Cấp Thiết Quy Hoạch điện VIII - Báo Nhân Dân

Có thể nói, việc lập Quy hoạch điện VIII chịu thách thức lớn nhất từ trước đến nay, nhất là khi soi chiếu vào mục tiêu phải bảo đảm an ninh cung ứng điện, cơ bản đáp ứng đủ điện cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng ngày càng được cải thiện. Vấn đề gây nhiều tranh cãi, tốn không ít giấy mực chính là cơ cấu nguồn như thế nào cho phù hợp?

Quốc hội quyết định dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận vào tháng 11/2016, sau bảy năm thông qua chủ trương đầu tư. Phối cảnh dự án điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Ảnh: Vĩnh Thúy

Quốc hội quyết định dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận vào tháng 11/2016, sau bảy năm thông qua chủ trương đầu tư. Phối cảnh dự án điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Ảnh: Vĩnh Thúy

Công tác quy hoạch phát triển điện lực được quan tâm ngay từ những năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Từ năm 1971, ngành điện đã xây dựng đề án sơ đồ lưới điện. Đến năm 1980, bắt đầu xây dựng Tổng sơ đồ phát triển điện lực quốc gia. Kể từ đó đến nay, ngành điện đã xây dựng bảy Quy hoạch điện quốc gia gắn với kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Để phù hợp thực tế, Chính phủ đã hai lần điều chỉnh quy hoạch là quy hoạch giai đoạn V và giai đoạn VII. Việc thực hiện bảy Quy hoạch điện đã đem lại cho ngành điện một hệ thống cơ sở hạ tầng điện lực phát triển nhanh, đồng bộ và hiện đại trong các khâu sản xuất - truyền tải - phân phối và dịch vụ phụ trợ.

Tỷ lệ nhiệt điện than, thủy điện giảm mạnh

Những biến động trong giai đoạn thực hiện Quy hoạch điện VII và Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) với việc dừng thực hiện nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận; rồi việc bùng nổ đầu tư các dự án điện mặt trời, điện gió trong khi việc xây dựng các nhà máy nhiệt điện lại chậm trễ và khó khăn; nguồn năng lượng sơ cấp dần cạn kiệt và khả năng cung cấp hạn chế, dẫn đến việc sớm phải nhập khẩu nhiên liệu… đang tạo nên sức ép rất lớn đến nguồn cung điện, nhất là khi nhu cầu điện đã được nhìn thấy trước là sẽ tăng cao.

Trong bối cảnh ấy, Quy hoạch điện VIII đã tập trung vào tính toán, phân tích, đánh giá và xác định, dự kiến tới năm 2030, tổng công suất đặt nguồn điện của Việt Nam đạt 130.371-143.839 MW, trong đó, nhiệt điện than chiếm 28,3% - 31,2%, nhiệt điện khí (tính cả LNG) chiếm 21,1% - 22,3%; thủy điện lớn, vừa và thủy điện tích năng chiếm 17,73%-19,5%; nguồn điện năng lượng tái tạo (điện gió, mặt trời, điện sinh khối…) chiếm 24,3%-25,7%, nhập khẩu điện chiếm 3 - 4%.

Your browser does not support this video

Cơ cấu tỷ lệ nhiện điện than phù hợp với thực tiễn. Video clip: Truyền hình Nhân Dân - Nhân Dân cuối tuần

Cơ cấu tỷ lệ nhiện điện than phù hợp với thực tiễn. Video clip: Truyền hình Nhân Dân - Nhân Dân cuối tuần

Đến năm 2045 tổng công suất đặt của nguồn điện đạt gần 261.951MW – 329.610MW, trong đó, nhiệt điện than chiếm 15,4% - 19,4%; nhiệt điện khí (tính cả LNG) chiếm 20,6% - 21,2%; thủy điện lớn, vừa và thủy điện tích năng chiếm 9,1% - 11,1%; nguồn điện năng lượng tái tạo (thủy điện nhỏ, điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối…) chiếm 26,5% - 28,4%; nhập khẩu khoảng 3,1%. Tỷ lệ nhiệt điện than giảm mạnh từ 29% năm 2020 xuống còn khoảng 15% - 19% vào năm 2045. Đây là sự khác biệt giữa Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) và Quy hoạch điện VIII, phù hợp điều kiện phát triển kinh tế của nước ta và phù hợp xu thế phát triển năng lượng của thế giới.

Nhà máy thủy điện Hòa Bình mở rộng thêm hai tổ máy với tổng công suất 480 MW. Ảnh: EVN

Nhà máy thủy điện Hòa Bình mở rộng thêm hai tổ máy với tổng công suất 480 MW. Ảnh: EVN

Thủy điện vốn là nguồn năng lượng tái tạo, có điều kiện vận hành linh hoạt, phù hợp chế độ phủ đỉnh biểu đồ phụ tải, nhất là trong cơ cấu hệ thống nguồn điện, ngày càng gia tăng điện mặt trời và điện gió. Tuy nhiên, lý do tỷ lệ nguồn thủy điện giảm dần vì tiềm năng thủy điện lớn của nước ta cơ bản đã khai thác và đưa vào vận hành. Khả năng khai thác các công trình thủy điện còn lại hầu hết đã được nghiên cứu đầu tư và đang trong giai đoạn chuẩn bị xây dựng, hoặc đang xây dựng...

Theo rà soát tiến độ thực hiện của các dự án thủy điện giai đoạn 2020 - 2025, hệ thống có thể bổ sung khoảng 1.840 MW thủy điện vừa và lớn (gồm cả các dự án mở rộng, như: Hòa Bình mở rộng thêm hai tổ máy với tổng công suất 480 MW, Yaly mở rộng thêm hai tổ máy với tổng công suất 360 MW và Trị An mở rộng thêm hai tổ máy với tổng công suất 200 MW). Các dự án thủy điện nhỏ có khả năng phát triển thêm khoảng 2.700 MW trong giai đoạn từ nay đến năm 2030. Do đó, theo dự báo đến năm 2045, tỷ lệ thủy điện chỉ còn chiếm 9% trong cơ cấu nguồn của hệ thống điện nước ta.

Từ khóa » Bộ Công Thương Trình Quy Hoạch điện 8