ga IGi5:13 ). a. Chúng ta phải trình bày cho người hạt giống thế nào để định hướng sự thông công thực sự riêng tư với Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu là Đấng hướng dẫn; Ngài là Đấng Bảo vệ, Ngài cung ứng sự an toàn đặc biệt. Điều nầy sẽ thay thế nỗi sợ hãic3 họ. (1) Giải luận về sự đánh trúng tim đen bằng sự nhơn từ hầu cho xây dựng nhịp cầu dẫn đến sự chữa lành. (2) Chúa Giê-xu là sự chữa lành. Tim đen... nhu cầu để có cộng đồng. b. Nhịp cầu = Cơ-đốc nhân quan niệm về gia đình của Đức Chúa Trời và những thành viên trong một gia đình của Đức Chúa Trời. 4. Tim đen - nhu cầu về tránh khỏi những cái nhìn ác độc và những ác linh. a. Nhịp cầu bằng quyền uy của Chúa Giê-xu trên Ma-thi-ơ quỉ. 5. Tim đen - nhu cầu thoát khỏi bệnh tật. a. Nhịp cầu - quyền năng chữa bệnh của Chúa Giê-xu. 6. Tim đen - nhu cầu về một đấng trung bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người. a. Nhịp cầu - Chúa Giê-xu! (ITi1Tm 2:5 ). 7. Truyền giáo qua việc đánh đúng tim đen cần nhiều thời gian. Kiên nhẫn là chủ yếu. Chúng ta phải kiên nhẫn để xây dựng cây cầu. Bấy giờ chúng đi ngang qua đó. Nếu chúng ta không nhẫn nại chúng ta có thể cố để bơi ngang qua. Đôi lúc chúng ta thành công. Nhưng nhiều lúc chúng ta bị lôi kéo trong những lượn nước cuồng nộ mà chỉ có một cây cầu xây cất kiên cố bắt ngang qua mới giải quyết được. Đánh trúng tim đen cần nhiều thời giờ hơn nhưng nó có vài ưu điểm: a. Sứ điệp được giới thiệu từ từ. b. Tránh tranh biện. c. Cơ-đốc giáo thích hợp và thực tế hơn. IV. TÓM TẮT A. Cây cầu không phải là mục đích cuối cùng. Không ai xây dựng cây cầu và tức thì rời khỏi nó tại đó. Những cây cầu được xây dựng lên để đi qua. 1. Tim đen được phát giác để nhận thức được nhu cầu vĩnh cửu. 2. Những cây cầu thuộc về tôn giáo và thần học được xây cất hầu cho sự thông hiểu thuộc về tôn giáo và thần học chân chính được giới thiệu. B. Có lẽ Cây Cầu Quan Trọng Nhất mà cần xây cất là lưu ý sự tri giác của chính chúng ta để hiểu Người Hồi giáo là ai. 1. Khi chúng thôi nghĩ rằng họ là độc ác, những tên sát nhân tàn nhẫn, và bắt đầu nhìn họ như những kẻ hư mất tìm kiếm Chúa, bấy giờ... 2. Khi chúng thôi suy nghĩ họ thuần túy là Hồi giáo, và bắt đầu nhìn họ như là cùng đồng loại với nhau, giống như chúng ta cần một Đấng Cứu Thế, bấy giờ... Lúc ấy chúng ta thấy họ như Chúa Giê-xu thấy họ và chúng ta có thể dẫn họ đến với Ngài!
Yêu thích Theo dõi Chia sẻ Bộ sưu tập
Trả lời

Dùng đạo cụ Báo cáo

Trở lại danh sách Đăng bài

Phòng tối|Nơi học Kinh thánh, ngợi khen - thờ phượng Chúa Mail: [email protected].

GMT+8, 19-2-2026 11:27 PM

nguonsusong.com - Tin lành

Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách

Từ khóa » Truyền Bá Phúc âm