Chiến Tranh Pháp–Nga (1812) – Wikipedia Tiếng Việt

Cụm từ Chiến tranh Vệ quốc 1812 dẫn đến bài này. Không nên nhầm lẫn tới cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, cái tên Nga cho cuộc chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ở phía đông châu Âu
Bài viết này có nhiều vấn đề. Xin vui lòng giúp cải thiện hoặc thảo luận về những vấn đề này bên trang thảo luận. (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa những thông báo này)
Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ. (tháng 5/2024) (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)
Bài viết hoặc đoạn này cần người am hiểu về chủ đề này trợ giúp biên tập mở rộng hoặc cải thiện. Bạn có thể giúp cải thiện trang này nếu có thể. Xem trang thảo luận để biết thêm chi tiết. (tháng 5/2024)
(Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)
Chiến tranh Pháp-Nga(Chiến tranh Vệ quốc 1812)
Một phần của Chiến tranh Napoléon
centuryTheo chiều kim đồng hồ từ trên cùng bên trái: Trận Borodino ( L.-F. Lejeune ); "Napoléon nhìn cuộc hỏa hoạn Mátxcơva" ( A. Adam ); "Michel Ney trong trận Kovno" ( O. Raffe ); "Pháp rút quân khỏi Nga" ( I. M. Pryanishnikov ).
Thời gian24 tháng 6 — 14 tháng 12 năm 1812
Địa điểmNga
Kết quả Chiến thắng quyết định của Nga,[1]Đội quân liên minh của Pháp bị tiêu diệt gần hết do chiến đấu, do bệnh tật, hoặc do đói và lạnhBắt đầu Chiến tranh với Liên minh thứ sáu
Tham chiến

Đế chế Pháp

  • Đại công quốc Warszawa
  • Vương quốc Ý (Napoléon) Ý
  • Vương quốc Hai Sicilie Napoli
  • Liên bang sông Rhine
    • Baden
    • Bayern Bayern
    • Berg
    • Sachsen
    • Westphalia
  • Thụy Sĩ Liên bang Thụy Sĩ
  • Tây Ban Nha Tây Ban Nha
Đế quốc Áo (1804–1867) ÁoVương quốc Phổ Phổ
 Nga
Chỉ huy và lãnh đạo
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Napoléon I
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Pierre Augereau
  • Vương quốc Ý (Napoléon) Eugène de Beauharnais
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Jean-Baptiste Bessières
  • Jérôme Bonaparte
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Louis-Nicolas Davout
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Jean-Andoche Junot
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp François Joseph Lefebvre
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Étienne Macdonald
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Édouard Mortier
  • Vương quốc Napoli Joachim Murat
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Michel Ney
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Nicolas Oudinot
  • Bản mẫu:Country data Duchy of Warsaw Józef Poniatowski
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Jean Reynier
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Laurent Saint-Cyr
  • Đế quốc Áo (1804–1867) Karl von Schwarzenberg
  • Đệ Nhất Đế chế Pháp Claude Victor
  • Vương quốc Phổ Johann Yorck
  • Đế quốc Nga Aleksandr I
  • Đế quốc Nga Pyotr Bagration 
  • Đế quốc Nga Mikhail Barclay de Tolly
  • Đế quốc Nga Alexander von Benckendorff
  • Đế quốc Nga Levin von Bennigsen
  • Đế quốc Nga Pavel Chichagov
  • Đế quốc Nga Eufemiusz Czaplic
  • Đế quốc Nga Dmitry Dokhturov
  • Đế quốc Nga Dmitry Golitsyn
  • Đế quốc Nga Yakov Kulnev 
  • Đế quốc Nga Mikhail Kutuzov
  • Đế quốc Nga Charles de Lambert
  • Đế quốc Nga Mikhail Miloradovich
  • Đế quốc Nga Vasily Orlov-Denisov
  • Đế quốc Nga Alexander Osterman-Tolstoy
  • Đế quốc Nga Fabian Osten-Sacken
  • Đế quốc Nga Peter von der Pahlen
  • Đế quốc Nga Matvei Platov
  • Đế quốc Nga Nikolay Raevsky
  • Đế quốc Nga Pavel Stroganov
  • Đế quốc Nga Alexander Tormasov
  • Đế quốc Nga Nikolay Tuchkov 
  • Đế quốc Nga Peter Wittgenstein
  • Đế quốc Nga Aleksey Yermolov
Lực lượng
Khoảng 690.000[2]180.000 - 200.000 ngựa1.393 khẩu pháo Ban đầu: 488.000Tổng động viên: 700.000 quân chính quy[3]223.361 dân quân (Opelchenie)[4]1.372 khẩu pháo
Thương vong và tổn thất
Chết: 340.000 - 400.000 (bao gồm khoảng 150.000 chết trận, số còn lại chết do bệnh tật, giá rét, đói khát)Bị thương: 50.00080.000 đào ngũ100.000 bị bắtSống sót: 120.000 (không tính những người đào ngũ từ trước), bao gồm 50.000 quân Áo và Phổ, 20.000 quân Ba Lan và 35.000 quân Pháp.[5] Chết: 150.000 - 210.000[6]150.000 bị thương50.000 đào ngũ
  • x
  • t
  • s
Chiến tranh Pháp-Nga
Mir • Saltanovka • Ostrovno • Vitebsk • Klyastitsy • Smolensk • Polotsk lần một • Valutino • Borodino • Tarutino • Maloyaroslavets • Polotsk lần hai • Czasniki • Vyazma • Smoliani • Krasnoi • Sông Berezina
  • x
  • t
  • s
Chiến tranh Napoleon
Các cuộc chiến tranh Anh tại Scandinavia (Chiến tranh Pháo hạm • Chiến tranh Đan Mạch-Thụy Điển) • Chiến tranh Anh-Maratha • Liên minh thứ ba • Chiến tranh Anh-Tây Ban Nha • Chiến tranh Nga-Ba Tư • Chiến tranh Pomerania • Liên minh thứ tư • Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ • Chiến tranh Anh-Thổ Nhĩ Kỳ • Chiến tranh Anh-Nga • Chiến tranh Phần Lan • Chiến tranh Bán đảo • Liên minh thứ năm • Chiến tranh Anh-Thụy Điển • Chiến tranh 1812 • Chiến tranh Pháp-Nga • Liên minh thứ sáu (Chiến dịch nước Đức) • Chiến tranh Thụy Điển-Na Uy • Liên minh thứ bảy

Chiến dịch nước Nga (hay còn gọi là Cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1812, tiếng Nga: Отечественная война 1812 года) là bước ngoặt trong các cuộc chiến tranh của Napoléon. Trong vòng 10 năm trước đó, quân Pháp thắng trận liên tục và xâm chiếm phần lớn châu Âu, nhưng tại Nga thì họ đã chịu thất bại lớn với hơn 550.000 quân thương vong hoặc đào ngũ. Thất bại này làm sụt giảm nghiêm trọng sức mạnh của Đế chế Pháp và lực lượng đồng minh, gây ra sự thay đổi lớn trong nền chính trị ở châu Âu và làm suy giảm đáng kể quyền bá chủ của Pháp ở châu Âu. Danh tiếng của Napoléon là một thiên tài quân sự bất khả chiến bại đã mất đi sau thất bại này. Các đồng minh của Pháp, đầu tiên là Phổ và sau đó là Áo, đã lần lượt phá vỡ liên minh và chuyển sang chống lại Pháp, gây nên chiến tranh Liên minh thứ sáu.[7]

Chiến dịch bắt đầu ngày 24 tháng 6 năm 1812, khi Napoléon vượt sông Neman. Napoléon buộc Hoàng đế nước Nga là Aleksandr I ở lại trong Hệ thống phong tỏa Lục địa của Vương quốc Anh, mục đích chính là để tránh các đe dọa của Nga tới Ba Lan. Napoléon đặt tên cuộc xâm lăng này là chiến dịch Ba Lan lần thứ hai, người Nga tuyên bố phát động một cuộc chiến tranh Vệ quốc.

Hơn 68 vạn tinh binh của đại quân Napoléon hành quân qua phía tây nước Nga, họ giành chiến thắng trong một số trận đánh nhỏ và một trận đánh lớn ở Smolensk vào 16-18 tháng 8. Tuy nhiên, trên cùng một ngày, cánh bắc của quân đội Nga do Thống chế Nga Peter Wittgenstein đã chặn cánh bắc của quân đội Pháp, dẫn đầu bởi Thống chế Pháp Nicolas Oudinot trong trận Polotsk. Điều này ngăn chặn cuộc hành quân của Pháp tới kinh thành Sankt-Peterburg; số phận của cuộc chiến đã phải quyết định tại Moskva, nơi mà Napoléon đã thân chinh dẫn quân tiến đánh.

Cuộc kháng chiến của Quân đội Nga cũng bắt nguồn từ tinh thần yêu nước sục sôi, quyết tâm trả thù những thất bại trước quân Pháp trong các năm 1805 - 1807, cũng như quyết tâm không chịu ách chư hầu cho Pháp theo Hiệp định Tilsit (1807).[8] Chiến thắng rạng rỡ của cuộc chiến đấu bảo vệ nước Nga này chứng tỏ sức mạnh uy dũng của lực lượng Quân đội Nga trong các cuộc chiến tranh của Napoléon.[9] Sự kiện này đã từng được miêu tả trong cuốn tiểu thuyết Chiến tranh và Hòa bình của Lev Tolstoy và thường được người Nga gọi là Chiến tranh Vệ quốc 1812 (phân biệt với "Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại" tức Chiến tranh Xô-Đức trong Thế chiến thứ hai).

Chuẩn bị chiến tranh

[sửa | sửa mã nguồn]

Đến cuối năm 1811 thì Napoleon đã có nhiều chỉ thị cực kì nghiêm túc cho một cuộc chiến lớn với nước Nga.

Một báo cáo của tướng Davout gửi Napoleon ngày 29-11-1811 có viết: "Trong chiến dịch năm 1805, nhiều binh lính đã bị tụt lại sau do thiếu giày; hiện tại ông ấy đang tích trữ 6 đôi giày cho một người lính”.

Napoleon ra lệnh cho Bá tước Lacuée de Cessac phụ trách hậu cần phải cung cấp lương thực cho 40 vạn quân trong một chiến dịch 50 ngày, yêu cầu 20 triệu khẩu phần bánh mì và gạo, 6000 xe vận tải để chở đủ bột mì cho 20 vạn người trong 2 tháng và 72 triệu lít yến mạch nuôi ngựa trong 50 ngày.

Ngày 14 tháng 2 năm 1812, một lượng quân Pháp rất lớn đã tiến về phía Đông và họ đóng quân tại 20 thành phố Đức tại khắp miền Tây đế chế Napoleon.

Không chỉ quân Pháp thuần tuý, chiến dịch đánh nước Nga còn có sự đóng góp quân của các nước chư hầu của Pháp. Vào tháng 2 năm 1812, Áo đồng ý góp cho Napoleon 3 vạn quân. Một tuần sau, Phổ huy động cho Pháp 2 vạn quân. Nếu chia theo quân chủng thì 48% bộ binh là người Pháp, 52% là người nước ngoài; 64% kị binh là người Pháp, 36% là người nước ngoài.

Dân số của Pháp lúc đó là 42,3 triệu người, các quốc gia vệ tinh của Pháp là 40 triệu người, tổng cộng là 82,3 triệu. Napoleon đã huy động tới 69 vạn quân, đây là lần xuất quân chinh phạt lớn nhất lịch sử châu Âu tính tới thời điểm đó. Đại quân Pháp có gần 1.400 khẩu pháo, 20 vạn ngựa phân bổ cho 8 vạn kị binh, 3 vạn lính pháo binh và 25 nghìn cỗ xe đủ kiểu. Có 26 tiểu đoàn vận tải, 18 trong số đó có 600 cỗ xe hạng nặng, mỗi xe 6 ngựa kéo có khả năng chở gần 3.000 kg.

Binh lính tự mang đi 4 ngày lương thực và thêm 20 ngày trên những cỗ xe quân đội. Nếu trong 3 tuần đầu chiến dịch tiếp tục thì đại quân sẽ phải dừng lại để tái tiếp tế.

Trong khi đó, toàn bộ dân số của nước Nga lúc đó là 46 triệu, họ huy động được 70 vạn lính chủ lực và 223.000 dân quân trong toàn cuộc chiến.

Diễn biến

[sửa | sửa mã nguồn]
Chân dung Barclay de Tolly

Tổng chỉ huy ban đầu của quân Nga là Thống chế Barclay de Tolly, vốn là một sĩ quan gốc Scotland. Barclay de Tolly lớn lên ở St.Petersburg và trở thành Bộ trưởng Chiến tranh trong triều đình Nga từ năm 1810. Ông đã chuẩn bị hiệu quả cho quân đội Nga cho cuộc chiến quyết định với Napoléon, ra lệnh và đích thân tạo ra rất nhiều hướng dẫn chiến thuật và chiến lược và sách hướng dẫn cho binh lính và sĩ quan. Chính Barclay là người ban đầu đã vạch ra kế hoạch tổng thể cho quân đội Nga trong cuộc chiến này: sử dụng chiến lược rút lui vào miền Trung nước Nga để tiêu hao tài nguyên của quân đội Pháp. Khi rút lui, lính Nga đã phá hủy kho lương thực, đạn dược và bất kỳ tài sản nào đối phương có thể sử dụng được. Barclay đã tính toán đúng các tuyến đường tiếp tế của Pháp sẽ trở nên quá dài để cung cấp cho quân đội từ châu Âu và các lực lượng du kích Nga và quân đội sẽ làm phần còn lại để nghiền nát kẻ thù.[10]

Cuộc vượt biên của quân đội Napoléon qua Neman

Ngày 22 tháng 6 năm 1812 Napoleon ban hành bản thông cáo của chiến dịch, cũng là mệnh lệnh cho Đại quân vượt sông Niemen tiến vào Nga. Quy mô của Đại quân Napoleon sau khi đã trừ đi các lực lượng đồn trú, vệ binh quốc gia và số lính coi kho, pháo đội bảo vệ bờ biển là 45 vạn người ở tuyến đầu, 16,5 vạn người ở tuyến hai. Con số này lớn hơn toàn bộ dân số Paris vào thời điểm đó.

Mở đầu cuộc binh lửa, Quân đội Nga đã gặt hái được những chiến công ban đầu tại Mir, Romanovo, Ostrovno, Saltanovka, và Klyastitsy.[11] Nhưng vào tháng 8 năm 1812, quân Nga phải rút lui trước sức ép của Pháp và cũng bởi chiến lược của Tư lệnh Barclay de Tolly. Sau đó Sa hoàng không hài lòng, tướng Mikhail Kutuzov được phong hàm Thống chế và được cử làm Tổng Chỉ huy Quân đội Nga thay Barclay de Tolly. Sau đó quân Nga do Kutuzov chỉ huy chống cự lại Napoléon I ác liệt trong trận đánh lớn tại Borodino từ khoảng cách 120 km (khoảng 75 dặm) về phía tây Moskva ngày 7 tháng 9 năm 1812. Quân đội Nga đã chiến đấu anh dũng và gây cho quân Pháp bị tổn thất nặng nề.[12] Rất nhiều binh sĩ người Westfalen chư hầu chiến đấu cho Pháp cũng bị thiệt mạng cuộc giao tranh khốc liệt này.[13] Tuy nhiên, Hoàng đế Napoléon I đã chiến thắng và quân Nga triệt binh khỏi trận địa.[14]

Nhưng trận thư hùng đẫm máu này đã trở thành một chiến thắng về mặt tinh thần của các chiến binh Nga.[15] Mùa đông trên lãnh thổ Nga rất khắc nghiệt. Quân đội Nga càng rút lui, càng khiến cho quân đội Pháp sa lầy vào xứ sở mênh mông còn làng mạc đã bị quân Nga đốt sạch trước khi quân Pháp tiến tới khiến cho người Pháp không thể tìm ra được thực phẩm.

Với nguồn quân nhu trống rỗng và đường tiếp tế bị trải dài quá mức, đại quân của Napoléon I sau chiến thắng trong trận huyết chiến ở Borodino đã tiến quân đến cố đô Moskva vào ngày 14 tháng 9 năm 1812. Các chiến binh Pháp vui mừng trước ngưỡng cửa Moskva hùng vĩ, và Napoléon I coi thời khắc đã đến để buộc người Nga phải ra hàng. Tuy nhiên, không có bóng ai ở đây cả mà chỉ có một sĩ quan Nga đề nghị đình chiến, để các chiến sĩ Nga có thêm thời gian rút quân ra khỏi cố đô. Đến lúc mặt trời lặn mà vẫn chẳng thấy ai, một số sĩ quan Pháp vào thám thính Moskva rồi trở ra bẩm báo với Napoléon I là toàn thể dân chúng thành Moskva đã di tản và Moskva đã bị đốt phá. Màn đêm buông xuống, ông mới tiến đại binh vào cố đô nước Nga.[14]

Hỏa hoạn Moskva 1812

Sa hoàng Alekxandr I nhất định không chịu thương thuyết. Vốn mong đợi Alekxandr I đầu hàng có điều kiện, thay vào đó, quân Pháp lại thấy mình đang ở trong một thành phố cằn cỗi và hoàng tàn đã bị quân Nga san phẳng hoàn toàn trước khi rút lui. Thiếu nơi đồn trú mùa đông, Napoléon thấy cần phải rút quân. Bắt đầu vào ngày 19 tháng 10 và kéo dài đến tháng 12, quân đội Pháp phải đối mặt với một số trở ngại rất lớn trên đường dài rút quân khỏi Nga: nạn đói, thời tiết giá lạnh và lực lượng quân đội của Nga đã chặn đường rút lui.

Napoleon rút lui của khỏi Moskva.

Lực lượng Pháp bị thiệt hại nặng nề vì thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu phương tiện y tế, luôn luôn bị quân du kích Nga quấy phá và bị tấn công. Bởi mùa Đông quá sức khắc nghiệt tại Nga, quân Pháp còn lan truyền huyền thoại "Đại tướng Mùa Đông" (général Hiver) đã làm gia tăng những thiệt hại của họ. Đa số quân Pháp đã chết vì đói, vì lạnh, vì bệnh tật, một số lớn bị bắt làm tù binh.

Những trận đánh tại Krasnyi kéo dài suốt từ ngày 4 cho đến ngày 5 tháng 11 năm 1812, làm cho Napoléon bị hao tổn thêm 2 vạn chiến binh nữa. Tiếp theo đó, Quân đội Nga kéo đến sông Berezina để truy kích quân Pháp, viên chỉ huy quân Nga là Pavel Chichagov đã chiếm được một kho quân nhu lớn của quân Pháp tại Minsk, phá hủy những chiếc cầu bắc qua sông Berezina tại thị trấn Borisov, và kéo quân bên bờ Tây sông này để ngăn chặn quân địch vượt sông. Từ ngày 14 cho tới ngày 17 tháng 11 năm 1812, trong trận sông Berezina, quân Nga liên tiếp tấn công, song Napoléon vượt được sông này. Ông phải hứng chịu tổn thất khủng khiếp. Chỉ sự hợp tác ngầm của Kutuzov mà đã gây cho Napoléon thảm họa như thế. Vốn dĩ ông nhận thấy rằng Mùa Đông đã hủy diệt quân lực của Napoléon, do đó ông không cần phải truy kích quân Pháp quá mãnh liệt.[16]

Người Kalmyks và người Bashkirs tấn công quân đội Pháp tại Berezina

Kết quả

[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc xâm lược nước Nga của Napoléon là một trong những sự kiện trọng đại trong lịch sử châu Âu, là chiến bại thê thảm của ông,[16] và dẫn đến bi kịch của ông. Với chiến thắng này, nhân dân Nga bắt đầu ấp ủ lòng tự hào dân tộc. Đây là chiến thắng nhờ lòng dũng cảm của dân tộc Nga, nhờ Hoàng đế Aleksandr I đã tập hợp được lực lượng quý tộc và nông dân đấu tranh bảo vệ đất nước.[17] Đây là bước ngoặt lớn trong các cuộc chiến của Napoléon vì chiến dịch này đã giảm quân số của Pháp và các lực lượng đồng minh xuống chỉ còn một phần nhỏ so với ban đầu.[18] Mùa đông khắc nghiệt của nước Nga đã góp phần làm thiệt mạng hàng loạt quân Pháp, Napoléon buộc phải rút quân về nước. Nhiều đạo quân Nga vẫn tiếp tục truy quét quân địch vào Đại công quốc Warsawa và Vương quốc Phổ.[16]

Tuy vị Hoàng đế nước Pháp đã tái xây dựng lực lượng Quân đội trong đó có nhiều chiến sĩ luôn trung kiên với đất nước, Đội quân vĩ đại (Grande Armée) của ông không bao giờ hồi phục được.[13] Chẳng bao lâu sau, các quốc gia châu Âu đều đồng loạt nổi lên chống Pháp và Đệ nhất Đế chế của Napoléon sụp đổ. Do đó, chiến thắng lẫy lừng của cuộc Chiến tranh Vệ quốc Nga được coi là một sự kiện trọng đại dẫn đến sự giải phóng cả châu Âu thoát khỏi ách chiếm đóng của Napoléon I.[19]

Cuộc Chiến tranh Vệ quốc khốc liệt này đã lôi cuốn biết bao thế hệ các nhà sử học nước Nga.[15]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ von Clausewitz, Carl (1996). The Russian campaign of 1812. Transaction Publishers. Introduction by Gérard Chaliand, VII. ISBN 1-4128-0599-6
  2. ^ The Logistics of War, DIANE Publishing, trg 180
  3. ^ Osprey - Men At Arms 028 - The Russian Army Of The Napoleonic Wars tr 20
  4. ^ Russian Army of the Napoleonic Wars 1-Infantry Nhà xuất bản Osprey tr 37
  5. ^ Zamoyski, trg 536
  6. ^ Bogdanovich, "History of Patriotic War 1812", Spt., 1859–1860, Appendix, trg 492–503.
  7. ^ Fierro; Palluel-Guillard; Tulard: Histoire et Dictionnaire du Consulat et de l'Empire. Paris: Éditions Robert Laffont, trang 159-161
  8. ^ Alexander Mikaberidze, The battle of Borodino: Napoleon against Kutuzov, trang 1
  9. ^ Gunther Erich Rothenberg, The art of warfare in the age of Napoleon, trang 204
  10. ^ "What actually caused the Russo-French War of 1812?".
  11. ^ Alexander Mikaberidze, The battle of Borodino: Napoleon against Kutuzov, trang 14
  12. ^ Alexander Mikaberidze, The battle of Borodino: Napoleon against Kutuzov, trang 204
  13. ^ a b Gunther Erich Rothenberg, The art of warfare in the age of Napoleon, trang 159
  14. ^ a b J. Christopher Herold, The Age of Napoleon, các trang 354-356.
  15. ^ a b Adam Zamoyski, Moscow 1812: Napoleon's Fatal March, trang XX
  16. ^ a b c David R. Stone, A military history of Russia: from Ivan the Terrible to the war in Chechnya, trang 106
  17. ^ Adam Zamoyski, Moscow 1812: Napoleon's Fatal March, các trang X-XVII.
  18. ^ "Napoleon's Invasion of Russia, 1812". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2008.
  19. ^ Adam Zamoyski, Moscow 1812: Napoleon's Fatal March, trang 146

Tài liệu tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Chiến tranh Nga – Pháp (1812). Sách
  • Britten Austin, Paul (2000). 1812: Napoleon's Invasion of Russia. Greenhill Books. ISBN 185367415X. (Originally published in three volumes: The March on Moscow, Napoleon in Moscow, The Great Retreat.)
  • Bogdanovich, Michael (1863). History of Patriotic War 1812. St. Petersburg. tr. 1859–1860. OCLC 25319830.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  • Gunther Erich Rothenberg, The art of warfare in the age of Napoleon, Đại học Indiana Press, 1980. ISBN 0-253-20260-4.
  • Connelly, Owen (1999). Blundering to Glory: Napoleon's Military Campaigns (ấn bản thứ 2). Wilmington, Delaware: SR Books. ISBN 0842027807.
  • Marshall-Cornwall, James (1967). Napoleon as Military Commander. London: Batsford.
  • Nafziger, George (1984). Napoleon's Invasion of Russia. New York, N.Y.: Hippocrene Books. ISBN 0882546813.
  • Riehn, Richard K. (1991). 1812 Napoleon's Russian Campaign. New York: Wiley. ISBN 0471543020.
  • Zamoyski, Adam (2004). Moscow 1812: Napoleon's Fatal March. London: HarperCollins. ISBN 0007123752.
  • Lieven, Dominic (2009). Russia Against Napoleon: The Battle for Europe, 1807 to 1814. Allen Lane/The Penguin Press. tr. 617.[1] Lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2013 tại Wayback Machine
  • Fierro, Alfred (1995). Histoire et Dictionnaire du Consulat et de l'Empire. Palluel-Guillard, André; Tulard, Jean. Paris: Éditions Robert Laffont. tr. 1350. ISBN 2-221-05858-5.
Các tạp chí
  • Anthony, James Joes (1996). "Continuity and Change in Guerrilla War: The Spanish and Afghan Cases". Journal of Conflict Sudies. Quyển 16 số 2. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2013.
  • Nafziger, George. "Rear services and foraging in the 1812 campaign: Reasons of Napoleon's defeat" (Russian translation online) Lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2017 tại Wayback Machine
  • Fighting the Russians in Winter: Three Case Studies Lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2006 tại Wayback Machine. US Army Command and General Staff College.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]

Không hư cấu

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Bogdanovich Modest I. (1859-1860). 'History of the War of 1812' (История Отечественной войны 1812 года) at Runivers.ru in DjVu và PDF formats
  • David G. Chandler (2002). The Campaigns of Napoleon. Folio. ISBN 0-29-774830-0.
  • Denis Davidov (1999). In Service of the Tsar Against Napoleon, 1806–1814. Greenhill Books. ISBN 1-85367-373-0.
  • Edward Ryan (1999). Napoleon's Elite Cavalry. Greenhill Books. ISBN 1-85367-371-4.
  • Heinrich von Brandt (1999). In the Legions of Napoleon; The Memoirs of a Polish Officer in Spain and Russia, 1808–1813. Greenhill Books. ISBN 1-85367-380-3.

Tiểu thuyết

[sửa | sửa mã nguồn]
  • War and Peace, Leo Tolstoy
  • The Retreat, Patrick Rambaud
  • Commodore Hornblower by C.S. Forester A fictional account of the siege of Riga on the Baltic by the French army and its allies.

Khác

[sửa | sửa mã nguồn] War and Peace, Sergey Sergeyevich Prokofiev

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  • History of the Expedition to Russia Undertaken by the Emperor Napoleon in the Year 1812, by the count de Ségur (Gutenberg Project ebook)
  • Napoleon's Invasion of Russia 1812 + color maps
  • Alternative version of Minard's map (using modern country boundaries)
  • Alternative version of Minard's map (zoomed-out, to show area in relationship to the rest of Europe)
  • French invasion of 1812, view from Russia Lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2011 tại Wayback Machine
  • x
  • t
  • s
Các cuộc xung đột vũ trang liên quan đến Nga (bao gồm thời kỳ Đế quốc Nga và Liên Xô)
Liên quan
  • Chiến tranh cận đại
  • Lịch sử quân sự Nga
  • Lịch sử quân sự Đế quốc Nga
  • Lịch sử quân sự Liên Xô
  • Lịch sử quân sự Liên bang Nga
  • Xung đột hậu Xô viết
  • Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga
Danh sách
  • Chiến tranh Rus'–Byzantine
  • Chiến tranh Muscovy–Litva
  • Chiến tranh Nga-Krym
  • Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan
  • Chiến tranh Nga-Kazan
  • Chiến tranh Nga-Ba Tư
  • Chiến tranh Nga-Ba Lan
  • Chiến tranh Nga-Thụy Điển
  • Chiến tranh Nga–Thổ Nhĩ Kỳ
  • Chiến tranh Nga-Ukraina
  • Xung đột biên giới Nga–Thanh
  • Danh sách chiến tranh liên quan đến Nga
    • Danh sách chiến tranh liên quan đến Liên Xô
  • Danh sách chiến tranh liên quan đến Liên bang Nga
Nội bộ
  • Khởi nghĩa Bolotnikov
  • Khởi nghĩa Razin
  • Khởi nghĩa Bulavin
  • Khởi nghĩa Pugachev
  • Khởi nghĩa tháng Chạp
  • Nội chiến Nga
  • Khởi nghĩa tháng Tám
  • Cuộc đảo chính Xô viết năm 1991
  • Khủng hoảng Hiến pháp Nga 1993
  • Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất
  • Chiến tranh Dagestan
  • Chiến tranh Chechnya lần thứ hai
  • Nổi dậy tại Bắc Kavkaz
Nước NgaSa hoàng
  • Chiến tranh Nga-Krym
  • Chiến tranh Nga-Kazan
  • Chiến tranh Nga-Thụy Điển (1554–1557)
  • Chiến tranh Livonija
  • Nga chinh phục Siberia (1580–1747)
  • Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1568–1570)
  • Chiến tranh Nga-Thụy Điển (1590–1595)
  • Chiến tranh Ba Lan–Muscovy (1605–1618) và Thời kì Đại Loạn
  • Chiến tranh Ingria
  • Chiến tranh Smolensk
  • Chiến tranh Nga-Ba Tư (1651–1653)
  • Xung đột biên giới Nga–Thanh
  • Chiến tranh Nga-Ba Lan (1654–1667)
  • Đại hồng thủy
  • Chiến tranh Thụy Điển–Đan Mạch (1658–1660)
  • Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1676–1681)
  • Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1686–1700)
Thế kỷ18–19
  • Đại chiến Bắc Âu
  • Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1710–1711)
  • Chiến tranh Nga–Ba Tư (1722–1723)
  • Chiến tranh Kế vị Ba Lan (1733–1738)
  • Chiến tranh Áo-Nga–Thổ Nhĩ Kỳ (1735–1739)
  • Chiến tranh Kế vị Áo (1740–1748)
  • Chiến tranh Nga–Thụy Điển (1741–1743)
  • Chiến tranh Bảy Năm
  • Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1768–1774)
  • Liên minh Bar
  • Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1787–1792)
  • Chiến tranh Nga-Thụy Điển (1788–1790)
  • Chiến tranh Nga-Ba Lan (1792)
  • Nga thuộc địa hóa Bắc Mỹ
  • Nổi dậy Kościuszko
  • Cuộc chinh phạt Ba Tư, 1796
  • Chiến tranh Liên minh thứ Hai
  • Chiến tranh Liên minh thứ Ba
  • Chiến tranh Nga-Ba Tư (1804–1813)
  • Chiến tranh Liên minh thứ Tư
  • Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1806–1812)
  • Chiến tranh Anh-Nga
  • Chiến tranh Nga–Thụy Điển (1808–1809)
  • Chiến tranh Liên minh thứ Năm
  • Chiến tranh Pháp–Nga (1812)
  • Chiến tranh Liên minh thứ Sáu
  • Triều đại Một trăm ngày
  • Nga chinh phục Kavkaz
  • Chiến tranh Kavkaz
    • Chiến tranh Nga-Circassia
    • Nga sáp nhập Chechnya và Dagestan
  • Chiến tranh Nga–Ba Tư (1826–1828)
  • Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1828–1829)
  • Cuộc nổi dậy tháng 11
  • Cách mạng Hungary 1848
  • Chiến tranh Krym
    • Chiến tranh Åland
  • Sáp nhập Amur
  • Khởi nghĩa Tháng Giêng
  • Nga chinh phục Trung Á
    • Nga chinh phục Bukhara
    • Chiến dịch Khiva 1873
  • Chiến tranh Nga–Thổ Nhĩ Kỳ (1877–1878)
  • Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn
    • Nga xâm chiếm Mãn Châu
Thế kỷ20
  • Chiến tranh Nga–Nhật
  • Nga chiến đóng Tabriz
  • Chiến tranh thế giới thứ nhất
  • Nội chiến Nga
    • Chiến tranh Ukraina–Xô viết
      • Xô viết xâm chiếm Ukraina 1919
    • Vùng tự chủ Alash
    • Nội chiến Phần Lan
    • Xung đột Sochi
    • Heimosodat
    • Cuộc tấn công hướng tây Xô viết 1918–1919
      • Chiến tranh độc lập Estonia
      • Chiến tranh độc lập Latvia
      • Chiến tranh Litva–Xô viết
    • Xung đột Gruzia–Ossetia (1918–1920)
    • Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921)
    • Hồng quân xâm chiếm Azerbaijan
    • Hồng quân xâm chiếm Armenia
    • Hồng quân xâm chiếm Gruzia
    • Hồng quân can thiệp tại Mông Cổ
    • Khởi nghĩa Đông Karelia
  • Khởi nghĩa Trung Á
  • Khởi nghĩa tháng Tám
  • Xung đột Urtatagai (1925–1926)
  • Xung đột Trung-Xô 1929
  • Hồng quân can thiệp tại Afghanistan (1929)
  • Hồng quân can thiệp tại Afghanistan (1930)
  • Chiến tranh biên giới Xô–Nhật
  • Liên Xô xâm chiếm Tân Cương
  • Chiến tranh Tân Cương (1937)
  • Chiến tranh thế giới thứ hai
    • Liên Xô tấn công Ba Lan
    • Chiến tranh Liên Xô–Phần Lan (1939–1940)
    • Liên Xô chiếm đóng các nước Baltic (1940)
      • Liên Xô chiếm đóng Latvia
    • Liên Xô chiếm Bessarabia và Bắc Bukovina
    • Chiến tranh Tiếp diễn
    • Chiến tranh Xô–Đức
    • Liên Xô tái chiếm đóng các nước Baltic (1944)
      • Liên Xô tái chiếm đóng Latvia năm 1944
    • Anh-Xô xâm chiếm Iran
    • Chiến tranh Xô–Nhật
  • Chiến tranh du kích tại các nước Baltic
  • Chiến tranh du kích tại Ukraina
  • Kháng chiến chống cộng sản tại Ba Lan (1944–1953)
  • Khởi nghĩa Ili
  • Chiến tranh Đông Dương
  • Chiến tranh Triều Tiên
  • Nổi dậy tại Đông Đức 1953
  • Sự kiện năm 1956 ở Hungary
  • Chiến tranh Việt Nam
  • Sự cố Vlora
  • Khối Warszawa tấn công Tiệp Khắc
  • Xung đột biên giới Trung–Xô
  • Chiến tranh Tiêu hao
  • Chiến tranh độc lập Eritrea
  • Nội chiến Angola
  • Chiến tranh Ogaden
  • Chiến tranh biên giới Nam Phi
  • Chiến tranh Liên Xô–Afghanistan (1979–1989)
  • Chiến tranh Vùng Vịnh
  • Các cuộc tấn công OMON Liên Xô vào các đồn biên giới Litva
  • Chiến tranh Nagorno-Karabakh
  • Chiến tranh Transnistria
  • Nội chiến Gruzia
  • Nội chiến Tajikistan
  • Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất
  • Chiến tranh Dagestan
Thế kỷ21
  • Chiến tranh Chechnya lần thứ hai
  • Chiến tranh Nam Ossetia 2008
  • Chiến tranh Nga – Ukraina
    • Liên bang Nga sáp nhập Krym
    • Chiến tranh Donbas
    • Nga xâm lược Ukraina
  • Can thiệp quân sự của Nga trong nội chiến Syria
  • Chiến dịch Tây Libya
  • Chiến tranh Nagorno-Karabakh 2020
  • Triển khai tại Kazakhstan
  • Mùa đông Nga
  • Cách mạng Nga (1917)
  • Chiến tranh Lạnh
  • Vùng ảnh hưởng

Từ khóa » Tranh Vẽ Thất Bại