Chính Sách Dân Số | Giáo Dục Chính Trị

a) Thực trạng dân số Việt Nam và ý nghĩa giải quyết vấn đề dân số

Dân số là số lượng người sinh sống trong một lãnh thổ, một khu vực, một quốc gia hay toàn thế giới. Nói đến dân số là nói đến nhiều mặt như quy mô, chất lượng dân số, mật độ phân bố, cơ cấu dân số, sự gia tăng dân số, mối quan hệ giữa dân số và các lĩnh vực khác.

Quy mô dân số Việt Nam đến tháng 7/2013 khoảng 90,5 triệu người, là nước đông dân thứ 3 ở ASEAN (sau Inđônêxia và Philippin) và thứ 14 trên thế giới. Đó là tiềm năng to lớn về nguồn lực con người để phát triển kinh tế xã hội.

Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm (1999 - 2009) là 1,2%/năm, giảm

0,5%/năm so với 10 năm trước và là tỷ lệ tăng thấp nhất trong 50 năm qua. Sau 10 năm gần đây dân số nước ta tăng thêm 9,47 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 947 nghìn người. Với quy mô dân số lớn, đã tăng dân số cao, dân số nước ta sẽ còn tiếp tục tăng đến giữa thế kỷ XXI với hơn 100 triệu người và sẽ vào nhóm 10 nước có dân số lớn nhất thế giới. Sau 10 năm, tỷ suất sinh đã giảm mạnh từ 2,3 con xuống dưới mức sinh thay thế (2 con/phụ nữ).

Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ tăng dân số cao nhất với 3,2%/năm. Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ nhập cư rất cao, dân số tăng nhanh với tỷ lệ bình quân 2,3%/năm. Dân số ở thành thị chiếm khoảng 29,6% tổng dân sô cả nước, tăng bình quân 3,4%/năm. Tỷ lệ tăng dân số ở khu vực nông thôn là 0,4%/năm.

Tỷ số giới tính khi sinh ở mức 98,1 nam/100 nữ, tăng 1,4 nam/100 nữ so với năm 1999 nhưng có xu hướng tăng cao hom. Hiện nay tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 24,5 tuổi.

Tuổi thọ bình quân chung, theo Tổng điều tra dân số năm 2009 là 72,8 tuổi, tỷ lệ người cao tuổi hơn 9%. Tuổi thọ bình quân của nam tăng 3,7 tuổi từ 66,5 tuổi lên 70,2 tuổi; nữ tăng 5,5 tuổi, từ 70,1 tuổi lên 75,6 tuổi. Cơ cấu dân số Việt Nam đang ở giai đoạn cơ cấu dân so vàng tức là có nhiều người trong tuồi lao động.

Phân bố dân số nước ta không đều và có sự khác biệt lớn. Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có 43% số dân của cả nước. Vùng trung du, miền núi phía bắc và Tây Nguyên chỉ chiếm dưới 19% số dân cả nước. Mật độ dân số khác biệt là những thách thức rất lớn cho phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện an sinh xã hội.

Tỷ trọng dân số thành thị, nông thôn là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Việc phát triển đô thị ngoài việc xây dựng hạ tầng cơ sở, phải kèm theo việc xây dựng mạng lưới an sinh xã hội, lối sống văn hoá đô thị, chăm sóc đến con người...

Chất lượng dân sổ Việt Nam.

Chỉ số phát triển con người (HDI) để so sánh quốc tế là chỉ tiêu tổng hợp mà con người được hưởng thụ thông qua các tiêu chí thu nhập bình quân đầu người, trình độ văn hoá, tuổi thọ bình quân của người dân Năm 2008, chỉ số HDI của Việt Nam đạt 0,733 điểm, xếp thứ 105/177 quốc gia. Tỷ lệ này thấp so với nhiều nước khu vực và thế giới.

Chất lượng dân số về thể chất của người Việt Nam còn thấp. Có 1,5% dân số Việt Nam bị thiểu năng về thể lực và trí tuệ. Trong đó, số trẻ mới sinh bị dị tật bẩm sinh do di truyền khoảng 1,5 - 3%. số lượng người bị tàn tật, khuyết tật trong cả nước khoảng 5,3 triệu người (chiếm 6,3% dân số).. Trong khi đó, hàng năm vẫn chưa ngăn chặn được tình trạng gia tăng số người mới bị tàn tật, khuyết tật do tai nạn giao thông, lao động... Tầm vóc, thể lực cân nặng, sức bền của người Việt Nam so với nhiều nước trong khu vực còn hạn chế. Thanh niên Việt Nam đa số thấp, bé, nhẹ cân và yếu về sức mạnh, sức dẻo dai và sức bền.

Từ khóa » Khái Niệm Về Chính Sách Dân Số Là Gì