Cho Mấy đứa Tài Liệu Môn Thầy Trọng Nè | Facebook

CHƯƠNG 1:         NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG

 

 

 

I.Môi trường:

 

1.Các định nghĩa về môi trường:

 

Định nghĩa khái quát và phổ biến trên thế giới: “MT của một vật thể  hoặc một sự kiện là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có liên qun đến vậy thể và sự kiện đó”. Bất cứ một vật thể nào hay sự kiện nào cũng tồn tại   và diễn biến trong một MT nhất điịnh, vì thế khi nói đến MT tức nói đến một vật thể, một sự kiện nhất định. Khi nghiên cứu về các cơ thể sống, người ta đưa ra định nghĩa về MT sống của các cơ thể sống, đó là “Tổng hợp các điều kiện bên ngoài có liên quan đến sự sống và phát triển của các cơ thể sống đó”.

Đối tượng nghiên cứu của khoa học MT được nêu ra với chúng ta là “MT

 

sống của con người”.

 

2.Cấu trúc môi trường:

 

Theo các thành phần cơ bản, cấu trúc của MT được phân thành 3 thành phần vật lý (vô sinh) và 1 thành phần sinh học :

+Thạch quyển (lithosphere)

 

+Thuỷ quyển (Hydrosphere

 

+Khí quyển (Atmosphere)

 

Do không khí và nước là các thành phần linh động, dễ biến đổi, luân chuyển, lan truyền, tác động trong khu vực rộng lớn nên việc giám sát mức độ ô nhiễm của chúng bắt buộc trong hệ thống GEMS (Global Environmnent Monitoring Systems - Hệ thống quan trắc toàn cầu)  (GEMS đã có trên 350 trạm quan trắc trên 240 sông,

40 hồ và trên 60 trạm quan trắc nước ngầm ở trên 50 quốc gia và có khoảng 50 thông số chọn lọc về chất lượng nước đã được quan trắc) của LHQ. Hầu hết các quốc gia đều có mạng lưới giám sát này.

 

 

 

 

 

1

 

 

Ba quyển này là các thành phần vật lý vô sinh, được cấu thành từ các nguyên tố vật chất và chứa đựng năng lượng dưới các dạng khác nhau như thế năng, cơ năng, quang năng, hoá năng, điện năng,....

Theo mục đích và nội dung nghiên cứu, khái niệm môi trường sống của con người được phân ra thành:  môi trường thiên nhiên, môi trường nhân tạo, môi trường xã hội.

 

 

3.Các chức năng của môi trường: (theo Các TC về MT – 2008)

 

Đối với một cá thể con người cũng như đối với cộng đồng xã hội, MT sống có thể có các chức năng như sau:

1)MT trước hết là không gian sống của con người và các loài sinh vật:

 

2)MT là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt đống sản xuất của con người:

3)MT là nơi chứa đựng phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt

 

động sản xuất:

 

4)Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và Svật trên TĐ:

5)Môi trường là nơi lưu giữ và cung cấp thông tin cho con người:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2

 

 

CHƯƠNG 2:                   Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ

 

 

 

I.Khái niệm:

 

-Khí quyển bao quanh trái đất và rất cần thiết cho sự sống: oxy cần thiết cho quá trình hô hấp của động thực vát, cacbonic cần thiết cho quá trình quang hợp, nitơ là một trong những nguyên tố cơ bản của protein, ozon bảo vệ chúng ta khỏi tia tử ngoại có hại của ánh sáng mặt trời.

-Tầng khí quyển ở độ cao khoảng 200 km phía trên bề mặt trái đất và được chia thành 4 vùng chính (tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng giữa, tầng nhiệt lưu).

-Thành phần không khí bao gồm:

 

+ đối với không khí khô : là hỗn hợp của nhiều chất khí khác nhau trong đó 2 thành phần chủ yếu là nitơ và oxy.

Ngoài ra trong không khí khô còn có bụi, vi khuẩn mà tỉ lệ nhiều ít phụ thuộc vào điạ điểm, thời tiết,...

+ đối với không khí ẩm : luôn có sự bay hơi nước từ các nguồn nước tự

 

nhiên nên trong không khí còn có thêm thành phần : hơi nước, chiếm khoảng

 

0,47% thể tích.

 

- Theo TCVN 5966 – 1995, sự ô nhiễm không khí được định nghĩa là :”Sự có mặt của các chất  trong khí quyển, sinh ra từ hoạt động của con người hoặc từ các quá trình tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn, thời gian đủ lâu chúng sẽ ảnh hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu, sức khoẻ hoặc lợi ích của người hoặc môi trường”.

II. Các chất ô nhiễm môi trường không khí và tác hại của chúng:

 

1.Bụi và các sol khí:

 

-Bụi là những chất ở dạng rắn hay lỏng có kích thước nhỏ, nhờ sự vận động của khong khhí trong khí quyển mà nó có thể phân tán trong một diện rộng. Bụi được đặc trưng bằng thành phần hoá học, thành phần khoáng, kích thước hạt.

 

 

 

 

 

3

 

 

Tuỳ theo kích thước mà bụi có thể chia làm 3 loại được phân biệt bởi nguồn gốc và tính chất như sau:

+ d < 0,3 µm : nhân ngưng tụ, chuyển động như những phân tử khí, có nguồn gốc từ quá trình ngưng tụ, thời gian lưu lớn.

+ 0,3 µm <d < 3 µm ( kích thước trung bình), chuyển động theo quy luật Brown và được tách khỏi khí nhờ mưa, đựoc hình thành từ những hạt nhỏ, thời gian lưu trung bình.

+ d > 3 µm : bụi thô , hình thành từ sự phân tán cơ học (phân ly nhỏ) của những hạt lớn được thu hồi qua quá trình lắng.

-Sol khí là hỗn hợp những phân tử lơ lửng phân tán trong không khí, tương đối bền, khó lắng và đặc điểm của bụi và sol khí : có khả năng tạo hợp chất với một số kim loại hiếm. Nó là phương tiên chính để chứa kim loại nặng trong khí quyển.

-Bụi và sol khí lơ lửng có tác dụng hấp thụ và khuếch tán ánh sáng mặt trời, làm giảm độ trong suốt của khí quyển( giảm tầm nhìn).

2. Các chất gây ô nhiễm dạng khí:

 

Khí quyển là một hệ động với nhiều thành phần khí khác nhau, trong đó có sự trao đổi liên tục với các động vật, thực vật; với đại dương; với đất theo các quá trình vật lí, hóa học. Các chất khí mới lại có thể                          được sinh ra bởi các quá trình chuyển hóa ngay trong khí quyển, bởi các hoạt động sinh học, quá trình phun các núi lửa, phân huỷ phóng xạ và các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt của con người. Các khí cũng có thể được loại khỏi khí quyển bởi các phản ứng hóa học, bởi hoạt động sinh học, bởi các quá trình vật lí diễn ra trong khí quyển (như sự tạo thành các hạt) bởi sự sa lắng và sự thu hút của đại dương và đất.

Thời gian lưu trung bình của một phân tử khí sau khi được đưa vào khí quyển có thể từ hàng giờ cho tới hàng triệu năm phụ thuộc vào chất khí cụ thể. Vì vậy, để đánh giá tác động gây ô nhiễm của chúng cần phải xét đến chu trình chuyển

 

 

 

 

 

4

 

 

hóa của chúng từ lúc phát sinh cho tới khi bị loại khỏi khí quyển. Sau đây chúng ta xem xét một số chất chính gây ô nhiễm môi trường không khí.

a. Các hợp chất có chứa lưu huỳnh (S):

 

Các hợp chất có chứa lưu huỳnh chủ yếu có trong khí quyển là : SO2, SO3, H2S, H2SO4  và các muối sunfat. Các nguồn tạo ra chúng chủ yếu là các quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch, sự phân hủy và đốt cháy chất hữu cơ chứa lưu huỳnh, các hoạt động của núi lửa. Các hợp chất lưu huỳnh tồn tại trong không khí một thời gian rồi sau đó lại sa lắng xuống đất hay các đại dương.

Khí dioxyt lưu huỳnh SO2, trioxit lưu huỳnh SO3:

 

Trong khí quyển, khí sunfua dioxit (dioxyt lưu huỳnh) bị oxi hóa thành SO3

 

theo quá trình oxi hóa xúc tác hay oxi hóa quang hóa.

 

Trong điều kiện độ ẩm cao SO2 dễ bị các giọt nước có lẫn nhiều bụi hấp thụ thì quá trình oxi hóa diễn  ra rất thuận lợi với điều kiện có mặt các chất xúc tác (thường là muối của Fe3+ Mn2+... chính chúng là thành phần của bụi). NH3 có trong không khí cũng làm cho phản ứng tăng nhanh và làm tăng độ tan SO2 trong giọt nước, có thể tạo ra amôni sunphát.

Còn quá trình oxi hóa quang hóa liên quan với điều kiện độ ẩm và ánh sáng. SO2 được hoạt hóa và có năng lượng lớn và tác dụng với O2 với tốc độ nhanh thành SO3. quá trình này càng nhanh khí trong khí quyển có oxit nitơ và hidrocacbon

Sunfuatrioxit (trioxyt lưu huỳnh) được tạo ra từ SO2, phản ứng ngay với

 

H2O tạo nên H2SO4  kết hợp dễ dàng với các giọt sinh ra một dung dịch H2SO4. Trong khí quyển có NH3  hay các hạt NaCl thì Na2SO4. HCl sẽ hình thành. Như vật SO2 tồn tại trong khí quyển cũng chỉ được tính hàng ngày.

SO2  là khí tương đối nặng nên thường ở gần mặt đất, ngang tầm sinh hoạt của con người, nên là khí ô nhiễm và tác động trực tiếp đến cuộc sống. SO2  là khí dễ tan trong nước nên dễ phản ứng với cơ quan hô hấp của người và động vật khi xâm nhập vào cơ thể. Ở hàm lượng thấp, SO2 làm sưng niêm mạc, ở hàm lượng cao

 

 

 

5

 

 

( > 0,5mg/m3 ) gây tức thở, ho, viêm loét đường hô hấp. Khi có mặt cả SO2 và SO3

 

sẽ gây tác động mạnh hơn, thậm chí có thể gây co thắt phế quản và đến tử vong.

 

SO2    tạo nên H2SO4, là thành phần chính của mưa axit, làm thiệt hại mùa màng, nhiễm độc cây trồng, giảm tuổi thọ của các sản phẩm vải, nilông, tơ nhân tạo, đồ dùng bằng da, giấy, ảnh hưởng đến chất  lượng của các công trình xây dựng…

Khí sunfua hidro H2S:

 

Khí sunfua hidro là khí độc hại, không màu sắc nhưng có mùi khó chịu ( mùi trứng thối ) được đưa vào khí quyển với những lượng rất lớn từ có nguồn tự nhiên và nhân tạo. Khí H2S xuất hiện trong khí thải của các quá trình sản xuất có sư dụng nhiên liệu hữu cơ chứa  lưu huỳnh; các quá trình tinh chế dầu mỏ, tái sinh sợi hoặc khu vực chế biến thực phẩm, xử lý rác thải. Một phần H2S phát sinh trong tự nhiên bởi quá trình thối rữa của các chất hữu cơ dưới tác dụng của vi khuẩn từ rác thải, cống rãnh, bờ biển, ao tù, hồ nước cạn, kể cả từ các hầm lò khai thác than, các vệt núi lửa.

Trong không khí, 80% H2S bị oxi hóa thành SO2 do oxi hoặc ozon.

 

H2S +  O3   = H2O +  SO2

 

Tốc độ phản ứng diễn ra trong điều kiện thời gian tồn tại của H2S với nồng độ một phần tỉ khi tiếp xúc với O3, nồng độ 0,05ppm trong điều kiện trong không khí có  15.000 hạt bụi / cm3  vào khoảng 2 giờ. Vì H2S, O2, O3  đều hòa tan được trong nước nên tốc độ oxi hóa H2S trong sương mù, các giọt lỏng trong mây diễn ra rất nhanh. Như vậy sự tồn tại của H2S trong khí quyển được tính hàng giờ.

Khí sunfua hidro có thể gây độc hại như sau: ở nồng độ thấp gây nhức đầu, khó chịu; ở nồng độ cao (> 150ppm) gây tổn thương màng nhày của cơ quan hô hấp, viêm phổi; ở nồng độ khoảng 700ppm đến 900ppm có thể xuyên màng phổi, xâm nhập mạch máu, dẫn đến tử vong.

 

 

 

 

 

6

 

 

Đối với thực vật, H2S làm tổn thương lá cây, rụng lá, giảm khả năng sinh trưởng.

b. Oxyt Cacbon

 

Cacbon monoxit CO:

 

Cacbon monoxit CO là chất khí không màu, không mùi, là khí ô nhiễm phổ biến trong phần dưới của tầng khí quyển. Nguồn CO nhân tạo chủ yếu được phát ra từ quá trình cháy không hoàn toàn các nhiên liệu hóa thạch. Ngày nay, qua nhiều nghiên cứu đã chứng minh  rằng nguồn phát sinh ra CO tự nhiên còn lớn gấp 10-15 lần nguồn CO nhân tạo.

Các nguồn phát sinh CO tự nhiên là:

 

Sự oxi hóa metan khởi đầu bằng phản ứng giữa metan với gốc HO-

 

CH4   + HO·                         CH3·   + H2O

 

Phản ứng này có hằng số vận tốc bằng 1014  cm3/mol/s ở 250C. Sau đó, một chuỗi các phản ứng phức tạp khác diễn ra dẫn đến sự hình thành CO. Lượng CO từ nguồn này gấp 10 lần lượng CO nhân tạo. Trong  phần dưới của khí quyển, khi nồng độ CH4  vào khoảng 1,5ppm (theo thể tích), lượng CH4  do phân huỷ sinh học

chất hữu cơ diễn ra trong đầm lầy với lượng toàn cầu ước tính 9.1013  mol/năm, thì

 

nồng độ CO trong khí quyển ước tính bằng 0,12 - 0,15ppm.

 

Ngoài ra, người ta đánh giá được rằng lượng CO tạo ra từ các đại dương vào khoảng 10% CO tạo ra từ các quá trình đốt cháy.

Trong tự nhiên CO bị loại trừ bởi một số quá trình:

 

- Phản ứng giữa CO với gốc HO·  trong tầng đối lưu và bình lưu

 

CO +  HO-   →  CO2   + H+

 

- Được đất hấp thụ, bị oxyhóa để trở thành dioxytcacbon CO2. Nguyên nhân của sự loại trừ CO này là do kết quả của sự hoạt động sinh học diễn ra trong đất.

 

 

 

 

 

 

 

 

7

 

 

Bản chất của CO là khí độc, nếu xâm nhập vào cơ thể, CO tác dụng với hồng cầu trong máu tạo hợp chất bền vững, làm giảm hồng cầu, giảm khả năng hấp thụ, vân chuyển O2 của hồng cầu di nuôi các tế bào của cơ thể.

HbO2   + CO → HbCO +  O2

 

Ngộ độc nhẹ CO có thể để lại di chứng thiếu máu, hay quên. Ngộ độc nặng gây ngất, lên cơn co giật, liệt tay chân và có thể dẫn đến tử vong trong vòng vài ba phút khi nồng độ vượt quá 2%. Thực vật khi tiếp xúc với CO ở nồng độ cao sẽ bị rụng lá, xoăn quăn, cây non có thể chết yểu.

Nhung nếu nồng độ O2  cao thì O2  sẽ đẩy được CO ra khỏi Hb đưa về trạng thái bình thường :

HbCO +  O2 → Hb.O2   + CO

 

Cacbon dioxit CO2:

 

CO2  vốn có trong thành phần của không khí sạch, ngoài ra có thể được phát sinh khi đốt cháy hoàn toàn nguyên nhiên liệu chứa cácbon và trong quá trình hô hấp của động thực vật. Hàng năm, chỉ riêng trong quá trình chế biến và sử dụng than đá, con người đã thải vào khí quyển 2.109  tấn CO2, tuy nhiên một nửa lượng này  được hơi nước và thực vật hấp thụ, phần còn lại tồn lưu trong môi trường không khí.

Khí CO2 ở nồng độ thấp không gây nguy hiểm cho người và động vật nhưng ở nồng độ cao sẽ gây nguy hại. Khí CO2  là một trong các khí nhà kính nên việc tăng hàm lượng CO2 trong khí quyển sẽ gây nên sự gia tăng hiệu ứng nhà kính.

Đối với thực vật, khí CO2 có ảnh hưởng tốt, tăng cường khả năng quang hợp nhất là trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm.

c. Các hợp chất chứa nitơ :

 

Các hợp chất chứa nitơ quan trọng trong khí quyển là N2O, NO, NO2, NH3 và các muối nitrat, nitrit, và amoni.

● Các oxyt nitơ:

 

 

 

8

 

 

Các oxyt nitơ thường viết tắt là NOx phát sinh qua các đốt cháy các nhiên liệu ở nhiệt độ cao, qua quá trình sản xuất hóa học có sử dụng niơ; Trong tự nhiên, từ sự oxyhóa nitơ của không khí do sét, khí núi lửa và các quá trình phân hủy vi sinh vật. Trong các NOx  thì NO và NO2  được coi là những                                         chất điển hình gây ô nhiễm không khí. Cac oxit nitơ khác tồn tại trong không khí với nồng độ rất nhỏ và không gây lo ngại về ô nhiễm. Tuy nhiên ở hạ tầng khí quyển thì N2O là oxit nitơ phổ biến nhất, nó là sản phẩm của hoạt động sinh học, nó cũng là một nguồn tạo ra NO trong tầng đối lưu, và bình lưu nơi có oxi nguyên tử tạo ra do sự phân li quang hóa của

O3 :

 

N2O +  O → 2NO

 

NO là khí không màu, không mùi, không tan trong nước. Khi xâm nhập vào cơ thể nó có thể tác dụng với hồng cầu trong máu, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu, dẫn đến bệnh thiếu máu.

NO2  là khí có màu nâu nhạt, mùi hắc, có tính kích thích, dễ tan trong nước. Khi xâm nhập vào cơ thể nó có thể tạo thành axit qua đường hô hấp hoặc tan vào nước bọt, vào đường tiêu hóa sau đó vào máu, gây nguy hiểm cho cơ thể.

NOx  tác dụng với hơi nước trong khí quyển, tạo thành axit HNO3, như vậy cùng với axit H2SO4, là thành phần chính của mưa axit, làm thiệt hại mùa màng, nhiễm độc cây trồng, giảm tuổi thọ của các sản phẩm vải, nilông, tơ nhân tạo, đồ dùng bằng da, giấy, ảnh hưởng đến chất lượng của các công trình xây dựng…

NO và NO2  có vai trò nhất định trong việc hình thành khói mù quang hóa và là một trong bốn nguyên  nhân chính phân hủy ozôn, gây nên nguy cơ suy giảm tầng ôzon hiện nay.

NO + O3   → NO2  + O2

 

NO2   + O3 → NO3* +  O2            NO3* trạng thái kích hoạt. NO3* + NO → 2NO2

Amoniac NH3:

 

 

 

9

 

 

Amoniac phát sinh chủ yếu được tạo ra từ nguồn tự nhiên qua các quá trình phân chất hữu cơ của xác động thực vật; ngoài ra có trong thành phần khí thải của các nhà máy sản xuất hóa chất, phân đạm, trong các hệ thống thiết bị làm lạnh có sử dụng NH3. Trong môi trường không khí NH3  có thể tham gia vào các quá trình như: Hấp thụ lên các bề mặt ướt hoặc phản ứng với các chất có tính axit trong pha khí hay pha ngưng tụ tạo ra ion amoni NH4+; Oxi hóa thành NO3-.

NH3 có mùi khó chịu và gây viêm đường hô hấp cho người và động vật. Khi

 

tan vào nước gây nhiễm độc cá và hệ vi sinh vật nước. Thực vật bị nhiễm NH3  ở

 

nồng độ cao sẽ bị bệnh đốm lá; giảm tỉ lệ nảy mầm ở hạt giống.

 

Các muối nitrat và amoni thường không thải lên khí quyển với bất kì lượng đáng kể nào, mà chỉ sinh  ra  do sự chuyển hóa của NO, NO2  và NH3  trong khí quyển. Như vậy các oxit nitơ cuối cùng được chuyển hóa thành nitrat và tiếp đó được loại khỏi khí quyển do mưa hoặc được sa lắng khô.

d. Các hợp chất hữu cơ :

 

Các hợp chất hữu cơ nói chung chiếm tỉ lệ khá lớn trong các chất gây ô nhiễm và lại gây nhiễm độc lâu dài, đi vào khí quyển từ nhiều nguồn tự nhiên và nhân tạo khác nhau, nên không thể tiến hành những đo đạc cho tất cả các loại riêng rẽ, hoặc xác định tốc độ phát tán riêng rẽ của chúng được. Vì vậy khi xem xét các hợp chất hữu cơ gây ô nhiễm không khí thường chỉ xét tới lượng của một số loại nhất định. Những hidrocacbon có trong khí quyển ở dạng khí (có từ 1 - 5 cacbon) được chú ý nhiều hơn ở mặt ô nhiễm. Ngoài ra còn có các chất ở dạng hạt gồm các hidrocacbon không bay hơi.

Các hợp chất hữu cơ phát sinh chủ yếu từ quá trình đốt cháy nhiên liệu như than đá, dầu mỏ, gỗ; từ khí thải của các quá trình sản xuất của các nhà máy lọc dầu, khai thác, chế biến và vận chuyển nhiên liệu hoặc từ nhiều ngành công nghiệp có sử dụng dung môi hữu cơ hay các hợp chất hữu cơ như sơn, in, dệt nhuộm, công nghiệp dược phẩm và mỹ phẩm.

 

 

 

10

 

 

Nếu xét theo góc độ ô nhiễm không khí thì khả năng phá hoại của các hợp chất hữu cơ trong khí quyển là do các sản phẩm tạo ra  từ các phản ứng của chúng, điển hình là sự tồn tại của các gốc tự do trong môi trường không khí hay hỗn hợp khói quang hóa.

 

 

III. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí:

 

Có 2 loại nguồn gây ra ô nhiễm cơ bản đối với môi trường không khí nói chung:

Nguồn ô nhiễm thiên nhiên và nguồn ô nhiễm nhân tạo.

 

1.Nguồn ô nhiễm công nghiệp : do các  ống khói của các nhà máy thải vào không khí nhiều chất độc hại, hoặc phát sinh từ quá trình công nghệ sản xuất do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất, các đường ống dẫn.

Nhà máy nhiệt điện : nhiên liệu than, dầu. Ô nhiễm lớn vùng xung quanh.

 

Xí nghiệp hoá chất:thải nhiều chất độc hại thể khí và thể rắn. Các chất khí của nhà máy hoá chất thải ra kết hợp với các khí khác đôi khi tạo ra chất có độc tính cao hơn nhiều.

Nhà máy luyện kim: rất nhiều bụi (kích thước to 10 - 100µm) phát sinh từ công việc tuyển quặng, sàng lọc, đập nghiền; các hoá chất độc hại SO2, NOX  được sản sinh trong quá trình đốt cháy nhiên liệu; bụi và CO sản sinh trong quá trình luyện gang; hơi và bụi rất độc hại như oxit đồng, asen, thuỷ ngân ... sản sinh trong quá trình luyện đồng và các kim loại màu khác.

Chất thải nhà máy luyện kim có đặc điểm : nhiệt độ cao (300 – 400oC có khi

 

800oC), phân bố rộng. Ngoài ra vùng lân cận nhà máy luyện kim còn bị ô nhiễm bởi các sân bãi, kho chứa nguyên liệu, vận chuyển, các xưởng đúc, các lò, băng chuyền,....

Xí nghiệp cơ khí : nguồn gây ô nhiễm chính là xưởng đúc và xưởng sơn.

 

 

 

 

 

 

11

 

 

Nhà máy công nghiệp nhẹ: ví dụ nhà máy đóng giày thải ra nhiều bụi da, sol khí sơn, quang dầu, axeton,....

Nhà máy vật liệu xây dựng, nhà máy xi măng, xưởng làm gạch ngói....đặc biệt đối với lò nung gạch và nung vôi với công nghệ lạc hậu nên chất độc hại do chúng thải ra rất lớn. chất thải chủ yếu là bụi và chất khí thải ra trong quá trình đốt nhiên liệu than như SO2, NO, CO.

2.Nguồn ô nhiễm giao thông vận tải:

 

Cũng là nguồn gây ô nhiễm lớn.

 

Chúng sản sinh ra gần 2/3 khí CO và ½ khí hydro cacbon và khí oxit nitơ

 

3.Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt của con người:

 

Chủ yếu là bếp đun, lò sưởi sử dụng nhiên liệu than đá, củi dầu và khí đốt. Nguồn ô nhiễm này có đặc điểm là gây ô nhiễm cục bộ trong một phạm vi nhỏ ( nhà, phòng). Đặc biệt khi dùng than để đun nấu, nồng độ CO tại bếp đun thường lớn và nếu đun trong phòng kín có thể gây tai hoạ đối với con người.

Cống rãnh và môi trường nước mặt, ao hồ, kênh rạch, sông ngòi bị ô nhiễm cúng bốc hơi, thoát khí độc hại và gây ô nhiễm môi trường không khí. Ở các đô thị chưa thu gom và xử lý rác tốt thì sự thối rửa, phân huỷ chất hữu cơ hoặc chôn ủ không đúng kỹ thuật cũng là một nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí.

Các khí ô nhiễm từ các nguồn thải sinh hoạt trên chu ryếu là khí metan CH4, ure CO(NH2)2 và mùi hôi thối, các khí này đã làm bẩn không khí khu dân cư ở đô

thị.

 

Quá trình gây ô nhiễm không khí xảy ra theo các bước sau :

 

- Phát sinh từ nguồn gây ô nhiễm (chất gây ô nhiễm hay tác nhân ô nhiễm)

 

- Phát tán, lan truyền trong khí quyển, khi này khí quyển chính là môi trường rộng lớn với nhiều yếu tố  động để xảy ra nhiều quá trình hóa học, hóa lý, hóa sinh… của các chất gây ô nhiễm.

 

 

 

 

 

12

 

 

- Tác động đến bộ phận tiếp nhận là động thực vật, con người, các công trình xây dựng, đồ vật ...

IV.Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tới môi trường sống:

 

Một số các loại vi khuẩn gây bệnh tồn tại và truyền bệnh theo đường không khí như: các loại trực khuẩn lao, bạch hầu, dịch hạch, tụ cầu vàng,...( tồn tại trong không khí từ 3-70 ngày)

Hít thở không khí có chứa SO2 gây co thắt phế quản, nếu nồng độ lớn gây ra hịên tượng tăng tiết ở thành cổ họng.

CO và CO2 với nồng độ lớn hơn 100 ppm gây nhiễm độc cấp tính

 

Các chất có chứa flo (từ quá trình đốt cháy tự nhiên gây ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.

Các loại thuốc trừ sâu có chứa clo (như DDT) với nồng độ 10 mg/m3  không khí làm cho hệ thần kinh bị tổn thương.

Ví dụ : một số khu vực dân cư đã xuất hiện bệnh ung thư vòm họng do sống

 

ở các khu công nghiệp gây ô nhiễm không khí.

 

V. Hoá học của các hiện tượng ô nhiễm không khí:

 

1. Khái niệm về phản ứng quang hóa trong khí quyển :

 

Phản ứng quang hóa hay quá trình quang hóa  được hiểu là hàng loạt những phản ứng hóa học xảy ra trong đó năng lượng cần thiết cho phản ứng là bức xạ điện từ (năng lượng mặt trời vùng tử ngoại hay vùng khả kiến).

Phản ứng quang hóa được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn một là giai đoạn khơi mào, chất tham gia phản ứng hấp thụ bức xạ điện từ (một photon ) thích hợp, chuyển lên trạng thái kích hoạt, có khả năng tham gia phản ứng mạnh mẽ, có thể

biểu diễn :

 

A + hυ →    A*

 

Trong đó A*  chỉ trạng thái kích hoạt của A. A có thể là nguyên tử, phân tử

 

hay ion, còn A* có thể coi như một hình thái hóa học hoàn toàn mới so với A

 

 

 

13

 

 

A* sau đó có thể tham gia vào các quá trình sau :

 

- Phản ứng tỏa nhiệt       : A* →  A +  E     với E là năng lượng giải phóng

 

- Phản ứng phát huỳnh quang (phát xạ)     : A* → A + hυ

 

- Phản ứng khử hoạt tính do va chạm : A* + M → M* +  A

 

Năng lượng lượng của phần tử bị kích thích do phản ứng quang hóa được chuyển cho phần tử khác, làm cho chúng trở thành kích hoạt, gọi là phản ứng trao đổi năng lượng liên phân tử. Ngoài ra, năng lượng còn có thể trao đổi ngay trong phân tử, làm biến đổi phân tử từ trạng thái kích thích này sang trạng thái kích thích khác:        A*  → A1*

- Phản ứng ion hóa: A* → A+   + e

 

Năng lượng do photon cung cấp đủ lớn, thì các electron không những chỉ bị đẩy lên trạng thái có năng  lượng cao hơn mà còn bị đẩy ra ngoài phạm vi ảnh hưởng của liên kết hóa học của phân tử, trở thành các electron tự do và biến nguyên tử hay phân tử đó thành ion dương.

-Phản ứng hóa học: Các phần tử bị kích hoạt là những chất có hoạt tính hóa học rất cao, rất dễ tham gia vào các phản ứng hóa học tạo thành những hợp chất mới trong khí quyển, khi này gọi là các phản ứng quang hóa học. Đây là những phản ứng quan trọng nhất trong khí quyển và có thể chia thành các dạng như sau:

Liên kết quang hóa: Khi các phần tử kích hoạt liên kết với các phân tử khác mà nó gặp, tạo ra hợp chất mới mà không cần điều kiện nhiệt độ, áp suất.

A* + B → C  +  D +  …

 

Ví dụ: NO2* kích hoạt liên kết với các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi tạo nên các hợp chất nitro rất độc mà ở điều kiện bình thường không tạo ra được.

Phân li quang hóa: Khi các phần tử kích hoạt có năng lượng lớn hơn năng lượng liên kết hóa học nhiều, sẽ bị phân li thành các hợp chất mới

A* → B  +  C  +  …

 

 

 

 

 

 

14

 

 

Ví dụ: NO2* kích hoạt phân li tạo ra oxyt NO và oxy O nguyên tử có tính oxyhóa rất mạnh, sẽ tiếp tục tác dụng với chất khác.

Đồng phân tự phát: Năng lượng dư trong các phân tử kích hoạt có thể làm thay đổi các liên kết trong phân tử, tạo ra đồng phân.

Đặc điểm quan trọng của phản ứng quang hóa là có tính chọn lọc, vì quá trình hấp thụ năng lượng của photon chỉ xảy ra với những phần tử nhất định thích hợp có khả năng hấp thụ, cũng như mỗi photon chỉ có khả kích thích những phần tử ở giai đoạn đầu tiên.

Nói chung phản ứng quang hóa ở hạ tầng khí quyển bị hạn chế, bởi lẽ không có một bức xạ nào với bước sóng nhỏ hơn 290nm (bức xạ tử ngoại) đi tới được tầng đối lưu. Ozon và một số chất trong tầng bình lưu hầu như đã hấp thụ tất cả bức xạ có bước sóng nhỏ hơn 290nm. Vì vậy, về mặt ô nhiễm không khí mà nói, những chất hấp thụ được chú ý đến là những chất hấp thụ bức xạ điện từ có bước sóng trong khoảng từ 300nm đến 700nm.

Các phản ứng quang hóa có vai trò quan trọng trong ô nhiễm không khí, vì những sản phẩm của chúng (chủ yếu là các gốc tự do) có khả năng khơi mào hoặc tham gia vào một số lớn các phản ứng khác liên quang đến sự chuyển hóa của các chất ô nhiễm sơ cấp thành chất ô nhiễm thứ cấp. Trong số các chất ô nhiễm sơ cấp như NO, CO, NO2, SO2, hidrocacbon,... thì chỉ có NO2  là chất hấp thụ chính các bức xạ có bước sóng phổ biến trong vùng hạ tầng khí quyển. Sau đây chúng ta xét một số phản ứng quang hóa điển hình gây nên sự ô nhiễm môi trường không khí.

2 . Các phản ứng quang hóa của oxit nitơ trong khí quyển:

 

Nitơ là thành phần chính trong khí quyển, phân tử N2 khá lớn có năng lượng liên kết là 942kJ/mol nên quá trình phân ly quang hóa của N2 đòi hỏi các photon có bước sóng nhỏ hơn 169nm, có nghĩa là chỉ có thể xảy  ra ở tầng bình lưu. Với photon có bước sóng nhỏ hơn 169nm, phản ứng quang hóa của N2  có thể xảy ra như sau:

 

 

 

15

 

 

- N2     + hυ → N2+   + e

 

- N2+     +   O2  → NO+  + NO

 

- NO+  + e  → No   + O

 

NO, NO2  giữ vai trò quan trọng về hóa học của sự ô nhiễm môi trường không khí. NO2  rất bền với phản ứng quang hóa, chỉ với photon có bước sóng nhỏ hơn 430nm mới tạo thành NO2* kích hoạt. Ở bước sóng nhỏ hơn 398nm, NO2    bị phân ly quang hóa tạo ra NO và O:

NO2*  →  NO +  O

 

NO và O tiếp tục tham gia vào quá trình phân hủy ozôn, NO cung có thể tiếp tục phản ứng với gốc OH- trong nước mưa, tạo axit, rơi xuống tầng đối lưu theo các phản ứng:

NO + HO-   →   HNO2

 

NO + H2O →   HNO2   + H+

 

Đây cũng là những quá trình có vai trò làm giảm tạm thời oxyt NO trong khí quyển. Một số phản ứng khác có thể được xảy ra như sau:

O3 + NO → NO2   + O2

 

O + NO2   → NO + O2

 

O + NO2 + M → NO3 + M NO3 + NO → 2NO2

NO3 + NO2 → N2O5

 

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, nếu trong không khí có NO2  thì sự oxi hóa SO2 thành sunfat xảy ra rất dễ dàng; và chỉ cần một lượng nhỏ NO2* kích hoạt cũng đủ để khởi động chuỗi các phản phức tạp sinh sản ra hỗn hợp khói mù quang hóa.

3. Các phản ứng cộng trong hệ NOx, H2O, CO và không khí :

 

Một trong các đặc trưng của khí quyển vùng thành phố có chứa nhiều oxyt nitơ là sự tạo thành lượng lớn ozon . Trong không khí còn có một loạt các phản ứng khác có liên quan giữa NO2 với hơi nước và CO.

 

 

 

16

 

 

Khi có mặt H2O, N2O5 bị thủy phân tạo ra axit nitrit : N2O5 + H2O → 2HNO3

HNO3 có thể oxi hóa NO :

 

2HNO3   + NO  →   3NO2  + H2O Các phản ứng sau cũng có thể xảy ra :

HNO3   + NO → HNO2   + NO2

 

HNO3   + HNO2   → 2NO2   + H2O Axit nitrơ được tạo ra theo phản ứng :

NO + NO2 + H2O → 2 HNO2

 

Axit nitrơ hấp thụ bức xạ và thực hiện phản ứng quang phân với tốc độ nhỏ

 

bằng 1/10 tốc độ quang phân NO2 :

 

HNO2   + hυ →   NO +  HO.

 

Phản ứng quang phân HNO2  rất quan trọng vì nó tạo ra gốc tự do hidroxyl

 

HO. có hoạt tính cao, có tác dụng khơi mào cho một loạt các phản ứng khác, ví dụ : HO. + NO2 → HNO3

HO+ + NO → HNO2

 

Các nhà nghiên cứu về hóa học vũ trụ cũng phát hiện rằng nitơ oxit NO dưới tác dụng của tia bức xạ với sự có mặt một lượng lớn cacbon oxit CO sẽ bị oxi hóa hoàn toàn thành NO2. Quá trình này lại hình thành gốc tự do mới là hidropeoxyl

HO2. hoặc hidroxyl HO.. Các phản ứng diễn ra như sau :

 

HO. + CO → CO2 + H+

 

H+ + O2 + M → HO2.   + M HO2.  + NO → HO. + NO2

HO2. + HO2.  → H2O2 + O2

 

4 . Các phản ứng quang hóa của các hidrocacbon trong khí quyền :

 

 

 

 

 

 

 

 

17

 

 

Các công trình nghiên cứu về hóa học vũ trụ cũng chứng minh rằng sự có mặt của các chất hữu cơ trong khí quyển làm tăng các quá  trình chuyển hóa quang oxi hóa NO tạo ra O3.

Việc  giải  thích  cơ  chế  của  các  phản  ứng  giữa  các  chất  oxi  hóa  và

 

hidrocacbon (tạo các chất ô nhiễm thứ cấp) rất phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau. Nói chung phản ứng có xảy ra được hay không; tốc độ như thế nào; thời gian tồn tại của các sản phẩm tạo thành phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố...

Các phản ứng của chính thường xảy ra với ba loại hidrocacbon phổ biến nhất là parafin, olefin và hidrocacbon thơm với O, HO+  và O3, được coi là những nhất oxi hóa quang trọng nhất trong khí quyển.

Các phản ứng với oxi nguyên tử O: Các nguyên tử oxi được tạo ra chủ yếu do phản ứng quang phân của NO2. Oxi nguyên tử phản ứng nhanh với olefin nhưng lại chậm với anken và aren.

- Khi oxi nguyên tử tác dụng với parafin giải phóng gốc ankyl và HO+

 

RH + O →    R+   + HO.

 

- Khi oxi nguyên tử tác dụng với olefin tạo ra một epoxit ở trạng thái kích thích, epoxit này lại phân hủy thành hai gốc là ankyl và axyl :

 

 

R1                                R3                                  R1                                R3

 

C = C                                       C = C

 

R2                                R4             (1)                  R2              O        R4         (2)

 

 

 

R2                                                                                                  R3

 

 

 

R      C. + R4          C. hay R1        C . +    R2         C.       v.v...

 

 

 

R3                          O                 O                  R4

 

 

 

18

 

 

 

- Với  các aren: hiện nay cơ chế phản ứng của nguyên tử oxi với các aren còn chưa rõ.

Các phản ứng oxi hóa của gốc hidroxyl: Các gốc hidroxyl đi vào khí quyển do sự quang phân HNO2 và từ các phản ứng thoái biến của các gốc tự do.

Các phản ứng của gốc tự do HO. với các hidrocacbon cũng tương tự như các

 

phản ứng của oxi nguyên tử với hidrocacbon, tuy nhiên thường nhanh hơn rất nhiều, tạo ra gốc ankyl và nước .

RH +  HO.   →  R. + H2O

 

Tốc độ phản ứng của một parafin thường tăng theo số nguyên tử hidro có trong phân tử, đặc biệt nguyên tử hidro ở cacbon bậc 2 và 3.

Các phản ứng oxi hóa của ozon O3: Trong khí quyển, ozon bắt đầu được tạo ra với lượng đáng kể khi nồng độ NO2 đạt tới khoảng 25 lần nồng độ NO. Ozon là chất oxi hóa không mạnh bằng oxi nguyên tử hay HO.. Nhưng với nồng độ bằng hay lớn hơn 0,25ppm thì phản ứng giữa O3  và olefin diễn ra với tốc độ đáng kể. Những trường hợp nồng độ O3 như vậy vẫn thường có ở trong không khí ô nhiễm.

Phản ứng quang hóa của các hidrocacbon chứa oxi trong không khí cũng là một nguồn lớn tạo ra nhiều chất ô nhiễm thứ cấp. Trong khí thải của các động cơ chạy xăng có các andehit và xeton, lượng chất hữu cơ này chiếm 1,5% tổng các hidrocacbon của khí thải. Bởi vậy, các hidrocacbon có chứa oxi trong khí quyển có thể tham gia phản ứng oxi hóa và tạo ra nhiều gốc tự do. Một số phản ứng có thể liệt kê như sau:

- Phản ứng quang phân andehit: các andehit bị quang phân dưới tác dụng các bức xạ mặt trời ở các bước sóng lớn hơn 300nm, phản ứng gãy mạch, tạo gốc ankyl tự do ở trạng thái kích hoạt.

RCHO + hυ          R* + HCO

 

 

 

 

 

 

19

 

 

Tốc độ phản ứng quang phân này bằng 1% tốc độ quang phân NO2. Ví dụ đối với fomandehit, ta có phản ứng :

HCHO +Hυ           H2 + CO

 

- Phản ứng oxi hóa andehit bằng nguyên tử oxi tạo ra 2 gốc tự do : axyl và

 

 

 

HO.

 

 

 

O + RCHO             RC = O +  HO.

 

- Phản ứng oxi hóa andehit bằng gốc hydroxyl HO tạo gốc axyl

 

HO. + RCHO           R-C = O  +   H2O

 

Phản ứng diễn ra với tốc độ khá nhanh nên phản ứng được coi như là một

 

 

 

quá trình quan trọng để loại andehit ra khỏi khí quyển.

 

Như vậy từ các phản ứng trên trong khí quyển thường tồn tại ba loại gốc tự do là gốc ankyl R., gốc axyl RCO. , gốc ankoxyl RO.  (kể cả HO.). các gốc này có hoạt tính cao nên có thể kết hợp ngay với oxi phân tử tạo các gốc peoxi :

ROO. gốc peoxiankyl (kể cả HO2)

 

RCOO. gốc peoxiaxyl

 

O

 

tiếp tục tạo ra gốc axylat R - CO.

 

O

 

 

 

RO*   + NO  →    RONO (nitroankyl)

 

 

 

RCOO* + NO2                     RCOONO2 peoxiaxyl nitrat (PAN) O           O

5. Khói mù quang hóa (photochemical smog)

 

Khói quang hóa là hỗn hợp gồm các chất phản ứng và các sản phẩm phản ứng sinh ra khi các hidrocacbon, các oxit nitơ cùng có mặt trong khí quyển dưới tác dụng của các bức xạ Mặt trời.

 

 

 

20

 

 

Cơ chế của sự tạo thành khói quang hóa diễn ra trong một hệ hết sức phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khí hậu, các nguồn phát tán chất ô nhiễm, cơ chế các phản ứng hóa học. Có thể bao gồm các quá trình phản ứng sau:

- Các hidrocacbon có hoạt tính tương tác với O3 thành gốc RCH2.

 

- Gốc RCH2 tương tác với O2, tạo thành gốc tự do RCH2O2.

 

- Gốc RCH2O2. tương tác với NO tạo ra NO2 và gốc tự do do RCH2O.

 

- Gốc RCH2O.   tương tác với O2   thạo thành anđenhit bền RCHO và gốc

 

HOO..

 

- HOO. tương tác với NO khác cho ra NO2 và HO.

 

- HO.  cực kì hoạt động và phản ứng nhanh với các hidrocacbon bền RCH3 tạo ra H2O và gốc RCH2, đồng thời hoàn chỉnh chu trình chuyển hóa. Trong một chu trình tạo ra 2 phân tử NO2, một phân tử RCHO và tái tạo gốc RCH2  để lại bắt đầu chu trình mới và cứ như thế liên tiếp.

- Anđehit RCHO vừa phát sinh lại khởi đầu cho một chuỗi phản ứng khác bằng cách tương tác với gốc HO. dẫn tới sự tạo thành gốc axyl R-C=0, rồi gốc này phản ứng ngay với O2  cho gốc peoxiaxyl để tạo ra peoxiaxyl nitrat (PAN). PAN thường được coi là thành phần chính của khói quang hóa, là chất rất độc.

Khói quang hóa là loại khói mang tính chất oxi hóa rất cao, có màu nâu, gây tác hại cho mắt và phổi, làm gãy caosu và phá hoại đời sống thực vật.

Để giảm hiện tượng tạo thành khói quang hóa, chủ yếu chúng ta phải khống chế sự thải NOX và hidrocacbon vào khí quyển.

6. Phản ứng quang hóa của SO2

 

Khi không khí tiếp xúc với bức xạ Mặt Trời, SO2  được hoạt hóa bởi bức xạ trong hạ tầng khí quyển, kết quả dẫn tới một chuỗi các phản ứng kế tiếp liên quan đến các phân tử SO2 kích hoạt.

Khi có mặt hidrrocacbon hoạt động và các oxi nitơ thi tốc độ chuyển hóa

 

SO2  thành SO3  tăng rõ rệt. Ngoài ra, sự oxi hóa SO2  trong các hệ này thường kèm

 

 

 

21

 

 

theo sự tạo thành sol khí. Việc giải thích cơ chế phản ứng phổ biến trong các hệ có chứa đồng thời SO2, hidrocacbon, NOX, không khí và nước là một trong những vấn đề quan trọng của hóa học ô nhiễm không khí. Chúng ta khảo sát hiện tượng oxi hóa quang hóa SO2  trong hai trường hợp là  trong không khí sạch và trong không khí có chứa hidrocacbon cùng các oxyt NOX

Sự oxi hóa quang hóa SO2 trong không khísạch:

 

- Phổ hấp thụ của SO2  nằm trong hai vùng ở hạ tầng khí quyển, ứng với hai trạng thái kích thích: trạng thái đầu kí hiệu là 1SO2  có năng lượng thấp, trạng thái hai kí hiệu là 2SO2 có năng lượng cao, được mô tả như sau :

SO2   + hv             1SO2    ( λ = 290 - 340nm)

 

2SO2    ( λ = 340 - 400nm)

Trạng thái có năng lượng lớn hơn sẽ phân hủy thành  trạng thái cơ bản SO2, và trạng thái có năng lượng thấp 1SO2  .

 

 

 

2SO2 + M

 

SO2     + M

 

1SO2    + M

 

 

 

(M : là một thành phần tiếp nhận năng lượng)

 

- Cơ chế chế oxi hóa SO2  thành SO3  trong không khí sạch được giải thích dựa trên các phản ứng kế tiếp của hai trạng thái SO2, 1SO2 với các phân tử khác có trong hệ. Trước hết, 1SO2 được chuyển về trạng thái cơ bản SO2 :

1SO2 + M           SO2 + M

 

Nếu M là : N2, O2, CO , CO2 và CH4 thì tốc độ các phản ứng gần giống nhau; Nếu M là H2O, O3  thì hằng số vận tốc tương ứng lớn hơn nhiều. Các công trình nghiên cứu cho thấy cơ chế quan trọng nhất giữa  1SO2 và O2 là :

1SO2 + O2    →     SO3 + O

 

Quá trình này tạo ra O nguyên tử

 

Sự oxi hóa quang hóa SO2  trong hỗn hợp các hidrocacbon, NOX  và không

 

khí:

 

 

 

22

 

 

Khi đưa hỗn hợp hidrocacbon, NOX vào không khí có lẫn SO2 và chiếu sáng thì tốc độ oxi hóa SO2  tăng lên rất nhiều so với tốc độ oxi hóa quang hóa trong không khí sạch.

VI.Ảnh hưởng toàn cầu của ô nhiễm không khí:

 

1.Mưa axit:

 

-Mưa thường được coi là quá trình tự làm sạch phổ biến nhất của môi trường không khí, nhờ mưa mà bụi và các chất gây ô nhiễm có thể được tự loại ra khỏi khí quyển.

-Nước mưa cũng hòa tan một phần CO2  của khí quyển nên có môi trường axit yếu với pH khoảng 6 - 6,5. Đây là hiện tượng mưa tự nhiên.

-Tuy nhiên, khi pH của nước mưa nhỏ hơn 5, chúng ta gọi là mưa axit, nguyên nhân chủ yếu như sau:

Một lượng lớn NOX và SOX đi vào khí quyển sẽ chuyển hóa thành axit HNO3

 

và axit H2SO4 theo cơ chế của các phản ứng hóa học và quang hóa học : NO + O3                                 →     NO2 + O2

NO2 + O3       →      NO3 + O2

 

NO2 + NO3   →     N2O5

 

N2O5 + H2O →   2HNO3

 

HNO3 được tách ra dưới dạng kết tinh hoặc các tiểu phân nitrat sau khi phản

 

ứng với bazơ (NH3, bụi, vôi)

 

SO2 cũng chuyển thành axit H2SO4  với phản ứng trong các giọt nước. Sự có mặt của RH, NOX, làm tăng tốc độ của quá trình quang hóa oxi hóa SO2. Trong các giọt nước có chứa ion Mn(II), Fe(II), Cu(II), chúng sẽ xúc tác cho phản ứng oxi hóa SO2. Quá trình được biểu diễn như sau :

(HC, NOX  )

 

 

SO2 +

 

1 O2 + H2O

2

 

 

oxitkimloai

 

H2SO4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

23

 

 

HNO3 và H2SO4  cùng với HCl (thoát ra từ các nguồn tự nhiên và hoạt động của con người) tạo nên sự ngưng tụ axit, là nguyên nhân chính của mưa axit.

-Tác hại : Mưa axit gây ra sự phá hủy tòa nhà và các tượng đài làm từ cẩm thạch, đá vôi, đá phiến... Những vật liệu này trở nên thủng lỗ chỗ và yếu đi về mặt cơ học vì các muối sunfat tan được và tách ra ngoài nước mưa.

CaCO3 + H2SO4   →  CaSO4  + CO2   + H2O

 

2. Sự suy giảm tầng ozon

 

a. Vai trò của tầng ozon

 

Ozon O3 là thành phần chính của tầng bình lưu, khoảng 90% O3 tập trung ở độ cao 19-23km so với mặt đất. Ozon có chức năng bảo vệ sinh quyển do khả năng hấp thụ bức xạ tử ngoại và tỏa nhiệt của phân tử O3, rồi lại được tái tạo lại thể hiện qua các phản ứng:

O3 + hυ →    O2 + O O + O2       →                     O3

Khí ozon luôn luôn phân hủy và tái tạo tự nhiên, hình thành cân bằng động, giữ được sự tồn tại ổn định và như vậy, trên thực tế tồn tại một cơ chế tự nhiên để bảo vệ sinh quyển.

Ozon có tính oxy hóa cao, có mùi đặc biệt, ở nồng độ lớn, ozôn cũng là chất ô nhiễm, tác động xấu đến năng suất cây trồng ở gần mặt đất. Đối với con người không thể vượt quá  ngưỡng 0,05ppm. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy người mắc bệnh lao, được điều dưỡng ở khu vực rừng thông với nồng độ ozon khoảng

0,11ppm, có thể khỏi bệnh.

 

Sự tạo thành ozon có thể lí giải là từ các quá trình phân li quang hóa của O2 , NOx, SO2, tạo ra oxy nguyên tử. các nguyên tử này lại tiếp tục hóa hợp với phân tử oxi để hình thành phân tử ozon

O2 , NOx, SO2   +   hυ   →   O O + O2                      →      O3

 

 

 

24

 

 

Ozôn lập tức hấp thụ bức xạ tử ngoại và phân hủy.

 

O3 + hυ →    O2 + O

 

Các bức xạ tử ngoại từ vũ trụ có bước sóng từ 200 đến 280nm gọi là UV- C, từ 280 đến 320nm gọi là UV-B, từ 320 đến 400nm gọi là UV-A. Trong số các tia đó thì UV-B là nguy hiểm nhất đối với thực vật, động vật và người. Tia C bị hấp thụ với các thành phần khác, tia A thì xuyên qua được tầng ozon, tia B bị hấp thụ bởi tầng ozon.

b. Sự suy thoái tầng ozon và các tác hại:

 

Người ta ước tính trong thời gian vừa qua mức suy giảm tầng ozon trung bình toàn cầu là 5% và số lượng suy giảm ngày càng tăng do phân hủy ozôn vượt quá khả năng tái tạo lại.

Cơ chế quá trình phân hủy O3  là chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên hầu như đều cho rằng phân tử ozon bị phân hủy chủ yếu do 4 tác nhân cơ bản là: các nguyên tử  oxi O; các gốc hidroxyl hoạt động

HO*; các oxit nitơ NOX và quan trọng là các hợp chất clo

 

1.

O3 + O

O2 + O2

2.

O3 + HO*

 

HOO* + O

O2 + HOO*

 

HO* + O2

3.

O3 + NO

NO2 + O2

 

 

 

4.

NO2 + O

 

Cl* + O3

NO + O2

 

ClO* + O2

 

ClO* + O2

Cl* + O2

Các nguồn sinh ra Cl*, HO*, NO : các hợp chất CFC  như CCl2F2, CCl3F, ... được dùng như là chất làm lạnh, chất chữa cháy, dung môi trong mĩ phẩm... chúng trơ ở tầng đối lưu, nhưng khi được khuyếch tán chậm lên tầng bình lưu, dưới tác dụng của bức xạ tử ngoại (λ < 200nm) sẽ sinh ở các gốc Cl*

CFC + hv (= 200nm)         Cl*

 

 

 

25

 

 

Một gốc Cl*    có thể phân huỷ hàng nghìn phân tử ozon trước khi hóa hợp thành chất khác.

Núi lửa thải ra Cl2  và HCl thẳng vào tầng bình lưu dưới tác dụng của tia tử

 

ngoại (λ = 300-400nm) tạo thành Cl còn HCl tác dụng với HO* tạo ra Cl*

 

Cl2 + hv =  Cl* + Cl*

 

HCl + HO* = Cl* + H2O

 

HO* hình thành do quá trình quang hóa oxi hóa metan

 

CH4 + O            CH3*   + HO*

 

N2O được sinh sản ra trong quá trình phân hủy sinh học tự nhiên của các hợp chất nitrat, rồi xâm nhập chậm chạp vào tầng bình lưu, ở đó nó bị oxi hóa thành NO khi kết hợp với oxi nguyên tử ở độ cao dưới 30km.

N2O + O            2NO

 

Ở độ cao trên 30km thì lại do phản ứng quang hóa của nitơ phân tử: N2 + hv                        N + N

O2 + N             NO + O*

 

Các máy bay bay ở độ cao lớn cũng thải ra rất nhiều khí NOX

 

Tầng ozôn bị phá hủy sẽ làm cho một lượng lớn bức xạ tử ngoại có thể đi xuống Trái Đất, sẽ làm tổn hại đến đời sống của con người và động thực vật. Bức xạ tử ngoại đi xuống Trái Đất sẽ xúc tác mạnh các quá trình quang hóa ở các tầng khí quyển thấp hơn; làm tăng hiện tượng mưa axit, tạo thành khói quang hóa; tăng nhiều bệnh về đường hô hấp…

3. Hiệu ứng nhà kính (Green house effect)

 

a. Hiệu ứng nhà kính tự nhiên:

 

Trái đất là hành tinh duy nhất có sự sống là do có khí quyển bao quanh. Lớp không khí này đảm bảo sự cân bằng nhiệt giữa nguồn năng lượng đến từ Mặt Trời và nguồn nhiệt phản xạ từ Trái Đất, làm cho nhiệt độ  trung bình trên Trái Đất khoảng +15oC. Hiện tượng này gọi là Hiệu ứng nhà kính tự nhiên. Người ta ước

 

 

 

26

 

 

tính nếu không có hiệu ứng này thì nhiệt độ nhiệt độ trung bình trên Trái Đất sẽ là -

 

18oC, không thể tồn tại sự sống. Hiệu ứng nhà kính tự nhiên có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với Trái đất, nó duy trì nhiệt độ thích hợp cho sự sống và cân bằng sinh thái; bảo đảm hoạt động cho các vòng tuần hoàn trong tự nhiên.

Như vậy có thể nói rằng: Hiệu ứng nhà kính coi khí quyển bao quanh Trái Đất như một lớp kính, để đến được bề mặt Trái Đất, năng lượng Mặt Trời, dạng bức xạ sóng ngắn, phải đi qua một lớp không khí dày (như lớp kính). Một phần năng lượng Mặt Trời được giữ lại nhờ các quá trình tự nhiên như: lý học, hóa học, sinh học, hóa sinh học…, một phần được phản xạ về Vũ trụ dạng bức xạ nhiệt, các khí có khả năng hấp thụ các tia nhiệt gọi là khí nhà kính, chủ yếu là CO2, hơi nước và một số khí khác. Nói cách khác, lớp khí CO2, hơi nước bao quanh Trái đất có tác dụng tương tự như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau xanh mùa đông, chỉ khác là nó có quy mô toàn cầu.

b. Ảnh hưởng của sự ô nhiễm môi trường lên hiệu ứng nhà kính:

 

Bức xạ nhiệt phản xạ từ Trái đất là dạng sóng dài, bị hấp thụ bởi một số thành phần của khí quyển, gọi là khí nhà kính, đặc biệt là là CO2, hơi nước  và một số khí khác như CH4, CFC, O3, N2O…Nếu lượng khí này tăng lên thì lượng nhiệt bị giữ lại trong khí quyển (giống như trong nhà kính) sẽ tăng lên, làm nhiệt độ của Trái đất tăng lên.

Trong thời gian qua, các hoạt động nhân tạo đã thải vào khí quyển một lượng rất lớn các khí ô nhiễm, làm thay đổi thành phần của khí quyển, tăng hàm lượng các khí nhà kính, dẫn đến sự gia tăng quá mức hiệu ứng nhà kính, trong khi năng lượng mặt trời đến Trái Đất thì không đổi còn năng lượng phản xạ từ Trái Đất lại bị chuyển dịch, làm tăng nhiệt độ của Trái Đất trên quy mô toàn cầu.

Người ta ước tính hằng năm con người đưa vào khí quyển khoảng 2,5.1013

 

tấn CO2, tuy nhiên khoảng một nửa số đó đã được thực vật và đại dương hấp thụ. phần còn lại sẽ lưu tồn trong khí quyển, chủ yếu lưu ở tầng đối lưu. Hiện nay nhu

 

 

 

27

 

 

cầu sử dụng năng lượng tăng, cũng như các hoạt động sản xuất công nghiệp khác, làm cho lượng khí CO2  thải vào khí quyển càng nhiều, mặt khác diện tích trồng rừng lại giảm mạnh, làm cho lượng khí CO2 càng tăng. Dần dần hình thành một lớp khí CO2 tương đối dày, bao bọc Trái Đất. Bức xạ nhiệt từ mặt Trái Đất phản xạ vào khí quyển là bức xạ sóng dài, nó không có khả năng xuyên qua lớp CO2  và hơi nước, lượng nhiệt này bị giữ lại ở gần Trái Đất làm nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng

lên.

 

Nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ ảnh hưởng đến sự gia tăng hiệu ứng nhà kính của các khí nhà kính tự nhiên và nhân tạo như sau: CO2 50%; CFC 17%; CH4 13%; O3   7%, N2O 5%. Trong đó CO2  và hơi nước tập trung ở tầng đối lưu, các khí còn lại chủ yếu ở tầng bình lưu.

c. Ảnh hưởng của sự gia tăng hiệu ứng nhà kính:

 

Các ảnh hưởng của sự gia tăng hiệu ứng nhà kính rất phức tạp và tác động tương hỗ lẫn nhau gây nên sự thay đổi đối với môi trường sinh thái tự nhiên và xã

hội.

 

Nhiệt độ Trái Đất tăng lên sẽ là nguyên nhân làm tan lớp băng ở Bắc cực và Nam cực, làm cho mực nước biển dâng cao. Nước biển lên cao thì các làng mạc, thành phố ở các vùng đồng bằng thấp ở ven bờ biển sẽ bị chìm dưới nước biển, nhiều vùng đất đai màu mỡ ven biển sẽ bị ngập nước và măn hóa. Theo dự đoán của các nhà khoa học thì nếu nồng độ CO2  trong khí quyển tăng gấp đôi hiên nay

thì nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng lên khoảng  3,60C và trong vòng 30 năm

 

tới nếu không ngăn chặn được sự gia tăng hiệu ứng nhà kính liên tục này thì mực nước biển tăng lên khoảng 1,5 - 3,5m.

Nhiệt độ tăng sẽ dẫn đến sự tăng tốc độ bốc hơi nước, dẫn đến những thay đổi trong tuần hoàn gió, ảnh hưởng đến lượng mưa trên toàn cầu, sẽ tác động đến hệ thực vật, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, cũng  chính là một trong các nguyên nhân của hiện tượng Elnino.

 

 

 

28

 

 

Nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng, làm tăng các quá trình chuyển hóa sinh học, gây nên sự mất cân bằng về lượng và chất trong cơ thể sống, tăng thêm bệnh tật cho con người và động vật. Nhiệt độ tăng sẽ làm tăng tốc độ của nhiều quá trình hóa học, làm thay đổi cân bằng tự nhiên, giảm tuổi thọ của các công trình kiến trúc; xây dựng.

 

 

VII.Làm sạch khí thải khỏi các khí độc hại:

 

1.Khái niệm chung:

 

Khí thải của các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp còn chứa nhiều các khí độc hại và nồng độ chúng vượt rất nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Các khí độc hại thải vào môi trường rất đa dạng. Theo tính chất hoá lý nà người ta chia khí thải thành 2 nhóm: nhóm vô cơ ( SO2,SO3, H2S, CO, CO2, NOX, NH3, H2SO4, HF,...), nhóm hữu cơ (benzen, butan, axeton, axetylen, các  xit hữu cơ, các dung môi hữu cơ,...).

Tuỳ theo thành phần và khối lượng khí thải mà người ta lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp, đảm bảo kỹ thuật, tính kinh tế, tính hiệu quả, dễ vận hành,...

2.Làm sạch khí thải bằng pp hấp thụ:

 

Là để tách ra những thành phần giá trị từ dòng khí thải và đưa nó trở lại vào quá trình công nghệ để tiếp tục sử dụng hoặc là để tách những chất độc hại trong dòng khí trước khi thải vào môi trường xung quanh. Thường thì sử dụng pp nay khi nồng độ của thành phần khí độc hại trong dòng khí thải khá lớn: cao hơn 1% theo thể tích.

Sự hấp thụ là quá trình hút thu chọn lọc một hay là một số thành phần của hỗn hợp khí bằng chất hút thu thể dịch, ta gọi chất hút thu thể dịch là chất hấp thụ bao gồm hấp thụ vật lý và hấp thụ hoá học.

-Hấp thụ vật lý

 

-Hấp thụ hoá học

 

 

 

 

 

 

29

 

 

Trong các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng các loại nhiên liệu đốt thì trong khí thải có chứa khí SO2  với hàm lượng và nồng độ khá lớn. Để hấp thụ khí SO2 có thể sử dụng dung dịch oxit mangan, pư:

Mn2O3   + 2SO2   + 1/2O2   → 2MnSO4

 

Để hoàn nguyên Mn2O3 có thể cho pư với dd NaOH, quá trình xảy ra theo pư:

 

2MnSO4   + 2NaOH + 1/4O2   → Mn2O3 + Na2SO4   + 2H2O

 

Ngoài ra còn có thể dùng một số dd khác để hấp thụ khí SO2    trong khí thải như NaOH, Ca(OH)2, sữa vôi CaO, bột đá CaCO3.

Hoặc có thể dùng nước làm chất hấp thụ khí SiF4 : SiF4   + 2H2O  → HF + SiO2

2HF +  SiF4   → H2SiF6

 

3.Làm sạch dòng khí thải bằng pp hấp phụ:

 

Sự hấp phụ là quá trình hút có chọn lọc một hay một số thành phần từ hỗn hợp khí hoặc dd bằng vật thể rắn.

Thường dùng : than hoạt tính, silicagen, zeolit.

 

4.Làm sạch khí thải bằng trao đổi ion: hiệu suất 97 – 99%

 

 

 

VIII.Giải pháp chống ô nhiễm môi trường không khí:

 

1.Quy hoạch xây dựng đô thị và bố trí khu công nghiệp:

 

Để giảm bớt vùng ảnh hưởng của chất độc hại do nhà máy thải ra cần phải xây dựng nhà máy cuối hướng gió, cuối nguồn nước so với khu dân cư, các chất thải có thể thu gom dễ dàng để xử lý.

2. Kiểm soát chất thải:

 

Cần kiểm tra thường xuyên mực ô nhiễm môi trường không khí qua từng khoảng thời gian ngắn đã quy định và tự động phát tín hiệu báo động khi nồng độ chất ô nhiễm vượt qúa giới hạn cho phép bằng cách đặt các thiết bị phân tích khí và dư lượng khí thải tại các ống khói hay các miệng ống thổi thông gió.

 

 

 

30

 

Ai vi phạm đều phải bị xử phat.

 

3.Công nghệ kỹ thuật:

 

Các biện pháp kĩ thuật giảm thiểu chất thải công nghiệp:

 

-Dùng nhiên liệu có ít chất ô nhiễm hoặc giảm bớt hàm lượng chất ô nhiễm trong nhiên liệu trước khi đốt.

-Cải tiến quá trình đốt nhiên liệu ( cải tiến lò đốt nhiên liệu, ...)

 

-Sử dụng các thiết bị lọc bụi, thiết bị hấp phụ hay hấp phụ khí thải độc hại trước khi thải ra ống khói.

Biện pháp công nghệ cần được coi là biện pháp cơ bản, bởi vì nó cho phép đạt hiệu quả cao nhất để hạ thấp và đôi khi loại trừ được chất thải độc hại ra môi trường ( hiện đại hoá công nghệ sản xuất là làm kín dây chuyền và thiết bị sản xuất, khí thải ra được sử dụng như là các nguyên liệu có giá trị trong sản xuất công nghiệp tiếp theo, thay thế chất độc hại dùng trong sản xuất bằng chất không độc hại hoặc ít độc hại hơn, làm sạch chất độc hại trong nguyên liệu, trước khi đưa vào sản xuất).

4. Sinh thái học:

 

Sử dụng cây xanh để bảo vệ môi trường không khí

 

5. Quản lý - luật bảo vệ môi trường không khí:

 

Bao gồm quản lý khí thải và các biện pháp xử phạt theo luật định.

 

 

 

VIII. Ô nhiễm không khí do tiếng ồn

Từ khóa » Các Phản ứng Quang Hóa Là Các Phản ứng Hóa Học Xảy Ra Dưới Tác Dụng Của