Chùa Kim Giang (Chùa Lủ – Hoàng Mai, Hà Nội) - Chốn Thiêng
Có thể bạn quan tâm
Lược sử
Kim Giang tên Nôm là Lủ Cầu, vốn là một xóm cổ của làng Lủ cùng với hai xóm khác là Lủ Văn (Kim Văn) và Lủ Trung (Kim Lũ), dần dần lớn thành ba làng riêng. Đầu thế kỷ XIX, sau cải cách hành chính của vua Minh Mệnh, ba làng này thuộc xã Kim Lũ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam Thượng. Năm 1889 huyện Thanh Trì thuộc về tỉnh Cầu Đơ (năm 1904 đổi thành tỉnh Hà Đông), từ tháng 6-1961 sáp nhập vào thành phố Hà Nội (nay là quận Thanh Xuân, TP Hà Nội).
Chùa Kim Giang tên chữ là Thiên Phúc tự (chùa Thiên Phúc) vốn là ngôi chùa chung của ba làng Lủ nên thường gọi là chùa Lủ. Lúc đầu, chùa nằm trên một khu đất giữa hai thôn Kim Lũ và Kim Văn, đến khoảng giữa thế kỷ XVIII mới chuyển đến vị trí “đắc địa” tọa lạc bên cạnh đình Kim Giang và đền Mẫu Sòng ở ven sông Tô Lịch, làm thành một cụm di tích đẹp đẽ và rộng lớn như hiện nay.
Chùa Lủ cũng giống như nhiều ngôi chùa khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thờ Phật và chư vị Bồ Tát theo phái Đại thừa, tông phái Tào Động, một tông phái lớn của Phật giáo Việt Nam. Chùa Lủ tọa lạc bên cạnh đình và đền Kim Giang, hướng quay ra bờ sông Tô Lịch – con sông gắn với địa danh Thăng Long – Hà Nội.
Kiến trúc
Chùa bao gồm các hạng mục: Tam quan, Tiền đường, Thượng điện, nhà Tổ và nhà Mẫu. Tiền đường chùa Lủ gồm 5 gian 2 chái, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp bằng ngói ri. Chính giữa bờ nóc là bình nước cam lồ có gắn mảnh sành, hai đầu bờ nóc là Makara và hai đấu đinh, cuối hai bờ chảy là đấu đinh có đỉnh đắp nụ sen, nối với hai cấp ra đấu khác có dạng trụ biểu. Từ đầu tường hồi có bức tường lửng nối ra hai trụ biểu lớn được kiến tạo gồm các phần: đỉnh trụ là tứ phượng chụm, ô lồng đèn khắc tứ linh, thân trụ được soi gờ chỉ và khắc chữ Hán, đế trụ có dạng cổ bồng. Vào bên trong, tương ứng với các gian là các bộ vì liên kết theo cách thức thống nhất kiểu “Thượng giá chiêng chồng rường, hạ chồng rường, cốn bảy hiên”. Các con rường được chạm khắc khá tinh tế với đề tài chủ yếu là lá lật, vân sóng nước. Các bức cốn tại hiên Tiền đường chạm nổi tứ quý với hình ảnh hoa sen khá nổi bật được thể hiện tập trung cho thấy sự khéo léo của nghệ nhân xưa. Ngoài những mảng chạm trên, khá đặc biệt tại ngũ cấp dẫn lên tiền đường chùa Lủ, ứng với gian giữa là đôi rồng đá có dạng sóng nước, giữa là một phiến đá có tiết diện khá lớn, chạm khắc nổi hình tượng cửu long quần tụ khá sinh động.
Nối với gian giữa Tiền đường là 3 gian Thượng điện trên mặt bằng chữ Đinh. Các bộ vì của hạng mục kiến trúc này được liên kết theo cách thức tương tự như các bộ vì tại Tiền đường. Đặc biệt tại đốc hậu, phần tường sau Thượng điện có gắn những chữ Hán bằng chất liệu gốm xanh là những điều răn của đạo Phật đến các kiếp đời, hãy sống hướng tới cái thiện loại trừ những cái ác.
Di vật
Trong chùa Kim Giang còn lưu giữ hơn 50 pho tượng Phật bằng gỗ được tạo tác vào thế kỷ XVII – XVIII; trong đó, đặc sắc nhất là pho tượng Quan âm Thiên Thủ Thiên Nhãn mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX được tạc trong tư thế ngồi thiền trên đài sen, 8 đôi cánh tay cầm pháp giới, tay kết ấn chuẩn đề và một đôi tay khác đặt trên đùi. Pho tượng này được xem là một chuẩn mực, thể hiện sự hài hòa cân đối về tỷ lệ, sự tinh tế trong kỹ thuật chạm khắc và sơn thếp. Ngoài ra, trong chùa hiện còn lưu giữ nhiều cổ vật quý, tiêu biểu có quả chuông đồng niên hiệu Dương Đức 5 (1674), hoành phi, cuốn thư, cửa võng, câu đối, nhang án và bức hoành phi niên đại Khải Định treo tại nhà mẫu đề 4 chữ Hán: “Ứng hiển thông linh”.
Hệ thống tượng gỗ của chùa Lủ không chỉ là sự hiện diện của các nhân vật của tôn giáo Phật giáo mà còn là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc có giá trị, được thiêng hóa, mang linh hồn của từng nhân vật đã trải qua các cấp độ tu hành khác nhau, ở vị trí cao nhất trên Phật điện là ba pho Tam Thế trong tư thế ngồi thiền kiết già trên đài sen; hàng thứ hai là tượng A-di-đà hai bên là nhị vị Bồ tát, hàng thứ ba là tượng Thích Ca Niêm Hoa hai bên là tượng Anan và Ca Diếp trong tư thế đứng; hàng thứ ba là tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn; hàng thứ tư là tượng Phạm Thiên và Đế Thích. Hàng thứ năm là tòa Thích Ca Cửu Long, hai bên và thấp hơn là tượng Thổ Địa và Giám Trai.
Ngoài các tượng trên Phật điện, tại Thượng điện chùa Lủ còn có sự hiện diện của tượng Quan Âm Tọa Sơn bên sườn trái, sát tường sau Thượng điện; bên phải là tượng Quan Âm Chuẩn Đề. Tại Tiền đường, hai bên lối vào Thượng điện là hai vị hộ Pháp trong tư thế của hai võ tướng, ban thờ bên trái là tượng Thánh Tăng, bên phải là tượng Đức Ông. Cũng tại Tiền đường chùa còn có hai dãy tượng Thập điện Diêm Vương trong tư thế ngồi trên bệ nhị cấp.
Nhìn chung, mỗi pho tượng tại chùa Lủ đều được các nghệ nhân chạm khắc khá cầu kỳ, tỉ mỉ, chau chuốt từng chi tiết, diễn tả được những đặc trưng và tính cách của từng nhân vật đã hóa thân thành tượng. Trong số các pho tượng của chùa Lủ, nổi bật là pho Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn trên phật điện, được tạc trong tư thế ngồi thiền trên đài sen. Pho tượng này được xem như là một chuẩn mực, thể hiện sự hài hòa cân đối về tỉ lệ, sự tinh tế các kỹ thuật chạm khắc và sơn thếp của các nghệ nhân. Về hình tượng, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn được chạm với đầu đội mũ Thiên Quan, khuôn mặt hiền từ với đôi mắt khép hờ, miệng thoáng nụ cười, tai có bầu tròn và chảy dài. Tượng với 8 đôi cánh tay đều cầm pháp giới, một đôi tay kết ấn chuẩn đề trước ngực và một đôi đặt trên lòng đùi, áo tượng với hai lớp, các nếp rủ mềm mại, cân xứng trên mình. Tượng có niên đại phong cách nghệ thuật thế kỉ XIX.
Ngoài các pho tượng nêu trên, tại nhà tổ chùa Lủ còn có tượng tổ Đạt Ma và tượng Tổ chùa; nhà Mẫu có tượng tam tòa Thánh Mẫu, Ngũ vị tôn ông, tượng cô cậu, tượng bà và tượng đức thánh Trần.
Bên cạnh đó, chùa Lủ hiện còn lưu giữ được nhiều di vật bằng các chất liệu khác nhau như: bia đá có niên hiệu Dương Đức 3(1674) ghi việc nhân dân góp công sức tu sửa chùa, các bức hoành phi, cuốn thư, cửa võng, câu đối, nhang án… trong đó bức hoành phi treo tại nhà Mẫu đề “ứng hiển thông linh” có ghi niên đại Nguyễn – Khải Định Có thể nói, từ ngày khởi dựng đến nay, chùa Lủ không chỉ là một trung tâm văn hóa phục vụ nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh của nhân dân Đại Kim và du khách thập phương mà chốn cửa thiền này còn là nơi người dân đến, thắp nén tâm hương, cầu mong sự phù trì, bảo trợ tinh thần rồi tự mình soi rọi mình, hương tới cái chân – thiện – mỹ. Bởi “khuyến điều thiện, trừ điều ác” là bức thông điệp mà mỗi ngôi chùa Việt nói chung và chùa Lủ nói riêng muốh gửi tới mỗi người, đồng thời là nét đặc trưng, tích cực của Phật giáo mà người Việt từ xưa đã nhận thấy và tin theo.
Xếp hạng
Với những giá trị đặc sắc về nghệ thuật kiến trúc cùng hệ thống di vật, hiện vật quý, năm 1989, chùa Kim Giang đã được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.
_____________________________________
Tiếng Anh (English)
Kim Giang Pagoda, known in Nôm as Lu Cau, originated from an ancient hamlet in Lu village and developed into three separate villages in the 19th century. Kim Giang Pagoda, also known as Lủ Pagoda, was initially situated between the two hamlets of Kim Lu and Kim Van, before being relocated to a new position near the To Lich River in the mid-18th century. Lu Pagoda venerates the Buddha and Bodhisattvas according to the Mahayana tradition, Tao Dong sect, and is one of the beautiful and large historical sites in the North Delta. The architecture of the pagoda includes various sections such as Three Gates, Front Hall, Upper Hall, Ancestor Hall, and Mother Hall, adorned with delicate and intricate carvings. The pagoda also preserves many wooden Buddha statues and precious artifacts from the 17th and 18th centuries. In 1989, Kim Giang Pagoda was classified as a National Historical and Cultural Monument, thanks to its architectural and precious artifact values.
Tiếng Trung (Chinese)
金江寺,南字称为庐桥,起源于庐村的古老聚落,在19世纪发展成为三个独立的村庄。金江寺,又称庐寺,最初位于金庐和金文两个聚落之间,后来于18世纪中叶迁至靠近桃历河的新位置。庐寺按照大乘佛教,道洞宗教派崇拜佛陀和菩萨,并且是北部三角洲中美丽而宏大的历史遗址之一。寺庙的建筑包括三门、前殿、上殿、祖堂和母堂等各个部分,装饰着精美而复杂的雕刻。寺庙还保存着许多17至18世纪的木制佛像和珍贵的文物。1989年,金江寺被列为国家历史文化遗址,由于其建筑和珍贵文物的价值。
Tiếng Pháp (French)
Le temple Kim Giang, connu en Nôm sous le nom de Lủ Cầu, a ses origines dans un ancien hameau du village de Lủ et s’est développé en trois villages distincts au XIXe siècle. Le temple Kim Giang, également connu sous le nom de temple Lủ, était initialement situé entre les deux hameaux de Kim Lũ et Kim Văn, avant d’être déplacé vers une nouvelle position près de la rivière Tô Lịch au milieu du XVIIIe siècle. Le temple Lủ vénère le Bouddha et les Bodhisattvas selon la tradition Mahayana, la secte Tao Dong, et est l’un des beaux et grands sites historiques du Delta du Nord. L’architecture du temple comprend différentes sections telles que les Trois Portes, le Hall Avant, le Hall Supérieur, le Hall des Ancêtres et le Hall de la Mère, ornées de sculptures délicates et complexes. Le temple conserve également de nombreuses statues de Bouddha en bois et des artefacts précieux des XVIIe et XVIIIe siècles. En 1989, le temple Kim Giang a été classé comme Monument Historique et Culturel National, grâce à ses valeurs architecturales et d’artefacts précieux.
Chấm điểmTừ khóa » đền Mẫu Sòng Kim Giang
-
ĐÌNH – ĐỀN KIM GIANG - Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội
-
Đền Kim Giang - Ha Noi 360
-
Di Tích Lịch Sử đền Kim Giang - Di Tích Lịch Sử Văn Hóa
-
Đền Mẫu Sòng - Kim Giang, Hanoi
-
Đền Mẫu Sòng - Kim Giang, Hà Nội City
-
Kim Giang Linh Từ - Posts | Facebook
-
Thần Tích đền Kim Giang Lê Triều... - Kim Giang Linh Từ - Facebook
-
Chùa Kim Giang - Nhịp Sống Hà Nội - Hànộimới
-
Đền Cô Chín ở Hà Nội - Sòng Sơn Vọng Từ - Tứ Phủ Thánh Mẫu
-
Top 14 đền Mẫu Sòng Sơn Hà Nội
-
Đền Thờ Cô Chín ở Hà Nội: Địa Chỉ Và Cách Dâng Lễ - Oản Cô Tâm
-
Linh Thiêng đền Thờ Vọng Mẫu Sòng
-
Đền Sòng Cô Chín ở đâu
-
Địa Chỉ Đi Lễ Cầu Tài Lộc Bình An Đền Mẫu Sòng Sơn
-
Cô Chín đền Thờ Và Những Lưu ý Khi đi đền Cô Chín - Bàn Thờ Gỗ Đẹp
-
đền Cô Chín - Văn Hóa Tâm Linh