Cây Giống Bạch Hạc Trị Nấm

Ảnh tham khảo

Bạch Hạc 1 Chứng

Ảnh chụp Rhinacanthus nasutus tại Thảo Cầm Viên Hồng Kông. Nguồn: Wikipedia Commons.

Bạch Hạc 2 Chứng

Hoa kiến cò (Rhinacanthus nasutus) ở làng Rombo, đông bắc đảo Buton, Đông Nam Sulawesi, Indonesia. Nguồn: Wikipedia Commons.

Bạch Hạc 3 Chứng

Nhánh hoa bạch hạc được chụp tại rừng đặc dụng Kannavam. Nguồn: Wikipedia Commons.

Ảnh chất lượng cao

Bạch Hạc Số 1Bạch Hạc Số 2Bạch Hạc Số 3Bạch Hạc Số 4Bạch Hạc Số 5Bạch Hạc Số 6Bạch Hạc Số 7Bạch Hạc Số 8Bạch Hạc Số 9Bạch Hạc 10Bạch Hạc 11Bạch Hạc 12

Độ hoàn thiện nội dung: 70%.

Kiến cò hay bạch hạc, cây lác, thuốc lá nhỏ lá, nam uy linh tiên, tên tiếng Anh là snake jasmine (danh pháp khoa học là Rhinacanthus nasutus (L.) Kurz) là một cây thuộc họ Ô rô Acanthaceae.

Mô tả cây bạch hạc

Cây bạch hạc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):

Cây nhỡ cao 1,5m, thân mọc thẳng đứng, có nhiều cành, lá mọc đối có cuống, phiến lá hình trứng thuôn dài, phía cuống tù, đầu nhọn, dài 2 –  9cm, rộng 1 – 3cm, mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông mịn. Hoa nhỏ, màu trắng hơi điểm hồng mọc thành xim nhiều hoa có cuống, ở đầu cành hay đầu thân. Quả nang, phía dưới dẹt không chứa hạt, phía trên chứa 4 hạt. có khi chỉ có 2 hạt. Hạt hình trứng hai mặt lồi.

Cây bạch hạc – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):

Cây nhỏ, mọc thành bụi, cao 1 – 2m, có rễ chùm, mảnh. Thân lúc non có lông mịn, sau nhẵn. Lá mọc đối, hình bầu dục thuôn hay hình mác, gốc thuôn, đầu nhọn, cuống rất ngắn.

Cụm hoa mọc thành xim hoặc chùy ở kẽ lá; lá bắc hình chỉ, có lông; hoa màu trắng, nom như con hạc đang bay, đài hình chuông gồm 5 phiến đều nhau, có lông nhỏ; tràng có ống hẹp dài, xẻ hai môi khác nhau rõ rệt, môi trên hình mác, môi dưới khía 3 thuỳ; nhị 2, bao phần tù, không có nhị lép. Quá nang, dài, có lông, hình đinh, không chứa hạt. Mùa hoa quả: tháng 1 – 5.

Bạch Hạc 13
Bạch hạc

Thông tin thêm

1. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây bạch hạc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):

Cây bạch hạc mọc hoang ở nhiều tỉnh miền Bắc nước ta. Còn thấy mọc ở Ấn Độ, Malaysia, đông Châu Phi. Có khi được trồng làm cảnh.

Người ta thường dùng rễ cây, dùng tươi hay khô làm thuốc. Rễ tươi mới đào bẻ đôi để một lúc lâu sẽ có màu đỏ. Lớp vỏ ngoài dễ bong ra. Mùi hắc nhẹ, vị ngọt tựa mùi sắn rừng.

Mùa hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa đông. Đôi khi người ta chỉ dùng vỏ rễ. Có khi dùng cả lá.

Cây bạch hạc – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):

Rhinacanthus Nees là một chi nhỏ thuộc họ Acanthaceae. Bạch hạc là cây gặp phổ biến ở châu Á. Bạch hạc có nguồn gốc ở vùng Nam Á (Ấn Độ, Sri Lanka) hoặc Đông Dương, được nhập trồng sang nhiều nơi khác và sau trở nên hoang dại hóa ở Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, đảo Java, một số nước nhiệt đới châu Phi và đảo Madagascar. Ở Việt Nam, hiện chỉ thấy bạch hạc trong trạng thái trồng trọt, ít thấy mọc hoang. Cây thường được trồng ở vườn, sau hạt giống vương vãi ra, có thể tận dụng làm bờ rào.

Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, thường rụng lá về mùa đông, hoặc có thể bị tàn lụi, nếu gặp sương muối. Bạch hạc có khả năng tái sinh dinh dưỡng khỏe, nên thường được trồng bằng cành.

Là một cây trồng, nhưng ít phổ biến nên cũng phải chú ý bảo vệ, với mục đích bảo tồn nguồn gen ở Việt Nam.

2. Thành phần hóa học

Cây bạch hạc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):

Từ năm 1881, Liborius đã nghiên cứu thấy trong rễ cây này có 1,87% chất gần giống acid chrysophanic và acid frangulic. Tác giả cho đó là hoạt chất của cây và gọi là rhinacanthin C14H18O4 (theo Pharm. Zeitcho. fur Russl.). Đây là một chất màu đỏ anh đào, không mùi, không vị, tan trong cồn và dung dịch kiềm. Khi đun sôi với acid clohydric không cho glucose.

Cây bạch hạc – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):

Bạch hạc chứa flavonoid, hợp chất phenol, acid amin, acid hữu cơ, tanin.

Rễ chứa 1,87% một chất gọi là rhinacanthin với cấu trúc hóa học chưa được xác định (Liborius, 1881).

Wu Tian Shung và cs (1988) đã chứng minh rễ chứa 2 naphthoquinone là rhinacanthin A và B và một số hợp chất khác lupeol; β-sitosterol; stigmasterol; β-sitosterol glucoside và stigmasterol glucoside.

Rhinacanthin B có tác dụng độc với tế bào (ED50 = 3 µg/ml) trên tế hào KB nuôi cấy.

Hồ Đắc Ân và cs (1979), sơ bộ chứng minh hoa chứa flavonoid, lá chứa kali nitrat, acid chrysophanic, anthocyanin, alkaloid.

Chất 3,4-dihydro-3,3-dimethyl-2H-naphtho[2,3- b]pyran-5,10-dione chiết xuất từ bạch hạc cũng được chứng minh là kháng nấm (Kodama Osamu và cs, 1993).

Wu Tian Shung và cs, 1995 đã chiết tách được từ lá nhiều chất thuộc nhiều nhóm hóa học khác nhau:

– Triterpene: β-amyrin, glutinol và lupeol.

– Steroid: Một hỗn hợp stigmasterol và sitosterol; một hỗn hợp stigma-4-en-3-on và stigmasta-4,22-dien-3-on; một hỗn hợp stigmast-22-en-3-on và stigmastan-3-on; một hỗn hợp 6β-hydrostigmasta-4,22-dien-3-on và 6β-hydroxystigmast-4-en-3-on.

– Benzenoid: 2-methoxy-4-propionylphenol và một hỗn hợp acid syringic và acid vanillic.

– Chất coumarin: Umbelliferone.

– Anthraquinone: 2-methylanthraquinone.

– Quinone: 2,6-dimethoxybenzoquinone.

– Quinol: 4-acetonyl-3,5-dimethoxy-p-quinol.

– Glycoside: Một hỗn hợp sitosterol β-D-glucopyranoside và stigmasterol-β-D-glucopyranoside; 3,4-dimethoxyphenol-β-D-glucopyranoside và 3,4,5-trimethoxyphenol-β-D-glucopyranoside

– Carbohydrate: Methyl-α-D-galactopyranoside.

Bạch Hạc 14
Bạch hạc

3. Tác dụng dược lý

Cây bạch hạc – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):

Cao cồn toàn cây bạch hạc bỏ rễ có tác dụng kháng khuẩn trên Staphylococcus aureus, tác dụng diệt ve khá mạnh (ve chết đến 71 – 81%). Cao toàn cây bỏ rễ chiết bằng chloroform hoặc cồn có tác dụng kháng nấm trên Epidermophyton floccosum, Microsporum gypseum và Trichophyton rubrum.

Cao nước có tác dụng chống alkyl hoá, có thể phối hợp với các thuốc chữa ung thư loại alkyl hoá.

Các naphthoquinone rhinacanthin A và B chiết từ rễ có tác dụng độc với tế bào dòng KB (kenacid blue) với LD50 = 3 µg/ml. Rhinacanthin C và D chiết từ cây bỏ rễ có tác dụng ức chế mạnh in vitro trên các chủng virus cự bào (cytomegalovirus) của người, với ED50 = 0,22 µg/ml và ở chuột với ED50 = 0,22 µg/ml. Các rhinacanthin D, H, K, M, Q cũng có tác dụng độc với tế bào và ức chế sự kết tập tiểu cầu thỏ. Hai lignan là rhinacanthin E và F chiết từ cây bỏ rễ có tác dụng chống virus khá trên virus cúm type A.

Chiết cao bằng methanol từ lá và thân được một naphthoquinone có tác dụng chống nấm với ED50 = 0,4 phần triệu trên nấm Pyricularia oryzae và ức chế 82% ở 100 phần triệu.

Ở Việt Nam, thử tác dụng trên huyết áp của chó, thấy cao lỏng 1:1 liều 2 – 4 g/kg làm hạ huyết áp từ từ. Sau 30 phút hạ 18 – 21%, và kéo dài đến 120 phút.

Trên huyết áp, có tác dụng đối kháng với adrenaline, nicotine, và làm giãn mạch tai thỏ cô lập.

Năm 1995, Bộ môn Y học dân tộc Trường đại học Y Hà Nội đã thử lâm sàng, dùng lá bạch hạc tươi 40 – 50g giã nát, vắt lấy nước cho bệnh nhân uống. Sau 15 phút, huyết áp hạ trung bình 30,8% so với ban đầu.

Công dụng của bạch hạc

Vị ngọt dịu, mùi hắc nhẹ, tính bình, có tác dụng chống ho, sát trùng, chống ngứa, trừ phong thấp.

Dùng ngoài chữa hắc lào, chốc lở, ngứa, herpes loang vòng, eczema mạn tính. Dùng trong chữa ho, lao phổi, sơ nhiễm, viêm phế quản cấp và mạn, phong thấp, tê bại, huyết áp cao. Ngày 10 – 20g sắc uống. Ở Ấn Độ, còn dùng chữa ung thư, nấm da. Rễ để kích dục, lá chống giun sán, ký sinh trùng.

Bài thuốc có bạch hạc:

Chữa phong tê thấp, nhức gân xương, viêm khớp với tên là nam uy linh tiên: Rễ bạch hạc, thiên niên kiện, thổ phục linh, tỳ giải, cỏ xước, cẩu tích, cốt toái bổ, mỗi vị 10 – 15g. Sắc uống.

Eczema, hắc lào, herpes, chốc lở, ngứa:

  • Lá và cành non tươi giã nát. Thêm cồn 70o ngâm, lấy nước bôi.
  • Rễ tươi hoặc khô, giã nát, ngâm rượu hoặc giấm 7 – 10 ngày, lấy nước bôi.

Chữa lao phổi sơ nhiễm, viêm phế quản, ho: Thân và lá 20g, sắc, thêm đường uống.

Cách trồng bạch hạc

Cây bạch hạc – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):

Bạch hạc không kén đất, không chịu úng, có khả năng chịu hạn, tính chống chịu cao.

Bạch hạc thường được trồng bằng mầm. Khi tách mầm từ gốc cây mẹ, không để đứt rễ và có thể trồng quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa xuân. Việc gieo trồng bạch hạc bằng hạt không phổ biến.

Đất trồng được cày bừa, lên thành luống rộng 60 – 70cm để trồng một hàng với khoảng cách cây cách cây 1m, hoặc không lên luống và trồng theo vạt với khoảng cách 1 x 1m. Mỗi hốc bón lót 3 – 5kg phân chuồng hoai mục. Hàng năm, cần làm cỏ, xới xáo vài ba lần.

Bạch hạc còn có thể trồng trong chậu, vừa làm cảnh, vừa thu hái dược liệu.

Rễ thu hái quanh năm, tốt nhất vào thu đông, dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô. Rễ hình trụ, không phân nhánh, dài 13 – 20cm, mặt ngoài màu nâu có nhiều rãnh dọc. Bỏ lớp vỏ rễ, sẽ lộ lõi gỗ trắng nhỏ. Dễ bẻ gãy, mặt bẻ phẳng.

Lá cũng được dùng làm thuốc.

Địa chỉ bán bạch hạc tại Hà Nội uy tín ?

Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.

  • Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống cây kiến cò phù hợp.
  • Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
  • Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
  • Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.

Từ khóa » Cây Bạch Hạc Giống