CHẬM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ - An Nhơn - Bình Định

Chậm phát triển ngôn ngữ

I. ĐẠI CƯƠNG – Chậm phát triển ngôn ngữ là một rối lọn trong quá trình xử lý và vận dụng ngôn ngữ của trẻ. – Trẻ chậm phát triển ngôn ngữ có vốn từ nghèo nàn hơn các bạn cùng trang lứa, ít có khả năng biểu đạt bằng lời và ít quan tâm hay không hiểu hết được lời nói của những người khác như ông – bà, cha – mẹ, anh – chị – em, bạn bè … – Có rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới quá trình phát triển lời nói và ngôn ngữ của trẻ. Đó có thể là một bệnh lý thực thể cản trở bé phát âm đúng các từ, đó cũng có thể là rối loạn trong quá trình xử lý ngôn ngữ, khi cơ thể không có khả năng chuyển tải một cách hiệu quả thông điệp giữa não và phần cơ thể phụ trách lời nói.

Chậm phát triển ngôn ngữ

Chậm phát triển ngôn ngữ

II. NGUYÊN NHÂN – Các yếu tố sau đây có thể góp phần gây ra sự chậm trễ trong phát triển kỹ năng nói hoặc hiểu ngôn ngữ của trẻ. 2.1. Bệnh lý thực thể – Hở hàm ếch là một bệnh lý của miệng và vòm họng có thể ảnh hưởng tới việc phát am của trẻ. – Thắng lưỡi (phanh lưỡi) ngắn bất thường, làm hạn chế cử động của đầu lưỡi, cũng có thể ảnh hưởng tới khả năng phát âm của trẻ. – Bệnh thường được bác sĩ nhi khoa phát hiện trước khi trẻ bắt đầu nói, nhưng đôi khi cũng bị bỏ sót và chỉ được chẩn đoán khi trẻ có biểu hiện chậm nói. – Bệnh lý thần kinh như bại não, loạn dưỡng cơ, chấn thương não có thể ảnh hưởng tới các cơ cần thiết cho việc nói. 2.2. Bệnh lý vận động miệng, rối loạn xử lý âm thanh, – Nhiều trẻ chậm nói gặp rắc rối tại các vùng não chịu trách nhiệm về nói, ví dụ bệnh loạn vận ngôn (mất phối hợp động tác trong việc nói). – Lúc này, trẻ không kiểm soát được các cơ và phần cơ thể dùng để nói. Chẳng hạn môi, lưỡi hoặc hàm không thực hiện công việc bình thường để tạo một số từ nhất định. – Rối loạn xử lý âm thanh là tình trạng mất khả năng hiểu âm thanh của lời nói. Trẻ thuộc nhóm này có thể điều trị tốt bằng âm ngữ trị liệu. 2.3. Chậm phát triển nói chung – Chậm nói có thể liên quan tới các chậm phát triển khác. Mỗi trẻ sẽ có tốc độ phát triển riêng nhưng cần trao đổi với bác sĩ nếu bắt đầu nhận thấy các kỹ năng khác của trẻ cũng phát triển chậm hơn bình thường. – chú ý nếu phát triển vận động và nhận thức của trẻ không theo kịp độ tuổi. – Chậm nói liên quan tới chậm phát triển có thể bao gồm nói rất ít (hoặc hoàn toàn không nói), có vẻ không hiểu những gì người khác nói, nhại lại lời người khác hoặc nói không biểu cảm, không ngữ điệu. 2.4. Khuyết tật trí tuệ, bệnh khó học, bệnh tự kỷ – Khuyết tật trí tuệ là nguyên nhân thường gặp gây chậm phát triển lời nói và ngôn ngữ. – Trong bệnh khó học, do não hoạt động không hiệu quả, trẻ có thể gặp khó khăn trong việc phát ra âm thanh lời nói, sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp, hiểu điều người khác nói. Rối loại lời nói và ngôn ngữ thường là dấu hiệu sớm nhất của trẻ khó học. – Bệnh tự kỷ làm ảnh hưởng tới khả năng giao tiếp. Rối loạn lời nói và ngôn ngữ thường là biểu hiện sớm của bệnh tự kỷ. 2.5. Bệnh lý về thính giác, nhiễm trùng tai – Bệnh lý về thính giác cũng khá phổ biến ở trẻ chậm nói, vì vậy trẻ cần được kiểm tra thính lực khi có lo ngại về khả năng nói. – Trẻ mất thính lực gặp khó khăn trong hiểu ngôn ngữ của người xung quanh cũng như giọng nói của chính mình. – Khả năng hiểu và nắm bắt các từ của trẻ thường thấp, trẻ không thể bắt chước các từ và nói đúng hoặc nói trôi chảy. – Không ít trẻ mắc nhiều đợt viêm tai trước khi được 3 tuổi. Bệnh nhiễm trùng tai nếu được điều trị kịp thời và không gây rắc rối sẽ không làm tăng nguy cơ chậm nói. – Tuy nhiên, viêm tai giữa mạn tính có thể ảnh hưởng tới ngôn ngữ. Nếu bệnh tồn tại dai dẳng, không đáp ứng với điều trị và thường xuyên tái phát thì cần đưa trẻ đi khám chuyên khoa tai mũi họng. 2.6. Yếu tố môi trường, trẻ sinh non – Trẻ không được quan tâm và không được nghe những người khác nói sẽ không thể học nói. – Sinh non có thể dẫn tới nhiều dạng chậm phát triển, trong đó có chậm phát triển ngôn ngữ.

Chậm phát triển ngôn ngữ

Chậm phát triển ngôn ngữ

III. DẤU HIỆU NHẬN BIẾT THEO LỨA TUỔI – Trẻ từ 3 – 4 tháng: + Không phát ra âm thanh gừ gừ khi chơi, nói chuyện với người khác. + Khi 4 tháng, trẻ biết gừ gừ nhưng không biết bắt chước các âm thanh. + Không phản ứng với tiếng động. – Trẻ 7 tháng: Không đáp ứng với tiếng động. – Trẻ 12 tháng: + Không giao tiếp với người khác bằng cách sử dụng âm thanh, lời nói hay cử chỉ, kể cả khi cần giúp đỡ hay mong muốn điều gì đó. + Không biết nói từ đơn như bà, bố, ba hoặc phát ra các phụ âm p/b. + Không biết vẫy tay tạm biệt, lắc đầu, chỉ tay. + Không phản ứng khi được gọi tên, chào, tạm biệt. + Không quan tâm đến mọi thứ xung quanh. – Trẻ 15 tháng: + Không hiểu và phản ứng với các từ như “không”, “tạm biệt” … + Không nói được từ nào. + Không chỉ vào đồ vật khi được hỏi. + Không có biểu hiện nhờ, mong muốn người khác đáp ứng như là chỉ hoặc nhìn vào đồ bé thích và nhìn mẹ/bố … – Trẻ 18 tháng: + Không thể chỉ vào vài bộ phận của cơ thể hoặc đồ vật khi được yêu cầu. + Chưa nói được 6 từ, gồm các từ đơn giản như “mẹ”, “bế”, “bố” … + Không biết chỉ vào đồ mình muốn hoặc thể hiện sự cần giúp đỡ với người khác. + Không hiểu các câu dạng mệnh lệnh như “không được chạy!” hoặc câu hỏi như “cái gì đây?, “mũ con đâu?”… + Trẻ từ 19 – 24 tháng: + Vốn từ mới không đạt 1 từ/tuần, tổng số từ nói được chưa được 15 từ. + Không tự nói ra lời – thể hiện sự suy nghĩ của bé mà chỉ nhại lại lời nói của người khác. + Không thực hiện được những cuộc hội thoại đơn giản với các câu gồm 2 từ ví dụ “chào con”, “mẹ bế”, “tạm biệt” … + Không thể hiểu và trả lời các câu hỏi đơn giản như “con ăn nữa không?” “mẹ đi đâu rồi”… + Không biết tự chơi một mình, tự nói chuyện một mình, không biết bắt chước hành động, lời nói của người khác. + Không chỉ đúng đồ vật được gọi tên, không biết các vật dụng đơn giản trong nhà (bát, đũa, lược, bàn chải) dùng để làm gì. Lưu ý: Ở độ tuổi này, khoảng 1/5 trẻ em có thể có dấu hiệu chậm nói nhưng sau đó nhiều trẻ lại theo kịp các bạn. Từ 25 – 35 tháng: + Không nói được câu có 2 – 4 từ, không kể được tên các bộ phận trên cơ thể, không biết đặt các câu đơn giản hay nói những câu được lặp đi lặp lại nhiều lần. + Không thể giao tiếp với ai trong nhà. Trẻ 3 tuổi: + Không sử dụng các đại từ nhân xưng như con, mẹ, bố, bà … + Không nói, không hiểu, không trả lời được các câu ngắn như: Con muốn ăn nữa, con muốn ăn gì, treo mũ lên… + Trẻ có thể nói nhưng lời nói rất không rõ ràng, nói lắp bắp, khiến không ai có thể hiểu. + Trẻ không đặt câu hỏi, không quan tâm đến mọi thứ xung quanh, không tương tác với trẻ khác. + Trẻ bám bố mẹ. – Trẻ 4 tuổi: + Trẻ chưa thể phát âm thành thục phần lớn các phụ âm. + Chưa phân biệt được “giống nhau” và “khác nhau”. + Không biết sử dụng đại từ “con” và “mẹ” đúng cách. – Trên đây là một số những tiêu chí để cha mẹ có thể tham chiếu tình trạng chậm nói của con mình. Những bất thường về âm thanh, ngôn ngữ cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời để cả thiện khả năng giao tiếp của trẻ. – Nếu bé có những biểu trên, bố mẹ cần kiểm tra khả năng lắng nghe của con. Nếu bé vẫn nghe tốt thì cần đưa bé đi khám chuyên khoa về sự phát triển nghôn ngữ của bé. Nếu trẻ bị mất một số kỹ năng mà trước đó bé học được, bố mẹ cũng phải thông báo với bác sĩ. – Nếu trẻ có các biểu hiện nêu trên, việc đầu tiên cha mẹ cần làm là kiểm tra khả năng nghe của con. Kể cả nếu bé có vẻ vẫn nghe tốt cũng không nên chủ quan vì trẻ em rất giỏi đoán biết dựa vào hình ảnh và cử chỉ. Khiếm khuyết về nghe cần được phát hiện sớm để can thiệp kịp thời.

IV. HỖ TRỢ TRẺ CHẬM NÓI 4.1. Diễn tả thành lời những việc bạn làm: Điều này đòi hỏi rất nhiều sự kiên nhẫn của cha mẹ và người chăm sóc trẻ. Việc giải thích cho bé bạn đang làm gì sẽ giúp con mở rộng vốn từ và gắn kết các từ với đồ vật, sự vật trong cuộc sống. 4.2. Những cuộc dạo chơi “gây quỹ từ mới”: – Đưa bé đi dạo quanh khu nhà của bạn là cách rất tốt giúp bé làm quen với từ mới. Những cuộc thám hiểm vừa thú vị vừa quen thuộc kiểu này khiến trẻ đủ hào hứng nhưng không quá sợ sệt để có thể học từ mới. – Hãy cho bé đuổi theo chú chuồn chuồn hay ngồi quan sát các anh chị hàng xóm chơi đùa và nói với bé về tất cả những gì bạn nhìn thấy. 4.3. Cùng con đọc sách: Sách là liều thuốc thần kỳ. Khi ôm bé trong lòng, cầm trên tay cuốn truyện tranh, đọc cho con những vần thơ ngộ nghĩnh, bạn sẽ giúp bé làm quen với các từ mới, những vần điệu mới, để bé hiểu rõ hơn về cách mà mọi người nói. Hãy tạo thói quen đọc sách cho con hàng ngày, mỗi khi bạn rảnh rỗi. 4.4. Diễn tả thành lời những trải nghiệm mới: – Những chuyến du ngoạn tới công viên, về thăm quê hay các trò chơi mới đều là những hoạt động thú vị, mang cho bé cơ hội trải nghiệm mới. Hãy dùng các từ mới để tả cho bé nghe về các trải nghiệm này. – Bên cạnh đó, cũng nên cho con cơ hội nói về những gì bé nhìn thấy và cảm nhận, chẳng hạn bé nghĩ gì về chú khỉ vui nhộn ở công viên, chú gà con xinh xắn ở sân nhà bà ngoại hay những điều kỳ diệu khác mà bé đã gặp. 4.5. Hát cho bé nghe: Hát cho con nghe các bài hát thiếu nhi là cách rất tốt giúp bé ghi nhớ từ mới, dạy trẻ cách phát âm đúng các từ chỉ màu sắc, tên các con thú và nhiều khái niệm đơn giản khác. 4.6. Tìm kiếm sự hỗ trợ của chuyên gia: Nếu nhận thấy bé tiến bộ rất ít trong vòng vài tháng thì nên tìm kiếm sự giúp đỡ của các chuyên gia.

V. ÂM NGỮ TRỊ LIỆU – Quan sát và đánh giá sự phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh phát triển chung của trẻ. – Thực hiện các bài trắc nghiệm để đánh giá: + Bé hiểu được những gì (ngôn ngữ tiếp nhận). + Bé có thể nói những gì (ngôn ngữ diễn đạt). + Bé có tìm cách giao tiếp bằng những con đường khác ví dụ như chỉ tay, lắc đầu hay làm các động tác khác hay không. + Bé phát âm có đúng không, lời nói có rõ ràng không. – Tình trạng vận động miệng của bé (sự phối hợp giữa miệng, lưỡi và vòm khi nói, khi ăn, khi nuốt…). – Nếu chuyên gia âm ngữ trị liệu thấy rằng bé cần được điều trị thì sự tham gia của cha mẹ sẽ rât quan trọng. Bạn sẽ được tham dự các khóa học, học cách luyện tập với bé ở nhà để cải thiện các kỹ năng lời nói và ngôn ngữ của con.

VI. GIÚP TRẺ NÓI LẮP – Nói lắp là một rối loạn lời nói trong đó dòng chảy bình thường của ngôn ngữ bị phá hủy do các âm thanh hay từ ngữ bị lặp lại hoặc kéo dài. – Trẻ cũng có thể gặp khó khăn khi bắt đầu câu nói. Phần lớn trẻ đều thoát khỏi tình trạng nói lắp khi lớn lên. – Cha mẹ có thể giúp con bằng cách: + Thỉnh thoảng nói với con về chứng nói lắp hãy cho bé hiểu rằng bạn chấp nhận thực tế này và động viên con. + Tìm hiểu cách giao tiếp với người bị nói lắp. + Nói với con một cách hết sức từ tốn. + Hàng ngày dành chút thời gian thư giãn chỉ có mẹ và con với nhau. Hãy làm theo mệnh lệnh của con, để con được làm người chỉ huy, là trung tâm của sự chú ý. + Các thành viên trong gia đình không cắt ngang lời nói của nhau, không tranh nhau nói. + Giảm tốc độ sống tại gia đình, nhất là tốc độ trò chuyện. + Nếu bé được điều trị chứng nói lắp thì đừng đặt yêu cầu ngôn ngữ của bé phải hoàn hảo. Chỉ nên chờ đợi bé có lời nói tự nhiên hơn, ít từ bị lắp hơn.

VII. GIÚP BÉ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TỪ SỚM – Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống. Hãy cho bé cơ hội giao tiếp và tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau. + Bắt đầu nói chuyện với bé ngay từ khi mới sinh. Trẻ sơ sinh cũng có thể nghe được lời nói. + Đáp lại tiếng gừ gừ hay lời bi bô của bé. + Chơi với bé các trò đơn giản như ú òa. + Lắng nghe bé, nhìn bé khi con nói chuyện với bạn. Cho bé thời gian để trả lời bạn (hãy đếm tới 5 hoặc 10 trước khi bạn phá vỡ sự im lặng). + Khuyến khích bé kể truyện và chuyện trò với các bạn nhưng đừng tìm cách bắt bé phải nói. + Đọc truyện cho bé nghe. Chọn sách phù hợp với lứa tuổi của con, nếu bé không thích nghe lời thoại thì giải thích các hình vẽ cho bé. + Hát cho bé nghe, tốt nhất là trên nền nhạc. Việc học các bài hát mới giúp trẻ học thêm từ mới và sử dụng các kỹ năng ghi nhớ, nghe và thể hiện ý tưởng bằng từ ngữ. + Mở rộng câu nói của bé, ví dụ bé nói “ô tô”, bạn có thể nói “Con muốn lấy ô tô!”. + Nói chuyện thật nhiều với bé. Nói cho bé biết bạn đang làm gì trong khi làm các việc nhà. + Tổ chức các buổi đi chơi, điều này giúp bạn có thêm thông tin thú vị để nói với con trước, trong và sau buổi đi chơi. + Cho con xem các bức ảnh gia đình và giải thích về các bức ảnh đó. + Trả lời con mỗi khi con nói, coi đó như phần thưởng cho việc con nói. + Đặt cho con thật nhiều câu hỏi. + Dùng cử chỉ cùng với lời nói. + Đừng sửa lỗi ngữ pháp của con. Thay vào đó, bạn chỉ cần dùng câu có ngữ pháp đúng để minh họa. + Chơi riêng với bé và nói về các đồ chơi hay trò chơi hai mẹ con đang chơi. + Cho bé chơi với các bạn có khả năng ngôn ngữ nhỉnh hơn một chút.

Ths. Bs Trương Tản Viên

Từ khóa » Chậm Phát Triển Ngôn Ngữ Trí Tuệ