Chủ Tịch Hồ Chí Minh Với Việc Giữ đê, Phòng Lụt
Có thể bạn quan tâm
Kỷ niệm 75 năm ngày truyền thống phòng chống thiên tai Việt Nam (22/5/1946-22/5/2021), chúng ta vừa trải qua những tháng, ngày chiến đấu với trận thiên tai lịch sử ở Miền Trung, cùng lúc đối phó với tổ hợp thiên tai: bão, lũ, sạt lở đất dồn dập nhiều đợt nối tiếp nhau liên tục gây nên thảm họa thiên tai hết sức nặng nề, càng hiểu sâu sắc bài học về tầm nhìn của Minh triết Hồ Chí Minh về an sinh của con người và sự phát triển bền vững trong môi trường thiên tai.
Đắp đê, phòng lụt - đẩy lùi nguy cơ đói, nghèo
Phấn đấu cho một xã hội mà ở đó dân tộc được độc lập, dân quyền được tự do, dân sinh được hạnh phúc là sự nghiệp cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh mong đạt tới. Người khẳng định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”([1]). Từ khi sinh ra cho đến tuổi học trò Người sống ở làng quê Nghệ An giữa những người dân nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân. Vì thế trong rất nhiều công việc để xây dựng chính quyền non trẻ vừa giành được sau cách mạng tháng Tám 1945, Trung ương Đảng và Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra ngay nhiệm vụ phải chống 3 thứ giặc là giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, trong đó giặc đói được xếp ở hàng đầu. Bởi nạn đói do phát xít Nhật gây ra đầu năm 1945 đã cướp đi cuộc sống của hơn 2 triệu người dân và làm cho hàng triệu triệu người khác vẫn lâm vào cảnh đói khổ. Trên cương vị Chủ tịch nước, Người thường xuyên đi xuống các địa phương như Hà Đông, Hưng Yên, Ninh Bình, Thái Bình, ... để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, giữ đê, đắp đê, phòng chống lụt bão, bảo vệ mùa màng... Ngày 22/5/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 70/SL thành lập Uỷ ban Trung ương Hộ đê. Sắc lệnh được công bố đã khẳng định trách nhiệm và ý chí của nhà nước cách mạng trước dân tộc, trước đời sống dân sinh và sự an toàn của nhân dân, khẳng định sức sống mãnh liệt và chủ quyền của nhà nước cách mạng non trẻ trước nguy cơ cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của thực dân Pháp sẽ nổ ra chỉ còn tính từng giờ.

Sự bắt nguồn, gốc rễ của Sắc lệnh 70/SL đã thấm đẫm trong Chủ tịch Hồ Chí Minh từ hồn Minh triết Việt ngay từ buổi đầu đi tìm đường cứu nước, bởi dân tộc ta đã đứng lên từ đất và bền bỉ phát triển từ tiến trình trị thủy. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc cho thấy, bên cạnh những thuận lợi về đất đai, tài nguyên, môi trường sông nước với hệ thống sông ngòi dày đặc thuận lợi cho nền nông nghiệp lúa nước, chúng ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức của thiên nhiên (nắng nóng, hạn hán, lũ lụt, bão lốc từ biển Đông đổ bộ vào) gây nên những tổn thất to lớn về người và của: “Lụt thì lút cả làng”, “Đông chết se, hè chết lụt”, “Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão”, “Tháng bảy kiến đàn, đại hàn hồng thủy”. Điều đó đã góp phần hình thành ở nhân dân ta tinh thần đoàn kết cộng đồng để cùng chống chọi với khó khăn, thử thách, cùng nhau đắp đê, làm thủy lợi để chống lụt, chống hạn. Để rồi “bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ, mà là của tất cả mọi quốc dân”([2]). Với Hồ Chí Minh đây không phải là lời kêu gọi hiệu triệu của nhà chính trị mà đó là luận điểm Minh Triết tin vào sức mạnh của nhân dân, được nghiền ngẫm từ thực tiễn của dân tộc mình để tồn tại và phát triển trong môi trường thiên tai. Minh chứng là hệ thống đê điều đồng bằng sông Hồng cha ông ta đã bền bỉ xây dựng trong suốt mười thế kỷ dựng nước và giữ nước.
Trở về với gần một năm trước ngày Sắc lệnh 70/SL ra đời, vào những giờ phút quyết định của Cách mạng Tháng Tám, lũ sông Hồng ngày càng lên cao vượt mức nước tất cả cả các trận lũ lớn nhất từ trước đến nay: Ngày 17/8/1945 mức nước lũ Sông Hồng tại Hà Nội đã đến mức nguy kích 11,86 m (khi mục tiêu mà các chuyên gia thủy lợi Người Pháp đặt ra những năm tới Hà nội mới có thể chống dỡ được mức nước 12m) đe doạ sự an toàn của Thủ đô và nhiều vùng phụ cận; chính quyền Cách mạng mới đang hình thành đã kịp thời huy động các nhà chuyên môn và nhân viên quản lý vận hành công trình phân lũ đập Đáy, nhưng công trình xảy ra sự cố, mục tiêu phân lũ không thành. Ngày 20/8/1945 mức nước lũ tại Hà Nội lên đến đỉnh điểm 11,92 m là mức nước lũ lớn nhất từ trước tới nay, hệ thống đê Sông Hồng bị vỡ 79 chỗ, làm ngập lụt gần hết các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, diên tích bị ngập lụt lên đến 260 ngàn ha. Cách mạng vừa mới giành được chính quyền đang phải lo đối phó với thù trong, giặc ngoài, hậu quả nạn đói vừa mới xẩy ra mấy tháng đầu năm 1945 do chính sách tàn bạo của phát xít Nhật làm 2 triệu đồng bào ta chết đói vẫn còn nặng nề thì giặc lụt lại bồi thúc thêm tình thế nguy nan gấp bội. Nhờ uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự chăm lo quên mình của chính quyền Cách mạng, toàn dân đã tích cực hưởng ứng, vượt qua mọi khó khăn, khắc phục hậu quả lũ lụt. Chỉ trong thời gian ngắn (chưa đầy một tháng) đã hàn khẩu được toàn bộ đê vỡ và kịp thời sản xuất cứu đói. Sự kiện này đã mở ra dấu mốc quan trọng trong lịch sử đê điều Việt Nam. Ngay sau đó, ngày 11/10/1945, khi tất cả các chỗ đê vỡ vừa hàn khẩu xong, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ toạ phiên họp Hội đồng Chính phủ, chương trình tu sửa đê điều là một trong những chương trình nghị sự quan trọng. Chính phủ quyết định vừa dốc kinh phí nhà nước, vừa kêu gọi toàn dân đóng góp để sửa đê và đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Giao thông công chính Đào Trọng Kim đi kiểm tra một số nơi đang sửa đê. Ngày 29/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chủ toạ phiên họp của Hội đồng Chính phủ để thảo luận việc sửa chữa các quãng đê bị vỡ, phân phối kinh phí cho các nơi. Các cuộc họp Hội đồng Chính phủ liên tiếp trong các ngày 19/11, 21/11, 24/11 và 3/12/1945 đều có bàn về vấn đề đê điều.

Ngày 01/01/1946 chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập. Chỉ sau đó 10 ngày, sáng ngày 10/1/1946, sau khi chủ tọa phiên họp Hội đồng chính phủ đến 10h Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Bộ đã đi kiểm tra tình hình hàn khẩu các đoạn đê bị vỡ ở hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, nhưng không báo trước cho địa phương. Tại thị xã Hưng Yên, sau khi thăm nhà một số bà con nghèo, Người tiếp chuyện các thân hào tới chào mừng và nói: “Chúng tôi xuống đây có hai việc: trước là để thăm đồng bào Hưng Yên, thứ hai là để thăm đê… Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ, mà là của tất cả mọi quốc dân…cho nên mọi người đều phải sốt sắng giúp vào việc đắp đê. Vậy các thân hào phải hăng hái giúp đỡ những đồng bào khác đi đắp đê…, phải giúp cho họ ăn, phải góp tiền, thóc nuôi họ. Chỉ có cách đó là có thể ngăn ngừa được nạn đê vỡ. Nước sông cao bao nhiêu đi nữa, mà lòng nhiệt tâm của các bạn cao hơn thì không bao giờ có lụt nữa”. Sau buổi nói chuyện với các thân hào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm dân công đang đắp lại đoạn đê bị vỡ ở Hưng Nhân, cách thị xã 6 km. Người lội nước, đi thăm hỏi từng người và căn dặn những người hậu cần: “phải làm sao cho từng hột gạo tới được “bao tử” của anh em đắp đê. Dân chúng có quyền kiểm soát việc làm đê, đề phòng những lạm dụng có thể xảy ra”. Chiều cùng ngày, Người về thăm và kiểm tra việc tu bổ lại những đoạn đê bị hư hỏng trong trận lũ 1945 ở tỉnh Thái Bình. Tại Uỷ ban hành chính tỉnh, Người nhắc lại nhiệm vụ thứ hai của chuyến công tác là xin thóc, tiền để nuôi các anh em đắp đê phòng lụt. Ngày 28/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự lễ hoàn thành công tác sửa và đắp đê ở Mỹ Lộc và Hưng Nhân tỉnh Thái Bình.
Nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta, sự nỗ lực của chính quyền từ Trung ương tới địa phương và nhân dân, trong mùa khô năm 1945-1946 các tỉnh Bắc bộ đã đắp được 2.814.000 m3, sửa chữa công trình phân lũ đập Đáy, các tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh cũng đắp được 1 triệu m3 đất, nhân dân đóng góp hàng triệu ngày công và ngân sách nhà nước cách mạng chi tới 38 triệu đồng, đó là số tiền rất lớn đối với nguồn ngân sách lúc bấy giờ. Kết quả đó nếu đem so sánh với ngày nay, khi chúng ta vận hành một bộ máy quản lý từ huyện, tỉnh đến trung ương với kinh phí hàng trăm tỷ đồng, với phương tiện máy móc thi công hiện đại mà mỗi năm cũng chỉ làm được chừng 3 triệu m3 đất đắp đê thì mới thấy hết sự vĩ đại phi thường của nhân dân và sự truyền cảm, động viên nỗ lực mọi tầng lớp nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính quyền cách mạng lúc bấy giờ. Sức mạnh phi thường của nhân dân trong bối cảnh sức dân tưởng như đã cạn kiệt, khi được động viên lòng yêu nước thương nòi đã bừng lên thành sức mạnh dời non lấp biển: vừa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bè lũ tay sai vừa khắc phục hậu quả lũ lụt, nạn đói. Từ bài học này, mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi người chúng ta suy nghĩ để ngày nay vươn lên trước những thử thách của công cuộc Đổi mới của Đảng ta xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Ngày 19/12/1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lên chiến khu Việt Bắc để chỉ đạo toàn dân kháng chiến. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác thủy lợi, phòng chống thiên tai, bảo vệ mùa màng vẫn được duy trì và nổi lên như một công tác lớn của hậu phương. Người vẫn quan tâm đến công tác này và dành cho ngành những chỉ dẫn quý báu. Từ chiến khu Việt Bắc (tháng 6 năm 1947) Người viết thư gửi đồng bào trung du và hạ du chống lụt, tha thiết kêu gọi mọi người đều phải coi việc canh đê, phòng lụt là việc thiết thân của mình. Chỉ trong một bức thư ngắn nhưng đã hội đủ tất cả công việc mà đến nay chúng ta vẫn đang phải cố gắng làm trọn vẹn: “Ai cũng phải tham gia công việc sửa đê, canh đê. Hễ chỗ nào sạt thì phải dồn tất cả lực lượng đến đó mà sửa chữa ngay. Làng này phải giúp làng khác. Vùng này phải giúp vùng khác. Mỗi nhà lại cần đan thuyền và bắc sàn ngay. Chớ để nước đến chân mới nhảy. Các bộ đội, dân quân, tự vệ phải cố gắng giúp đồng bào những công việc đó. Các Uỷ ban kháng chiến, Uỷ ban hành chính, các đoàn thể phải phụ trách tuyên truyền, cổ động, khuyên bảo, nhắc nhủ đồng bào làm những công việc đó. Các anh em nhân viên Công chánh phải hăng hái chịu khó, thiết thực hợp tác với các cơ quan, các đoàn thể để bày vẽ và kiểm soát những công việc đó”([3]). Những việc mà ngày nay chúng ta cụ thể thành phương châm bốn tại chỗ, chăm lo đến cuộc sống của nhân dân. Bức thư còn bày tỏ sự tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào sức dân, dựa vào dân để nâng cao sự tự nguyện làm chủ của dân.
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phòng chống thiên tai là cuộc chiến đấu bền bỉ, liên tục và luôn luôn sẵn sàng, vì vậy trong sự bộn bề gian nan của cuộc kháng chiến trường kỳ, năm nào Người cũng gửi thư nhắc nhở về việc chống lũ, chống hạn, không được chủ quan. Nội dung các bức thư thật sâu sắc, có sức cuốn hút động viên đến lạ kỳ, khi thì nêu kinh nghiệm và biểu dương một địa phương để làm bài học chung (Thư khen ngợi đồng bào Ninh Bình, ngày 20/11/1948), khi thì cẩn trọng nhắc nhở: “Năm nay, mực nước có thể to hơn” (Thư gửi đồng bào các tỉnh có đê, tháng 5 năm 1949), khi cuộc kháng chiến chuẩn bị chuyến sang giai đoạn tổng phản công thì “Giữ vững đê điều để chống giặc lụt cũng là một việc chuẩn bị. Việc ấy năm nay khó khăn hơn mấy năm trước. Đồng bào sẽ quyết tâm vượt qua những khó khăn ấy dù phải hy sinh cũng vui lòng” (Thư gửi đồng bào các tỉnh có đê, tháng 6 năm 1950), và dù có khó khăn vẫn tràn đầy niềm tin tưởng “Công việc sẽ nặng nề, nhưng chúng ta chắc làm được”. (Thư gửi đồng bào các tỉnh có đê, tháng 4 năm 1951). Thực dân Pháp thua to trên các chiến trường, âm mưu phá đê trong mùa lụt để gây nạn đói kháng chiến sẽ nguy nan, Người kêu gọi đồng bào nên tỉnh táo đề phòng âm mưu của địch phá đê (Thư gửi đồng bào các tỉnh có đê, tháng 6 năm 1952), ... Và cứ liên tiếp như vậy, năm tiếp năm, chuẩn bị đến mùa lụt bão là Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có thư nhắc nhở các địa phương, các cấp, các ngành và nhân dân nâng cao ý thức, tinh thần chuẩn bị, sát với tình hình diễn biến mới.
Đắp đê, giữ đê là để chống giặc lụt và giặc đói, cho nên cũng như một chiến dịch. Trong bài “Ra sức giữ đê phòng lụt” ngày 16-7-1953 đăng trên báo Nhân dân với bút danh CB, Người đã đề ra nhiệm vụ, biện pháp để thi hành việc đắp đê phòng lụt như: “Trong việc đắp đê giữ đê, kế hoạch phải rất tỉ mỉ, phân công phải rất rành mạch, chuẩn bị phải rất chu đáo, lãnh đạo phải rất thống nhất… Phối hợp phải thật chặt chẽ. Chỉ đạo phải thật thiết thực. Tổ chức phải thật đầy đủ. Tuyệt đối chống cách khoán trắng, chống quan liêu, mệnh lệnh”([4]). Người đặc biệt nhấn mạnh phải chú ý bồi dưỡng tinh thần và vật chất cho dân công cũng như hết sức tránh lãng phí ngày giờ, nhân lực và vật lực của đồng bào. Muốn thắng được giặc lụt phải lấy phòng là chính, phải đắp đê cho chắc và phải canh phòng cẩn thận. Đó cũng là tư tưởng mà Người căn dặn cán bộ, nhân dân Thanh Hóa trong chuyến thăm ngày 13-6-1957: “Thà đắp đê cao một tí, chuẩn bị nhà cửa trước, nếu không có lụt bão cũng không sao, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị thì thiệt hại lớn. Đắp đê chống lụt bão phải kịp thời” ([5]). Ngày 25-7-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi kiểm tra tình hình đê điều và công tác chuẩn bị phòng chống lụt ở tỉnh Bắc Ninh. Người đến thị sát các đoạn đê xung yếu, kiểm tra một số điếm canh đê và kè Thống Thượng xã Việt Thống, huyện Quế Võ. Tại thị xã Bắc Ninh, sau khi nghe Tỉnh ủy báo cáo tình hình chuẩn bị chống lụt, Bác yêu cầu: “Cán bộ các ngành trong tỉnh phải tích cực động viên nhân dân tham gia, phải chuẩn bị chống giặc lụt như trong thời kỳ kháng chiến chống giặc ngoại xâm, cần khắc phục tư tưởng chủ quan trong cán bộ, nhân dân, phải thường xuyên sẵn sàng đối phó kịp thời với bão lụt” ([6]).
Thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ của nhân dân trước các thảm họa thiên tai, trong suốt 25 năm lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có tới 179 sự kiện đích thân chăm lo đến các vấn đề thiên tai bão lũ, hạn hán và cho đến phút cuối cùng cùng của cuộc đời Người, tháng 8/1969, lũ sông Hồng, sông Thái Bình lên rất cao. Ngày 17/8 Chủ tịch Hồ Chí Minh bị mệt, nhưng Người vẫn theo dõi tình hình mực nước lũ đang uy hiếp các triền đê. Bác cho mời Bộ trưởng Thủy lợi Hà Kế Tấn đến báo cáo tình hình và ân cần dặn dò, chỉ bảo, động viên tổ chức giữ đê, bảo vệ dân, bảo vệ sản xuất. Trên giường bệnh, Bác từ từ mở mắt vẻ rất nệt mỏi. NhìnThủ tướng Phạm Văn Đồng, Bác khẽ hỏi “lũ sông Hồng đã rút chưa? Cần phải lo cứu dân nếu đê vỡ’’, Thủ tướng không dám giấu Bác, báo cáo là lũ vẫn chưa rút hết. Rồi Thủ tướng mạnh dạn thưa với Bác: “Chính phủ muốn mời Bác lên khu an toàn để Bác được tĩnh dưỡng và đề phòng lũ lụt”. Bác lắng nghe, rồi lắc đầu, thong thả nói chậm: “Không! Bác không muốn đi đâu cả. Bác không thể bỏ dân. Dân ở đâu, Bác ở đó, dù lụt lội hơn nữa, dù Mỹ có ném bom Hà Nội trở lại…”. Thủ tướng chỉ còn biết ứa nước mắt nhìn Bác và thầm kêu lên “Bác ơi, đến cảnh ngộ này, Bác chỉ nghĩ đến dân…”([7]).
Tầm nhìn chiến lược trong công tác trị thủy, phòng chống ngập lụt hạ du
Thời điểm sau năm 1954, khi miền Bắc vừa được giải phóng, hậu quả chiến tranh còn hết sức nặng nề, việc khôi phục các công trình thủy lợi để phục vụ kịp thời cho sản xuất là yêu cầu cấp bách nên đã được tập trung hoàn thành cơ bản. Ngày 11-12-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự họp Bộ Chính trị nghe báo cáo về công tác thủy lợi và ý kiến của đoàn chuyên gia Trung Quốc do bà Tiền Chính Anh (Thứ trưởng Bộ Thủy lợi Trung Quốc) dẫn đầu ([8]). Theo ý kiến của đoàn chuyên gia Trung Quốc, trong điều kiện của Việt Nam phát triển thủy lợi theo phương châm ba chính: Giữ nước là chính, thủy lợi nhỏ là chính, dân làm là chính. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta rất sớm nhận biết vai trò quyết định của công cuộc trị thủy và khai thác sông Hồng có tính quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển bền vững của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 164 CT/TW ngày 28/9/1959 quyết định Trị thủy tận gốc và Khai thác tổng hợp hệ thống sông Hồng. Đây là bước chuyển hướng tư duy độc lập, thể hiện tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta: Trị thủy và khai thác sông Hồng “là một vấn đề rất trọng yếu”, có vị trí then chốt trong việc đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Không những diệt trừ tận gốc nạn lụt ở hạ du, mà còn tạo ra những khả năng to lớn về vận tải thủy, phát điện và tưới nước, thúc đẩy công cuộc khai thác các hầm mỏ, đất khoáng, lâm sản, trồng cây gây rừng, chăn nuôi v.v, ... Ở thượng du, mở ra những triển vọng to lớn cho việc phát triển toàn diện nền kinh tế quốc dân, nhất là trong việc công nhiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Trị thủy và khai thác tổng hợp là hai mặt của vấn đề, có quan hệ mật thiết với nhau, cần phải được quán triệt đầy đủ trong đó việc phòng lụt, phát điện, vận tải thủy, tưới nước là tầm quan trọng chủ yếu. Riêng đối với hạ du nhiệm vụ phòng lụt rất quan trọng.
Trên tinh thần Chỉ thị này, tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 14-01-1960 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa, đã chủ trương thành lập Uỷ ban Trị thủy và khai thác sông Hồng. Ngày 16-01-1961 Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 2/CP thành lập Uỷ ban trị thủy và khai thác sông Hồng. Cũng từ thời điểm này, quy hoạch lấy nhiệm vụ trị thủy tức mục tiêu phòng chống thiên tai làm trụ cột cho tất cả các quy hoach ở tầm cỡ quốc gia được chuẩn bị, tổ chức, chỉ đạo và tiến hành một cách tổng lực, khoa học do Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Nguyễn Duy Trinh làm chủ nhiệm, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Hà kế Tấn, Bộ trưởng Nguyễn Văn Kha (UBKHNN) làm phó chủ nhiệm và quy tụ các nhà khoa học, chính trị, quân sự như Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Hữu Mai, Nguyễn Văn Lộc, Thanh Phong v.v,... làm ủy viên.
Cuối năm 1962 “Báo cáo Phương hướng quy hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng” được trình lên Bộ Chính trị, tại cuộc họp do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì. Trước khi vào họp, Người đã xem kỹ các bản đồ và sơ đồ quy hoạch dự kiến trước khi nghe Bộ trưởng Hà Kế Tấn và chánh văn phòng Ủy ban trị thủy và khai thác sông Hồng Đinh Gia Khánh báo cáo. Bộ Chính trị đã thảo luận, thông qua báo cáo và ra Nghị quyết số 65 NQTW ngày 02-01-1963 với những nội dung như sau:
“1. Các biện phòng và chống lụt ở hạ du và trung du trong khoảng 10 năm gần đây chủ yếu là:
- Tăng cường hệ thống đê đến mức chống được lũ lớn có mức nước +13m30 ở Hà Nội
- Xây dựng các khu tạm thời chứa nước lũ ở Tam Nông, Thanh Thủy (Phú Thọ) và Vân Cốc (Sơn Tây, Hà Đông) để phối hợp với đê trong phòng và chống lũ.
- Bảo vệ rừng, trồng rừng, giữ đất, giữ nước đi đôi với khai hoang, khai thác rừng và từng bước định cư đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi, để giảm nhẹ lũ ở đầu nguồn và bảo vệ các nguồn lợi về đất và nước đang được khai thác.
Đây là những biện pháp rất thiết thực. Bộ Thủy lợi và điện lực phải có kế hoạch tăng cường, củng cố đê và xây dựng các khu chứa lũ tạm thời ở trung du. Các ngành có liên quan và các địa phương miền núi phải có kế hoạch giữ đất giữ nước ở thượng du
- Các biện pháp tưới nước …”
Trích dẫn những điều trên để chúng ta thấy tầm nhìn chiến lược và những bước đi, công việc cụ thể từng giai đoạn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị. Hơn sáu mươi năm đã qua, có thể nói Quy hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng đã thực hiện trọn vẹn sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Trung ương Đảng, để có một đồng bằng sông Hồng bền vững như ngày nay, để có nguồn điện có sức chi phối cả nước, và các đô thị cũng như một vùng núi tây bắc và đông bắc phên dậu của Tổ quốc thay da đổi thịt, phát triển ngày càng trù phú. Cả cuộc đời, trong muôn nỗi lo cho dân, cho nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành một nỗi lo lớn về thiên tai, mong ước của Người lo làm sao cho dân có cuộc sống ngày càng an toàn trước thiên tai. Đó cũng là nỗi niềm Người trao lại cho các thế hệ con cháu giữ nước và dựng nước ngày nay, chăm lo sự nghiệp phòng chống thiên tai, bảo vệ đất nước phát triển và cuộc sống của người dân ngày càng bền vững trước thiên tai và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho tình hình thiên tai ngày càng có xu hướng cực đoan và nặng nề hơn.
Trong công cuộc phòng chống thiên tai, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn xa trông rộng, lấy phòng ngừa là chính, tin vào dân, dựa vào dân với sự hỗ trợ nòng cốt của lực lượng vũ trang là cơ bản, và sự chuẩn bị những dự án, quy hoạch, kế hoạch mang tầm chiến lược trên cơ sở khoa học của nhà nước mà kinh nghiệm quy hoạch trị thủy và khai thác sông Hồng là bài học về sự lãnh đạo của Đảng và nỗ lực của đội ngũ khoa học kỹ thuật cần được phát huy trong những yêu cầu ngày càng phức tạp và khó khăn mới của sự nghiệp phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu toàn cầu, đó cũng là bài học vô giá của 75 năm sự nghiệp phòng chống thiên tai để lại cho chúng ta.
Trải qua 75 năm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, công tác phòng chống thiên tai Việt Nam ngày nay đã thực sự lớn mạnh, chuyên nghiệp hơn và ngày càng nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền và của cả cộng đồng. Nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, trong những năm qua đạt được nhiều kết quả quan trọng, trong đó phải kể đến:
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng chống thiên tai đã được bổ sung, hoàn thiện tạo hành lang pháp lý để nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả thực hiện như: Luật Phòng chống thiên tai, Luật Đê điều và các văn bản dưới Luật.
Tổ chức bộ máy được hoàn thiện hơn với sự thành lập cơ quan chuyên trách về phòng chống thiên tai ở Trung ương, đó là Tổng cục Phòng Chống thiên tai; cơ quan điều phối liên ngành ở Trung ương là Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai được nâng tầm hoạt động từ năm 2019 với 37 thành viên do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Ban Chỉ đạo.
Nguồn lực tài chính cũng được quan tâm đầu tư đáng kể. Thực tế cho thấy, trong 05 năm gần đây, trung bình hàng năm, Thủ tướng Chính phủ quyết định hỗ trợ 1.500 tỷ đồng cho các địa phương để khắc phục khẩn cấp hậu quả sau thiên tai (7.280 tỷ đồng/5 năm).
Trước tác động của biến đổi khí hậu, trong thời gian tới, tình hình thiên tai tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, công tác phòng chống thiên tai cần tập trung, triển khai đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp như sau:
Triển khai, thực hiện nghiêm túc và hiệu quả Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về công tác phòng, chống thiên tai.
Hoàn thành việc xây dựng, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng xung kích PCTT cấp xã trên toàn quốc.
Nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo, theo dõi, giám sát thiên tai; nâng cấp cơ sở dữ liệu, trụ sở; công cụ hỗ trợ và trang thiết bị chuyên dùng phục vụ các hoạt động phòng, chống thiên tai và cứu hộ, cứu nạn.
Tăng cường nguồn lực cho công tác khắc phục hậu quả và tái thiết sau thiên tai, xây dựng chính sách khuyến khích và thu hút sự tham gia từ khu vực tư nhân.
Từ khóa » đê Chống Lũ Là Gì
-
Đắp đê Ngăn Lũ - Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam
-
Đê – Wikipedia Tiếng Việt
-
[Thông điệp Từ Lịch Sử] Ông Cha Ta Bảo Vệ đê điều Như Thế Nào?
-
Từ điển Tiếng Việt "đê" - Là Gì?
-
Từ Kinh Nghiệm đắp đê, Phòng Chống Lũ Lụt Của Nhà Trần, Em Hãy Kể ...
-
[PDF] Cơ Sở Khoa Học Cho Việc Xác định Cao Trình đê Trong Kiểm Soát Lũ Của ...
-
Dự án đê Chắn Lũ, Những Tiêu Chí Chống Ngập Của Hệ Thống đê điều
-
Một Số Kinh Nghiệm Xây Dựng đê Khoanh Vùng Phòng Chống Lũ Lụt ...
-
Hệ Thống đê điều - Nền Tảng Của Công Tác Phòng, Chống Thiên Tai
-
Luật Đê điều Năm 2006 - LuatVietnam
-
Mô Hình Nhà Chống Lũ Hiệu Quả Trong Phòng Chống Thiên Tai
-
Công Tác đê điều, Chống Lụt Bão Trong Chiến Tranh Phá Hoại
-
Kỳ Tích đê Sông Hồng - Kỳ 1: Dời đô Và đắp đê - Báo Tuổi Trẻ
-
Quyết định Số 257/QĐ-TTg, Ngày 18/2/2016 Của Thủ Tướng Chính ...
-
Phân Lũ Là Gì? - Hỏi đáp Pháp Luật
-
Ổn định Hành Lang Thoát Lũ để Hiện Thực Hóa ước Mơ Sông Hồng