Chính Sách Bóc Lột Về Kinh Tế Của Phong Kiến Phương Bắc Và

Chính sách bóc lột về kinh tế của phong kiến phương Bắc và

những chuyển biến kinh tế - xã hội của Âu Lạc (179 TCN - 938)

1. Chính sách bóc lột về kinh tế của phong kiến phương Bắc

Với vị trí là một kẻ mạnh đi xâm lược và đô hộ kẻ yếu, phong kiến phương Bắc đã thực hiện một chính sách bóc lột về kinh tế không có định lượng về mặt số lượng cũng như chủng loại. Chính quyền đô hộ và chính quyền trung ương cần thứ gì thì người Việt phải cống thứ ấy.

Từ thời Hán, bọn thống trị đã thực thi việc chiếm đất đai, lập thành đồn điền nhằm giữ vững những đất mới chiếm được, xây dựng cơ sở kinh tế riêng để duy trì lâu dài nền thống trị của chúng trên đất nước ta. Chúng đưa tội nhân, dân nghèo người Hán đến ở lẫn với người Việt, xâm lấn, khai phá ruộng đất lập đồn điền. Mã Viện đã “lập ấp trại” để một số quân lính làm ruộng gọi là ''Mã lưu dân''. Thời Ngô, chính quyền đô hộ trực tiếp quản lý loại đồn điền do người Việt, người Hoa cày cấy, biến họ thành nông nô của nhà nước đô hộ.

Để bóc lột nhân dân ta triệt để, chính quyền đô hộ đã ban hành chính sách tô thuế rất nặng, gồm nhiều loại thuế: tô, dung, điệu, lưỡng thuế. Theo lệ thuế nhà Đường thì mỗi nam đinh được chia ruộng quân điền, mỗi mẫu mỗi năm phải nộp tô là hai thạch thóc (20 thăng, mỗi thăng khoảng từ 2,8 - 3kg), thuế điệu là 2 tấm lụa the, chịu sự sai dịch 20 ngày. Nếu không đi sai dịch được thì cử mỗi ngày phải nộp 2 thước lụa.

Một trong những hình thức bóc lột rất nặng nề nhân dân ta của chính quyền và quan lại đô hộ là cách bắt cống nạp. Hàng năm “tùy nhiều ít mà thu tài vật” và “tùy đất đó sản xuất vật gì thì tạm thu lấy thuế khóa vật đó, không có phép tắc và luật lệ cố định”.

Thời Đông Hán, sử Trung Quốc ghi lại: “Ở đất Giao Chỉ, thứ sử trước sau phần lớn không thanh liêm, trên bợ đỡ kẻ quyền quí, dưới thì thu vét của cải của dân, đến khi đầy túi liền xin dời đổi”. Chu Thặng – Thứ sử Giao Châu đã tâu với vua Hán: “Giao Châu ở nơi xa cách, quan lại tham ô, làm đủ điều gian trá, trưởng sử tha hồ bạo ngược, bóc lột muôn dân…”. Thái thú Giao Chỉ là Tôn Tư (thời Ngô) tham lam, bạo ngược, bắt hàng ngàn thợ khéo léo ở nước ta sang xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh – Trung Quốc). Thứ sử Đặng Tuân vừa đến quận Giao Chỉ làm việc đã tự tiện bắt dân nộp 3.000 Chim công để dâng nhà Ngô. Sỹ Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ thường năm dâng cho nhà Ngô hương liệu, minh châu, lưu ly, lông trả, đồi mồi, sừng tê, ngà voi, các loại hoa quả lạ, hàng ngàn tấm vải cát bá loại mịn, hàng trăm ngựa…

Sách Tam Quốc Chí có ghi lại: “Tô thuế, ruộng đất, nhân khẩu ở Giao Châu chiết lấy để cung dùng, các vật quí giá đưa đến như ngọc, ngà, châu báu, hương dược, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, lưu ly, chim Anh Vũ, chim Trả, chim Công, vật là phải đủ để vui chơi, không cần hạn chế việc đưa vào để lợi ích cho Trung Quốc”.

Sách Văn miếu thông khảo cũng ghi lại tình trạng bóc lột nặng nề đó: “Từ đời Tấn, bọn man mọi (nhân dân ba quận) ở hang cùng ngõ hẻm đều được đội ơn giáo hóa của nhà vua (Trung Quốc), bọn chúng tùy theo mức ít, nhiều mà thu của cải để cho nhà nước tiêu dùng. Lại như bọn tù trưởng ở miền lĩnh ngoại dựa vào sự giàu có của việc sản xuất chim sả, ngọc châu, sừng tê, ngà voi. Triều đình (Trung Quốc) phần lớn cũng nhân đấy nắm lấy để thu lợi, qua các triều Tống, Tề, Lương,… đều dựa theo đó không sửa đổi gì”.

Bên cạnh việc bóc lột nặng nề nhân dân ta, chính quyền đô hộ còn nắm độc quyền sản xuất, mua bán muối, sắt và thu thuế nặng đối với những người làm muối. Điều đó khiến cho đời sống của nhân dân càng lệ thuộc chặt chẽ vào chính quyền đô hộ. Hàng năm, theo sử cũ ghi lại, riêng tiền muối ở Lĩnh Nam (trong đó có nước ta) nhà Đường đã thu được 40 vạn quan tiền.

Với chính sách bóc lột, vơ vét triệt để về kinh tế của bọn phong kiến phương Bắc trong hơn một nghìn năm bị đô hộ, nhân dân ta đã phải trải qua cuộc sống đói khổ, đầy đau thương. Hậu quả là đã làm cho “trăm họ xác xơ”, nhiều nơi nông dân bị phá sản. Từ cuối thế kỉ II đã xuất hiện nhiều “dân lưu tán”, đến thế kỉ V, tầng lớp nông dân bị phá sản, lưu vong mà sử cũ gọi là “dân vong mệnh” càng đông đảo. Nhiều người phải bán mình, bán vợ, con cho tầng lớp giàu có, thống trị để biến thành nô tỳ nhưng điều trái ngược với mục đích bành trướng và bóc lột triệt để của phong kiến Trung Hoa là với việc du nhập một sức sản xuất mới, sử dụng kĩ thuật mới, tiến bộ đã đưa đến những sự chuyển biến tích cực trong kinh tế và xã hội, tạo nên một sức sống mới cho nước Việt sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc.

2. Những chuyển biến về kinh tế, xã hội của Âu Lạc

vNhững biến đổi trong nền kinh tế

Nông nghiệp

Công cụ canh tác bằng sắt ngày càng trở lên phổ biến, dần thay thế hoàn toàn công cụ bằng đồng. Mặc dù, chính quyền đô hộ nắm độc quyền về sắt, kiểm soát chặt chẽ việc khai thác, chế tạo và mua bán sắt, nhưng nhân dân ta vẫn rèn đúc, chế tạo được nhiều công cụ lao động, đồ dùng bằng sắt phục vụ cho nhu cầu sản xuất. Nhiều vật dụng trong gia đình cũng đã được chế tạo bằng sắt (kiêng nấu bếp, đèn, đinh…).

Với những biến đổi đó, cư dân Việt cổ đã bước vào thời đại đồ sắt. Những đồ tuỳ táng trong các mộ cổ thời kì Bắc thuộc có rất ít vũ khí, công cụ bằng sắt đã minh chứng cho điều đó. Hơn nữa, với việc nhà Hán đặt chức thiết quan trông coi việc thu thuế sắt, thì hẳn là từ đầu công nguyên đồ sắt đã khá phổ biến ở Âu Lạc.

Cùng với việc sử dụng rộng rãi công cụ sản xuất bằng sắt, kĩ thuật canh tác cũng đã có bước phát triển mới. Cư dân đã biết dùng các loại phân để bón ruộng (có thể cả phân Bắc), dùng trâu bò làm sức kéo trong nông nghiệp.Các công trình thuỷ lợi được chú trọng xây dựng. Dọc những con sông lớn như sông Hồng, sông Mã đã có đê phòng lụt. Nhiều kênh, ngòi mương máng được đào thêm hay nạo vét hàng năm. Giao Châu ký có ghi chép sự việc huyện Phong Khê (trung tâm Cổ Loa) có đê phòng lụt. Sách Nam Việt chí phản ánh việc Mã Viện “chất đá làm thành đê để ngăn sóng biển” ở vùng Tạc Khẩu (Tam Điệp, Ninh Bình). Hậu Hán thư có ghi lại sự việc Mã Viện “sửa sang kênh ngòi”.

Những biện pháp kĩ thuật nói trên đã góp phần rất quan trọng vào việc mở rộng diện tích trồng trọt, tăng năng suất sản xuất (đến thời Đông Hán, số thóc thuế mà chính quyền đô hộ đã vơ vét được của nhân dân Giao Chỉ lên tới 13.600.000 hộc, tương đương 272.000 tấn thóc). Ở Giao Chỉ, lúa đã trồng được hai vụ chiêm và mùa trong một năm. Cư dân người Việt cũng đã có kinh nghiệm làm ruộng nước, như chọn mùa gieo trồng, đắp đê, lựa chọn nguồn nước, dùng sức kéo…

Bên cạnh lúa nhân dân ta còn trồng nhiều loại hoa màu, các loại cây có củ khác như: khoai, đậu, sắn, ngô...; nhiều loại cây ăn quả: nhãn, vải, chuối, cam, quýt, mơ, mận, táo, trầu, cau, khế... tuỳ theo khí hậu, thổ nhưỡng ở mỗi nơi và một số cây công nghiệp như bông, mía, dâu. Ngoài ra, nhân dân ta cũng đã biết trồng trọt và khai thác một số loại cây để làm thuốc: đậu, khỉ, ý dĩ, quế, gừng gió...

Cùng với nông nghiệp, chăn nuôi cũng khá phát triển. Các giống gia súc gia cầm: voi, ngựa, trâu, bò, chó, lợn, gà, vịt được nuôi nhiều hơn.

Mặc dù nền kinh tế nông nghiệp có bước chuyển biến rõ nét, nhưng do chính sách bóc lột nặng nề, triệt để của chính quyền đô hộ cho nên đời sống của nhân dân ta dưới thời Bắc thuộc vẫn hết sức khốn đốn.

Thủ công nghiệp:

Bên cạnh những nghề thủ công truyền thống: gốm, đan lát, mộc, xây dựng nhà cửa... tiếp tục phát triển, tăng về số lượng, cải tiến kĩ thuật, chất lượng, thì đã xuất hiện một số ngành nghề mới: rèn sắt, chế tác vàng bạc.

Kĩ thuật rèn sắt và chế tạo đồ sắt ngày càng tiến triển do học tập được kinh nghiệm rèn sắt của người Trung Hoa. Công cụ sắt có nhiều loại đa dạng như rìu, mai, cuốc, dao, vũ khí, đèn, đinh... và một số đồ dùng trong sinh hoạt gia đình.

Nghề đúc đồng vẫn tiếp tục nhưng đã dần chuyền sang sản xuất những đồ dùng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của nhân dân (nồi, niêu...) hoặc là làm các đồ mỹ thuật - trang sức bằng đồng (gương đồng, đỉnh đồng, lư hương, đồ trang sức…)

Nghề làm gốm phát triển mạnh. Nhiều loại đồ dùng trong nhà như nồi đất, vò, bình, bát, đĩa, đèn… được sản xuất ngày càng nhiều. Bên cạnh loại gốm trơn (thường) còn có loại gốm tráng men. Gạch, ngói cũng có nhiều loại khác nhau (gạch thường, gạch hình múi bưởi để xây vòm cuốn, ngói bản, ngói ống. Do ảnh hưởng của văn hóa Hán và nhu cầu của đời sống tinh thần, nghề gốm cũng đã làm các đồ minh khí, như các mô hình nhà đất nung chôn người chết…

Việc khai thác vàng, bạc, châu, ngọc trong nhân dân cũng được đẩy mạnh. Nghề chế tác đồ trang sức cũng theo đó mà phát đạt. Nhiều kiểu, loại đồ trang sức bằng vàng, bạc, ngọc được gia công tinh tế (vòng tay, nhẫn, trâm, lược, hoa tài...) chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của tầng lớp thống trị và quí tộc.

Trong quá trình giao lưu văn hóa, kinh tế với nước ngoài, người Việt đã tiếp thu một số kĩ thuật công nghệ của các nước, khai sinh thêm một số nghề thủ công mới, như nghề làm giấy, chế tạo thủy tinh dựa trên các nguyên liệu rêu biển, vỏ cây, lá cây… người Việt đã sản xuất ra các loại giấy nhất là giấy trầm hương có vân rất mỹ thuật và có giá trị. Vua nhà Tấn (cuối thế kỉ III đã sai các quan lại Trung Quốc dùng loại giấy đó để chép lại các sách Xuân Thu và Kinh truyện để dâng vua. Từ thế kỉ IV, trên cơ sở tiếp thu kĩ thuật của Ấn Độ và một số nước, người Việt đã thổi được những bình, bát bằng thuỷ tinh nhiều màu sắc xanh, tía...

Về thương nghiệp

Những chuyển biến trong nền kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp đã góp phần quan trọng thúc đẩy thương nghiệp phát triển. Bên cạnh đó, sự phong phú về tài nguyên và đặc sản của vùng nhiệt đới cũng thu hút nhiều lái buôn nước ngoài đến Việt Nam, làm cho việc buôn bán của người Việt thời Bắc thuộc có những nét khởi sắc.

Do nhu cầu của việc vận chuyển vật cống, thuế khóa thu được ở nước ta về Trung Quốc, chính quyền đô hộ dã chăm lo đến việc sửa chữa, xây đắp đường xá thông thương giữa các quận và giữa nước ta với Trung Quốc. Nhiều con đường bộ liên vùng theo các hướng Tây - Tây Nam – Đông Bắc và Nam - Tây Nam – Bắc Đông Bắc gặp nhau ở trung tâm Luy Lâu và nhiều đường thủy bộ khác trong 3 quận, cùng với đường biển được mở mang càng làm cho việc buôn bán trong nước và với nước ngoài nhất là với Trung Quốc rất phát triển. Hàng hoá bán ra các nước ngoài chủ yếu là hương liệu, lâm sản quí, vải gấm, giấy bản, đường. Hàng hoá nhập vào gồm nhiều chủng loại nhưng đại bộ phận là các hàng xa xỉ phẩm, phục vụ cho bọn quan lại đô hộ và tầng lớp quí tộc giàu có.

Sự phát triển ngoại thương một mặt, góp phần đẩy mạnh việc giao lưu kinh tế giữa các khu vực trong nước (ở Châu Giao) và giữa Châu Giao và các nước xung quanh vùng, đã có tác dụng nhất định trong việc kích thích nền kinh tế ở Châu Giao phát triển; nhưng mặt khác, lại làm giàu thêm cho bọn đô hộ và bắt nhân dân bản địa tiếp tục phải chịu ách lao dịch, bóc lột nặng nề hơn.

vNhững chuyển biến về xã hội

Trước khi các triều đại phương Bắc xâm lược và đô hộ, xã hội Âu Lạc đã có sự phân hóa phân biệt giữa người giàu kẻ nghèo giữa quí tộc và nông dân công xã, là cơ sở đưa đến sự ra đời nhà nước Văn Lang.

Năm 179 TCN, Triệu Đà và tiếp theo là các triều đại khác ở phương Bắc xâm lược và đô hộ đất nước ta. Trải hơn một nghìn năm, nhà nước Việt cổ với thiết chế xã hội là chế độ Lạc tướng đã bị xoá bỏ và đã có những biến đổi nhất định về xã hội nhất là trong cơ cấu giai cấp.

Quan hệ xã hội bao trùm trong suốt thời Bắc thuộc ở nước Âu Lạc cũ là quan hệ giữa kẻ thống trị ngoại tộc là chính quyền đô hộ và toàn thể nhân dân lao động (gồm nông dân, thợ thủ công và các tầng lớp lao động khác). Tuy nhiên, dưới tác động của chính sách đô hộ của các triều đại Trung Quốc, trong xã hội đã xuất hiện một số giai, tầng mới và bản thân trong từng tầng lớp cũng có sự phân hóa.

Thứ nhất, sự xuất hiện ngày càng đông đảo của tầng lớp địa chủ người Hán. Với chính sách chiếm đất, lập đồn điền của chính quyền đô hộ, các quan lại người Hán đã trở thành những tên địa chủ, quí tộc, quan lại nắm trong tay số ruộng đất lớn, có quyền lực về cả kinh tế lẫn chính trị.

Bên cạnh các quan lại của chính quyền đô hộ, thì còn có cả gia đình, họ hàng, bà con của bọn quan lại đô hộ đã sang lập nghiệp lâu dài ở Âu Lạc cũ. Từ cuối đời Đông Hán, đầu đời Tam Quốc rồi cuối đời Tây Tấn, do loạn lạc ở Trung Quốc, còn có nhiều người Hán vượt biên giới sang nước ta làm ăn sinh sống. Bộ phận này đã dựa và thế lực của chính quyền đô hộ, chiếm và cướp ruộng đất của làng xã, trở thành giai cấp địa chủ ngoại tộc, có thế lực kinh tế lớn trên đất nước ta.

Thứ hai, sự phân hóa của các tầng lớp cũ.

- Tầng lớp hào trưởng địa phương người Việt.

Tầng lớp này đã hình thành từ sự phân hóa xã hội thời Văn Lang – Âu Lạc, tiếp tục tồn tại và ngày càng mở rộng thế lực kinh tế. Mặc dù bị chính quyền đô hộ chèn ép, khống chế, nhưng do chúng không với tay kiểm soát được các làng xã người Việt nên họ vẫn có vai trò quan trọng, thao túng cơ sở kinh tế - ruộng đất công làng xã để bóc lột, mở rộng thế lực kinh tế. Họ trở thành tầng lớp hào trưởng địa phương có thế lực và uy tín trong nhân dân người Việt. Họ là tầng lớp phong kiến bản địa có nhiều mâu thuẫn với bọn quan lại và chính quyền đô hộ phương Bắc, có tinh thần dân tộc mạnh mẽ và chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào đấu tranh liên tục của nhân dân chống chính quyền đô hộ. Chính họ là bộ phận chủ yếu đã và sẽ đảm bảo nhận sứ mệnh lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta thời Bắc thuộc.

- Tầng lớp nông dân công xã

Sau khi phong kiến phương Bắc chiếm được nước ta, họ trở thành những người lệ thuộc chính quyền đô hộ, phải nộp tô thuế, lao dịch cho kẻ ngoại bang. Về danh nghĩa, tất cả ruộng đất của nước Âu Lạc đều thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước đô hộ. Dưới tác động của chính sách bóc lột về kinh tế, tầng lớp này có sự phân hóa sâu sắc.

Do chính sách bóc lột, vơ vệt triệt để của chính quyền đô hộ, một bộ phận nông dân bị phá sản, đi lưu tán, phải bán mình hoặc bán vợ con, trở thành nô tì. Một bộ phận khác thì biến thành nông nô, cày ruộng nộp tô cho chính quyền đô hộ trong các đồn điền của chúng.

Như vậy là, thời Bắc thuộc, xã hội Việt Nam đã có một sự chuyển biến ở mức độ nhất định. Đại bộ phận trong xã hội là nông dân công xã sống rải rác trong các làng xã cổ truyền mang tính tự trị khá rõ nét. Một bộ phận khác rơi xuống địa vị lệ thuộc cày ruộng nộp tô thuế cho bọn quan lại, hào trưởng địa phương. Một số bị biến thành nông nô, nô tì, có địa vị thấp kém nhất trong xã hội. Trong xã hội bước đầu hình thành một tầng lớp quí tộc quan lại (địa chủ) có thế lực, thuộc nhiều nguồn gốc và xu hướng chính trị khác nhau tồn tại trong đất nước ta.

Nhắn tin cho tác giả Nguyễn Hải @ 14:59 24/01/2011 Số lượt xem: 5005 Số lượt thích: 0 người

Từ khóa » Bóc Lột Về Kinh Tế