Chương I: Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác - Site Title

 Sách: Những Lời dạy Của Đức Phật

Biên soạn: Diệu Pháp Sudhamma

♦  CHƯƠNG I  ♦ 

BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC     

PHẨM TÍNH BẬC CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC

 Dù rộng lớn đến đâu, biển cũng bị giới hạn bởi đáy biển mặt biển và những ngọn núi Cakkavala vây quanh. Nhưng ba la mật Bố thí (dāna pāramī) mà Bồ Tát (vị Phật tương lai) vun bồi chẳng có giới hạn. Tài sản quý báu, những bộ phận cơ thể, thậm chí đến mạng sống Bồ Tát đã cho đi trong vô lượng kiếp, thật chẳng thể nghĩ bàn. Bồ Tát cũng đã vun bồi ba la mật về giới hạnh, tinh tấn… (sīla pāramī, viriya pāramī…) cao dày như thế ấy.

Là vua ở tuổi 16, Bồ Tát đã hàng ngày bố thí thực phẩm với 600.000 đồng tiền. Ngài tặng con voi trắng có khả năng làm mưa cho xứ Setuttarā đang bị hạn hán, mặc dù dân trong nước kịch liệt phản đối. Việc này khiến Ngài bị đày đến Vankagiri. Và tại nơi này, vua đã tặng con trai và con gái của mình  cho vị bà la môn già Jujaka, người muốn dùng hai đứa trẻ này làm nô lệ. Bồ Tát cũng cho vua Đế Thích vợ của mình. (Đế Thích hóa làm vị bà la môn và hỏi xin vợ của Bồ Tát để thử lòng). Đó là kiếp sống của Bồ Tát trước khi tái sinh vào cõi trời Đâu Xuất (Tusita), chờ đợi tái sinh kiếp cuối cùng ở cõi người và trở thành Phật.

Vào những trưa hè gay gắt, người ta bơi lội đùa giỡn trong lòng hồ sâu. Khi thỏa thích lặn ngụp trong nước mát, người này không để ý đến cái nóng rát bỏng từ trời cao. Cũng thế ấy, với lòng đại bi không thể nghĩ bàn, vị Phật tương lai lặn sâu vào biển cả ba la mật để mưu cầu hạnh phúc cho kẻ khác. Đầy ắp lòng bi mẫn thương xót chúng sinh, Bồ Tát không cảm thấy đau đớn khi bị cắt tay, cắt chân bởi những kẻ tàn bạo.

Vị Phật tương lai khởi lòng đại bi, xót thương chúng sinh khi chứng kiến họ bị hành hạ bởi sinh – già – bệnh – chết, đau khổ vì tìm kiếm miếng ăn, thương tích và tật nguyền, đau khổ vì bị giết chóc, tù đày và đau khổ trong bốn cõi khổ. Với lòng bi mẫn, Bồ Tát sẵn sàng chịu đựng những hành hạ tàn bạo nhất (bị cưa tay, chặt chân, cắt tai…) do những kẻ ngu dốt gây ra. Lòng Ngài vẫn chan chứa tình yêu thương đối với những kẻ ấy:

“Vì tạo ra những tội ác này, nên hậu quả nghiêm trọng đang chờ đợi họ. Chỉ với sức chịu đựng và lòng bi mẫn, ta mới có thể cứu họ. Nếu ta hãm hại những kẻ bạo tàn, ta cũng bạo tàn chẳng khác chi họ. Vậy ta có thể làm gì để giải thoát chính mình và cả họ ra khỏi vòng sinh tử? Ta sẽ chịu đựng, nhận lấy những hành động tàn ác sai lầm này, rồi với lòng từ và tâm bi làm phương tiện dẫn đường, ta sẽ vun bồi ba la mật và thành tựu tuệ Toàn Giác của vị Phật Toàn Giác. Chỉ khi thành Phật, ta mới có thể cứu độ chúng sinh khỏi những đau khổ”.

Trong Buddhapadana thuộc Apadana, người chưa là Bồ Tát và có ý nguyện thành Phật phát nguyện thành Phật trong tâm trước sự chứng giám của vô số vị Phật trong quá khứ. Nguyện ước thành Phật, người này vun bồi vô số phước báu trong vô lượng kiếp. Đến khi hội đủ tám yếu tố để trở thành Bồ Tát[1] (như đạo sĩ Sumedha), người này phát nguyện trước mặt vị Phật trong hiện tại:

“Với những phước báu mà con đã tích lũy vun bồi, con sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để trở thành vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Nguyện cho con sẽ có được tuệ Toàn Giác của chư Phật Toàn Giác (Chánh Đẳng Chánh Giác) để cứu độ chúng sinh”.

Đến đây, thề nguyện thành Phật của người này viên mãn. Người này được Đức Phật hiện tại thọ ký trở thành vị Phật tương lai và từ đây, vị này chính thức trở thành Bồ Tát.[2]

Theo Nidanakatha thuộc chú giải Cariya Pitaka, khi chính thức thành Bồ Tát, người này liên tục vun bồi ba la mật Hy sinh – Giới hạnh (pāramī–cāga–cariya) để thành tựu tuệ A La Hán đạo (Arahantamagga ñāṇa) và tuệ Toàn Giác (Sabbaññuta ñāṇa).  Vị Phật tương lai chỉ có thể giác ngộ sau khi vun bồi ba la mật (pāramī)[3], bố thí bộ phận trong thân thể hay thân mạng cho người khác (cāga) và trau dồi giới hạnh (cariya).[4]

Khó có Đức Phật ra đời trên thế gian

Một thuở nọ, khi đến thành Vương xá (Rājagāha), lần đầu tiên ông Cấp Cô Độc (Ānathapinṇḍika) được nghe danh từ “Đức Phật” từ người em rể, ông thốt lên: “Ghoso’ pi kho eso gahapati dullabho lokasmim yadidam ‘buddho buddho’  iti”. (Này em, hiếm khi chúng sinh trên thế gian này được nghe danh từ “Đức Phật”).

Khi Đức Phật trú tại tỉnh Apana thuộc xứ Anguttaripa, vị bà la môn trưởng (tên Sela) được nghe danh từ “Đức Phật” từ đạo sĩ Keniya. Ông thốt lên: “Này bạn, hiếm khi chúng sinh trên thế gian này được nghe danh từ Đức Phật!”.

Hiếm khi chúng sinh được nghe danh từ “Đức Phật” và hiếm hoi hơn nữa là sự ra đời của Đức Phật trên thế gian này. Chỉ trong một khoảng thời gian nhất định ngắn ngủi, Ngài ra đời ở một thế giới[5] nào đó. Có những thế giới chư Phật chẳng bao giờ xuất hiện và chúng sinh nơi đó không bao giờ gặp được Ngài. Trong vòng luân hồi vô tận, sự ra đời của Ngài trên thế gian ví như ánh chớp xuất hiện trên bầu trời rồi vụt tắt.

 

Trí tuệ siêu việt của chư Phật

Theo kinh Sīhanāda Sutta trong Dasaka-Nipāta thuộc Aṅgutara Nikāya, Đức Phật có 10 tuệ (Dasabala ñāṇa):

  1. Thāna-atthāna ñāṇa: Trí tuệ hiểu biết điều gì có thể xảy ra và không thể xảy ra (như tiến trình thụ thai, mà mãi đến khi khoa học tiến bộ mới khám phá ra…).
  2. Kammasamādānavipāka ñāṇa: Trí tuệ hiểu biết quả sinh ra do các nghiệp lực tạo ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
  3. Sabbatthagāminī patipadā ñāṇa: Trí tuệ hiểu biết các cảnh giới, danh sắc, đặc tính vô thường, khổ, vô ngã và con đường đưa đến giải thoát.[6]
  4. Anekadhātu nānādhātu loka ñāṇa: Trí tuệ hiểu biết những yếu tố (18 yếu tố…) khác nhau trong thế giới.
  5. Nānādhimuttikatā ñāṇa: Trí tuệ hiểu biết sự hướng tâm (manasikāra) của chúng sinh.
  6. Indriya paropariyatta ñāṇa: Trí tuệ hiểu biết căn cơ cao thấp của chúng sinh.[7]
  7. Jhānādi saṁkilesa vodānavutthāna ñāṇa: Trí tuệ hiểu biết các tầng thiền định, sự định tâm (jhāna, samādhi, samapatti) và tâm thoát khỏi ô nhiễm (vimukkha) do chứng đắc các tầng thiền Sắc giới, Vô Sắc giới hoặc do chứng đắc Đạo quả.
  8. Pubbenivāsa ñāṇa: Trí tuệ nhớ lại vô số kiếp trong quá khứ (túc mạng minh)
  9. Dibbacakkhu ñāṇa: Trí tuệ hiểu biết bằng thiên nhãn thông chúng sinh ra đi và tái sinh theo nghiệp của họ.[8]
  10. Āsavakkhaya ñāṇa: Trí tuệ hiểu biết sự tận diệt mọi phiền não (Arahanta maggana ñāṇa).

 

Khả năng làm cho mọi chúng sinh nghe được lời giảng của Ngài

Khi Ngài giảng dạy cho riêng ai, chỉ có người ấy nghe được lời Ngài giảng. Khi Ngài muốn giảng cho nhiều người, dù ở thế giới nào thật xa xôi, các chúng sinh ấy đều có thể nghe được lời Ngài đang giảng. Trong khi ngài Xá Lợi Phất phải dụng thần thông để nhiều người có thể nghe được bài kinh Samacitta Sutta mà Đại đức giảng, Đức Phật không cần phải làm như vậy.

Đức Phật chỉ nghỉ hai giờ mỗi đêm

Đức Phật chỉ tắm sau khi hoàn tất bổn phận cần làm trong ngày. Tối đến, trong canh đầu (6:00 – 10:00), chư tăng tề tựu đảnh lễ Ngài. Sau đó, Ngài giảng Pháp và giải đáp những thắc mắc của chư tăng. Vào canh hai (10:00 tối – 2:00 sáng), Ngài giảng dạy cho chư thiên và Phạm thiên đến từ 10.000 thế giới để nghe Pháp và thỉnh Ngài giải đáp những thắc mắc. Những bài kinh như Maṅgala Sutta hay Parabhava Sutta được giảng vào canh hai. Ngài chia canh ba ra làm ba, thời gian đầu (2:00 – 3:00 sáng), Ngài đi kinh hành tới lui để thư giãn thân thể. Sau đó (3:00 – 5:00 sáng), Ngài vào hương phòng, nằm nghiêng người sang bên phải nghỉ ngơi trong chánh niệm và nhập đại định rải tâm từ đến các chúng sinh. Từ 5:00 – 6:00 sáng, Ngài ngồi xếp bằng, dùng Thiên nhãn quán xét thế gian xem ai có đủ ba la mật, có khả năng đắc đạo quả để Ngài tế độ.

GIẢI THÍCH:

 Sự khác biệt giữa Bồ Tát (Bodhisatta) và Phật (Buddha):

Bồ Tát Đức Phật
–  Chưa thành Phật

–  Đang vun bồi Ba La Mật

–  Còn ô nhiễm trong tâm

–  Còn tái sinh

–  Đã thành Phật

–  Đã vun bồi Ba La Mật đến mức hoàn hảo

–  Chấm dứt ô nhiễm trong tâm

–  Không còn tái sinh

 

Ba loại Bồ Tát

  1. Trí Tuệ (Paññādhika)

Với yếu tố trí tuệ vượt trội, vị Bồ Tát, người sẽ trở thành Đức Phật Trí Tuệ tương lai, cần vun bồi ba la mật trong bốn a tăng kỳ kiếp (asankheyya) và 100.000 đại kiếp trái đất (kappa). Đức Phật Thích Ca (Gotama Buddha) thuộc vào nhóm này.

  1. Đức Tin (Saddhādhika)

Với yếu tố đức tin vượt trội, vị Bồ Tát, người sẽ trở thành Đức Phật Đức Tin tương lai, cần vun bồi ba la mật trong tám a tăng kỳ kiếp và 100.000 đại kiếp trái đất.

  1. Tinh Tấn (Viriyādhika)

Với yếu tố tinh tấn vượt trội, vị Bồ Tát, người sẽ trở thành Đức Phật Tinh Tấn tương lai, cần vun bồi ba la mật trong 16 a tăng kỳ kiếp và 100.000 đại kiếp trái đất.

Chư Phật Toàn Giác có được tuệ toàn giác hiểu biết mọi thứ (sabbaññutta ñāṇa).

Phật – Pháp – Tăng

  • “Buddha”: là người biết tất cả, có được tuệ hiểu biết mọi thứ (sabbaññutta ñāṇa), là bậc A La Hán hoàn toàn thanh lọc mọi ô nhiễm trong tâm, không còn sinh tử nữa. Do vậy:
Ngài được gọi là: Iti pi so Bhagavā:
1.   Bậc A La Hán 1.   Arahaṁ
2.   Đấng Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ 2.   Sammāsambuddho
3.   Bậc có trí tuệ và phẩm hạnh hoàn hảo 3.   Vijjācaraṇasampanno
4.   Bậc nói lời chân chánh, đi đến nơi thanh tịnh 4.   Sugato
5.   Bậc thông suốt tam giới 5.   Lokavidū
6.   Bậc có đức hạnh không ai sánh bằng, có khả năng tế độ người hữu duyên cần tế độ 6.   Anuttaro Purisadammasārathi
7.   Bậc Thầy của nhân loại và chư thiên 7.   Satthādevamanussānaṁ
8.   Đức Phật, bậc đã giác ngộ 8.   Buddho
9.   Đức Thế Tôn 9.   Bhagavāti.
  • “Dhamma”: là giáo pháp mà Đức Phật giảng dạy (rất vi diệu, thâm sâu), là những gì có thật, đem đến lợi lạc cho chúng sinh, được rút ra từ những kinh nghiệm tu tập và trí tuệ của Ngài. (Đức Phật nói những điều Ngài làm và làm những điều Ngài nói). Giáo pháp mà Ngài giảng dạy bao gồm trong ba tạng kinh, giúp chúng sinh sống thiện lành, gặt hái hạnh phúc trần gian và siêu thế gian (Niết Bàn).
  • “Saṅgha”: là các đệ tử của Đức Phật bao gồm tỳ khưu (bhikkhu) và tỳ khưu ni (bhikkhuni). Saṅgha gồm hai loại: Thánh (ariya) và phàm (puthujjana). Thánh tăng là người đã đạt được Thánh đạo, Thánh quả và kinh nghiệm Niết Bàn. Phàm tăng là người vẫn còn tu tập để đạt đạo quả. Chư tăng rất đáng tôn kính, là phước điền của chúng sinh.

 

 

Chú thích: Kappa: “Này các tỳ khưu, một đại kiếp (kappa) kéo dài lâu,   lâu lắm. Ta chẳng thể tính được bằng năm, trăm năm, ngàn năm hay trăm ngàn năm” (Aṅguttara Nikāya IV).

“Này chư tỳ khưu, ví như có ngọn núi dài một yojana, rộng một yojana, cao một yojana, cứng đặc. Mỗi 100 năm, có một người dùng tấm vải xát vào ngọn núi này một lần. Cho đến khi ngọn núi này mòn, một đại kiếp vẫn chưa kết thúc. Hay ví như có một khu đất bao quanh bằng vách sắt dài một yojana, rộng một yojana, cao một yojana, chứa đầy ắp hạt mù tạt. Nếu mỗi 100 năm, một hạt mù tạt (mustard) được lấy ra, thì đến khi không còn hạt nào trong đó, một đại kiếp vẫn chưa kết thúc” (Saṁyutta Nikāya II).

BỐN ĐIỀU VI DIỆU

(Dutiya Acchariya Sutta, Aṅguttara Nikāya IV.128)

Nơi chư Phật, là vị A La Hán đã hoàn toàn giác ngộ (Đấng Toàn Giác)., có bốn điều vi diệu. Bốn điều ấy là gì?

Người đời thường tìm vui trong tham ái[9], thỏa thích trong tham ái và thụ hưởng, đam mê tham ái. Nhưng khi giáo pháp về sự xa lìa, buông bỏ tham ái[10] được Như Lai tuyên giảng, sẽ có người có tai muốn nghe, chăm chú lắng nghe và rồi tâm thức hướng đến, kinh nghiệm loại trí tuệ sau cùng[11]. Đây là điều vi diệu đầu tiên có nơi chư Phật, là một bậc A La Hán đã hoàn toàn giác ngộ.

Người đời thường kiêu căng, tự đắc, thỏa thích trong kiêu căng, tự đắc và vui sướng vì được thỏa mãn tính kiêu căng, tự đắc của mình. Nhưng khi giáo pháp về sự xa lìa, buông bỏ tính kiêu căng được Như Lai tuyên giảng, sẽ có người có tai muốn nghe, chăm chú lắng nghe và rồi tâm thức  hướng đến, kinh nghiệm loại trí tuệ sau cùng. Đây là điều vi diệu thứ hai có nơi chư Phật, là một bậc A La Hán đã hoàn toàn giác ngộ.

Người đời thường thỏa thích suy nghĩ miên man, tìm vui trong vọng tưởng và vui sướng trong miên man vọng tưởng[12]. Nhưng khi Như Lai tuyên giảng Pháp tĩnh lặng, sẽ có người có tai muốn nghe, chăm chú lắng nghe và rồi tâm thức hướng đến, kinh nghiệm loại trí tuệ sau cùng. Đây là điều vi diệu thứ ba có được nơi chư Phật, là một bậc A La Hán đã hoàn toàn giác ngộ.

Người đời thường sống trong vô minh, bị vô minh làm mù lòa và bị vô minh trói buộc. Nhưng khi Như Lai tuyên giảng giáo pháp loại trừ vô minh, sẽ có người có tai muốn nghe, chăm chú lắng nghe và rồi tâm thức hướng đến, kinh nghiệm loại trí tuệ sau cùng. Đây là điều vi diệu thứ tư có được nơi chư Phật, là một bậc A La Hán đã hoàn toàn giác ngộ.

Đây là bốn đặc tính tuyệt vời có được nơi Như Lai, là một bậc A La Hán đã hoàn toàn giác ngộ (Đấng Toàn Giác).

GIẢI THÍCH:

Trí Tuệ Sau Cùng (aññā)

Đức Phật đã nhắc đến loại “trí tuệ sau cùng” trong nhiều bài kinh[13]. Đây là loại trí tuệ phát sinh với đạo quả A La Hán. Trong cuộc đối thoại giữa Đức Phật và ngài Xá Lợi Phất (kinh Kaḷāra Sutta, Saṃyutta Nikāya II.1.4.2), Đức Phật định nghĩa trí tuệ sau cùng là trí tuệ hiểu: “Tái sinh đã chấm dứt. Cuộc sống Thánh thiện đang diễn ra. Điều cần làm đã làm xong, chẳng còn gì sinh khởi thêm nữa”.

 

KINH HATTHAKA

(Hatthaka Sutta, Aṅguttara Nikāya III.35)

Một thuở nọ, Đức Phật ngồi trên đống lá gần lối mòn mà gia súc thường đi qua trong vườn cây Siṁsapā[14] gần Āḷavī. Lúc ấy, hoàng tử Hatthaka xứ Āḷavī đang đi bộ tới lui gần đó. Trông thấy Đức Phật ngồi trên đống lá gần lối mòn mà gia súc thường đi qua, ông đến đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi sang một bên và nói rằng:

  • Thưa Ngài, Ngài ngủ có ngon giấc không?
  • Này hoàng tử, ta ngủ rất ngon giấc. Ta là một trong những người ngủ ngon nhất trong thế giới này.
  • Bây giờ là mùa đông, về đêm trời rất lạnh và tuyết rơi trong tám ngày nay[15]. Đất thô cứng trên lối đi đầy dấu chân thú[16], mà lớp lá Ngài trải (để ngồi) quá mỏng, lá trên cây lại thưa thớt và y áo của Ngài thật mỏng manh trong khi gió buốt từ trên cao ào ạt thổi. Sao Ngài lại nói nói rằng: “Này hoàng tử, ta ngủ rất ngon giấc. Ta là một trong những người ngủ ngon nhất trong thế giới này”?
  • Để ta hỏi ông câu hỏi này, và ông hiểu như thế nào thì hãy trả lời như thế ấy. Giả sử có người chủ hộ hay con trai của ông ta có một căn nhà với mái ngói uốn cong, có tường che chắn trong ngoài, không gió lùa, có rào cản an toàn và các cửa đóng chặt. Bên trong có giường phủ chăn lông dày, có vải len trắng thêu, hoặc chăn làm bằng da linh dương với rèm đỏ bên trên cùng gối và gối dựa màu đỏ thẫm ở hai đầu giường. Và nơi đó, có ngọn đèn dầu thắp sáng, với bốn cô vợ yêu kiều hầu hạ bên cạnh. Theo ông, người này ngủ có ngon giấc không?
  • Ông ấy chắc chắn ngủ ngon. Ông ấy là một trong những người ngủ ngon nhất trong thế giới này.
  • Này hoàng tử, ông có nghĩ rằng cơn sốt do ái dục sinh khởi nơi thân và tâm của người này làm cho người này không thể ngủ ngon giấc?
  • Dạ có như vậy.
  • Này hoàng tử, cơn sốt do ái dục sinh khởi nơi thân và tâm của người này làm cho người này không thể ngủ ngon giấc. Nhưng Như Lai đã loại trừ ái dục, chặt gốc của nó như cây thốt nốt bị chặt lìa, tiêu hủy, làm cho nó không còn sinh khởi trong tương lai. Vì lẽ đó, ta ngủ ngon giấc.

Này hoàng tử, ông có nghĩ rằng cơn sốt do sân hận sinh khởi nơi thân và tâm của người này làm cho người này không thể ngủ ngon giấc?

  • Dạ có như vậy.
  • Này hoàng tử, cơn sốt do sân hận sinh khởi nơi thân và tâm của người này làm cho người này không thể ngủ ngon giấc. Nhưng Như Lai đã loại trừ sân hận, chặt gốc của nó như cây thốt nốt bị chặt lìa, tiêu hủy, làm cho nó không còn sinh khởi trong tương lai. Vì lẽ đó, ta ngủ ngon giấc.

Này hoàng tử, ông có nghĩ rằng cơn sốt do si mê sinh khởi nơi thân và tâm của người này làm cho người này không thể ngủ ngon giấc?

  • Dạ có như vậy.
  • Này hoàng tử, cơn sốt do si mê sinh khởi nơi thân và tâm của người này làm cho người này không thể ngủ ngon giấc. Nhưng Như Lai đã loại trừ si mê, chặt gốc của nó như cây thốt nốt bị chặt lìa, tiêu hủy, làm cho nó không còn sinh khởi trong tương lai. Vì lẽ đó, ta ngủ ngon giấc.

 Không còn quyến luyến hạnh phúc thế gian,

 tâm hằng mát mẻ,

 nghiệp lực tái sinh đã cạn[17],

 vị bà la môn ngủ giấc an lành.

 

Chặt đứt mọi ràng buộc,

 loại bỏ đau khổ trong tâm,

 tâm hằng tĩnh lặng,

 người ấy luôn an giấc.

 

KINH CŪANIKA (Abhibhū)                           

(Ānanda Vagga, Dutiya Paṇṇāsaka, Aṅguttara Nikāya III.80)

Ngày nọ, đại đức Ānanda đến gặp Đức Thế Tôn, tôn kính đảnh lễ Ngài, ngồi sang một bên và thưa rằng:

  • Thưa Đức Thế Tôn, Ngài vẫn thường nói rằng: ‘Này Ānanda, một vị đệ tử của Đức Phật Sikhī tên Abhibhū[18]. Khi đứng ở cảnh giới Phạm thiên, vị này có thể làm cho 1.000 hệ thống thế giới nghe được điều mình nói’. Vậy thì một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác tự mình giác ngộ và đáng được cung kính có thể làm cho bao nhiêu hệ thống thế giới nghe được tiếng vị ấy nói?
  • Này Ānanda, Abhibhū chỉ là đệ tử của Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác, khả năng của một vị Chánh Đẳng Chánh Giác là không thể nghĩ bàn.[19]

Đại đức Ānanda lại hỏi Đức Phật câu hỏi này lần thứ hai và rồi lần thứ ba. Đức Phật nói:

  • Này Ānanda, ông có nghe nói rằng Cūḷanika lokadhātu (hệ thống thế giới nhỏ) gồm 1.000 thế giới nhỏ?
  • Thưa Đức Thế Tôn, đã đến lúc lắng nghe. Xin Thế Tôn chỉ dạy. Nghe Ngài nói, chư tăng sẽ ghi nhớ trong tâm.
  • Này Ānanda, hãy lắng nghe. Ta bắt đầu nói.
  • Dạ thưa vâng.
  • Ānanda, mỗi mặt trăng và mỗi mặt trời xoay theo chu kỳ của nó và tỏa sáng chung quanh. 1.000 đơn vị gồm 1.000 mặt trăng và 1.000 mặt trời như thế hợp lại tạo nên một 1.000 hệ thống thế giới nhỏ. Như vậy, trong 1.000 hệ thống thế giới nhỏ này, có 1.000 mặt trăng, 1.000 mặt trời, 1.000 núi Sineru, 1.000 vùng đất ở hướng Nam[20],1.000 vùng đất ở hướng Tây, 1.000 vùng đất ở hướng Bắc, 1.000 vùng đất ở hướng Đông, 1.000 Tứ Đại Dương (tứ đại dương nghĩa là bốn biển), 1.000 Tứ Đại Thiên Vương, 1.000 cõi của Tứ Đại Thiên Vương, 1.000 cõi Tam Thập Tam Thiên, 1.000 cõi trời Dạ Ma, 1.000 cõi trời Đâu Xuất, 1.000 cõi trời Hóa Lạc

Thiên, 1.000 cõi trời Tha Hóa Tự Tại, 1.000 cõi Phạm thiên. Này Ānanda, đây là 1.000 hệ thống thế giới nhỏ Cūḷanika lokadhātu.

Này Ānanda, có 1.0002 hệ thống thế giới nhỏ Cūḷanika lokadhātu như thế hợp lại tạo nên một hệ thống thế giới cỡ trung Majjhimikā lokadhātu (gồm 1.000 nhân 1.000 tức một triệu thế giới hợp thành). Và 1.000 hệ thống thế giới cỡ trung như thế hợp lại tạo thành một hệ thống thế giới cỡ đại Mahāsahassī lokadhātu (gồm 1.000 x 1.000 x 1.000 tức là một tỉ thế giới hợp thành).

  • Thưa Đức Thế Tôn, bằng cách nào mà vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác có thể làm cho cả một hệ thống thế giới cỡ đại gồm triệu triệu thế giới hợp thành nghe được tiếng nói của Ngài, hoặc làm cho những thế giới mà Ngài muốn họ nghe có thể nghe được?
  • Này Ānanda, Như Lai tỏa ánh sáng đến khắp một hệ thống thế giới cỡ đại gồm triệu triệu thế giới hợp thành để những chúng sinh nơi đó hay biết, cảm nhận được ánh sáng này. Và Như Lai hướng âm thanh về đó, làm chúng sinh nghe được giáo pháp. Bằng cách này, ta làm cho pháp âm vang xa đến nơi nào ta muốn trong hệ thống thế giới cỡ đại này.

Nghe vậy, Đại đức Ānanda nói với tỳ khưu Udāyi:

  • Tôi quá may mắn. Tôi quá may mắn vì thầy của tôi quả thật vĩ đại và tuyệt vời!

Tỳ khưu Udāyi hỏi Đại đức Ānanda:

  • Này sư Ānanda, ông có được những lợi lạc gì khi có một vị thầy vĩ đại và tuyệt vời như thế chứ?[21]

Nghe vậy, Đức Thế Tôn nói:

  • Udāyi, ông không nên nói như vậy. Nếu như Ānanda qua đời trước khi tận diệt được tham ái trong tâm, vì sự tôn kính Như Lai, Ānanda sẽ được sinh vào cõi chư thiên trở thành vua trời Đế Thích trong bảy kiếp, hoặc tái sinh làm đại vương ở vùng đất hướng Nam trong bảy kiếp. Nhưng ta biết Ānanda sẽ kinh nghiệm loại trí tuệ sau cùng[22], chứng ngộ Niết Bàn ngay trong kiếp này.

KINH SUKHUMALA

(Aṅguttara Nikāya III.38)

 Này tỳ khưu, ta đã được chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo, được chăm sóc nuôi dưỡng rất chu đáo và được chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo nhất hạng. Tại hoàng cung, ba hồ sen được xây dựng cho ta: một hồ toàn sen xanh, một hồ toàn sen đỏ, một hồ toàn sen trắng nở rộ. Ta chỉ dùng loại trầm hương xứ Kāsi, mũ, áo khoác, y nội và khăn trên đầu đều làm bằng vải xứ Kāsi [23]. Ngày lẫn đêm, dù, lọng trướng che trên đầu ta để cái nóng, lạnh, sương, bụi và cỏ không lấm nhiễm thân ta.

Vua cha xây cho ta ba cung điện: một dùng trong mùa đông, một dùng trong mùa hạ, và một dùng trong mùa mưa[24]. Ta sống bốn tháng trong cung điện mùa đông, được các vũ nữ hầu hạ[25] (chẳng có nam vũ công nào nơi đây) và ta chẳng hề rời khỏi cung điện trong suốt thời gian này. Trong khi tôi tớ và nhân công ở các gia đình khác ăn cơm gạo nát và chút ít đồ chua qua bữa, tôi tớ và nhân công tại hoàng cung của cha ta được ăn cơm gạo ngon với thịt.

Này các tỳ khưu, trong cuộc sống thảnh thơi và sung túc, suy nghĩ bỗng sinh khởi trong tâm Như Lai:

“Phàm nhân đang lão hóa dần và không thể tránh khỏi già nua. Nhưng với một cái tâm chưa được huấn luyện thuần thục, người này quên đi tình trạng (lão hóa) của mình cho nên lẩn tránh, chối từ, cảm thấy ghê tởm khi thấy một người già lọm khọm. Chính ta đây rồi cũng sẽ già và không tránh khỏi cái chết. Vậy khi nhìn thấy một người già lọm khọm, ta không nên lẩn tránh, chối từ và cảm thấy ghê tởm như thế”.

Quán tưởng như thế, niềm tự hào về vóc dáng trẻ trung (yobbana māna) không còn sinh khởi trong ta.

Và ta quán tưởng rằng:

“Phàm nhân không thể tránh khỏi bệnh tật, chắc chắn phải đương đầu với bệnh tật. Nhưng khi nhìn thấy một người bệnh, người này trốn tránh, chối từ và cảm thấy ghê tởm mà quên đi tình trạng của chính mình. Ta phải đương đầu với bệnh tật, không thể thoát khỏi bệnh tật. Vậy khi nhìn thấy một người bệnh, ta không nên lẩn tránh, chối từ và ghê tởm như thế”.

Quán tưởng như thế, niềm tự hào về sức khỏe của mình (arogya māna) không còn sinh khởi trong ta.

Ta lại quán tưởng rằng:

“Phàm nhân chắc chắn sẽ chết, không tránh khỏi cái chết. Nhưng khi nhìn thấy một người chết, người này trốn tránh, chối từ và cảm thấy ghê tởm mà quên đi tình trạng của chính mình. Chính ta rồi sẽ chết, không thể thoát khỏi cái chết. Vậy khi nhìn thấy một người chết, ta không nên lẩn tránh, chối từ và ghê tởm như thế”.

Quán tưởng như thế, niềm tự hào về sự sống của mình (jīvita māna) không còn sinh khởi trong ta.

Này tỳ khưu, có ba loại ô nhiễm, đó là gì? Ô nhiễm liên quan đến sự trẻ trung, sức khỏe và sự sống.

Một phàm nhân với cái tâm chưa được huấn luyện thường tự mãn với sự trẻ trung và làm những điều xấu xa qua thân, khẩu, ý. Khi thân thể này bị hủy hoại, sau khi chết, người này sẽ tái sinh vào cảnh khổ, vào cảnh giới khốn cùng, vào cõi thấp, vào địa ngục.

Một phàm nhân với cái tâm chưa được huấn luyện thường tự mãn với sức khỏe dồi dào và làm những điều xấu xa qua thân, khẩu, ý. Khi thân thể này bị hủy hoại, sau khi chết, người này sẽ tái sinh vào cảnh khổ, vào cảnh giới khốn cùng, vào cõi thấp, vào địa ngục.

Một phàm nhân với cái tâm chưa được huấn luyện thường tự mãn với kiếp sống (tốt đẹp của mình) và làm những điều xấu xa qua thân, khẩu, ý. Khi thân thể này bị hủy hoại, sau khi chết, người này sẽ tái sinh vào cảnh khổ, vào cảnh giới khốn cùng, vào cõi thấp, vào địa ngục.

Không tự huấn luyện mình, khi ngã mạn, tự mãn với sự trẻ trung của mình, tỳ khưu sẽ tái sinh nơi cảnh giới thấp.

Không tự huấn luyện mình, khi ngã mạn, tự mãn với sức khỏe dồi dào, tỳ khưu sẽ tái sinh nơi cảnh giới thấp.

Không tự huấn luyện mình, khi ngã mạn tự mãn với cuộc sống của mình, tỳ khưu sẽ tái sinh nơi cảnh giới thấp.

“Đang chịu ảnh hưởng của bệnh tật, già nua và cái chết, lại ghê tởm trước bệnh tật, già nua và cái chết của kẻ khác, người như thế sẽ ra đi theo nghiệp của mình. Ghê tởm trước chúng sinh vốn bị chi phối theo quy luật của bệnh tật, già nua và cái chết quả là lầm lạc, vì chính ta cũng chẳng khác ai”.

Quán tưởng như thế, tâm chẳng còn muốn cưu mang, tâm vượt lên mọi ô nhiễm (ngã mạn, tham ái…) liên quan đến sự trẻ trung, sức khỏe và kiếp sống. Ta tìm gặp sự yên ổn trong hạnh buông xả và hỉ lạc sinh khởi trong ta. Khi chứng nghiệm Niết Bàn, lòng chẳng còn lưu luyến hạnh phúc thế gian[26]. Sống đời xuất gia, ta sẽ chẳng bao giờ quay quay lại.[27]

GIẢI THÍCH:

Ba cung điện: Ba cung điện này được mô tả chi tiết trong Chú Giải kinh Sukhumala Sutta thuộc Aṅguttara, Chú Giải kinh Magandiya Sutta thuộc Majjhimapaṇṇasa và Phụ Chú Giải JinaIankara trong chương Agarikasampatti. Sau đây là phần tóm tắt từ những bản Chú Giải trên:

Khi Bồ Tát được 16 tuổi, vua Suddhodana mời những kiến trúc sư, thợ nề, thợ mộc, thợ điêu khắc và họa sĩ danh tiếng đến khởi công xây dựng ba cung điện này cho Bồ Tát cư trú.

Cung điện mùa đông (Ramma)

Gồm có chín tầng, cung điện và các phòng được xây thấp để giữ độ ấm. Các cửa sổ trong tư thế sư tử và hệ thống thông hơi được thiết kế sao cho hơi lạnh từ bên ngoài (tuyết, sương, gió lùa) không lọt vào. Hình ngọn lửa được vẽ trên tường, trên nóc, trên sàn trống để tạo cảm giác ấm áp khi nhìn vào các hình này. Những chuỗi dầu thơm, tràng hoa và ngọc trai được treo đó đây. Trần nhà được dát bằng len và lụa vốn rất mềm, mịn và ấm áp.

Trên đó, những ngôi sao làm bằng vàng, bạc, ruby long lanh phản chiếu ánh sáng từ ngọn lửa rọi vào. Ngoài ra, những bức màn bằng len và lưới mỏng được trang trí với những mảnh nhung lụa thật mềm mại. Quần áo len và nhung dùng trong mùa đông được chuẩn bị sẵn sàng. Thức ăn nóng, cay cũng được chuẩn bị chu đáo. Để giữ độ ấm bên trong cung điện, các cửa sổ được mở ra vào ban ngày và đóng lại vào ban đêm.

Cung điện mùa hạ (Suramma)

Gồm có năm tầng, toàn cung điện và các phòng được thiết kế để tạo sự thoáng khí. Các tầng được xây cao, cửa sổ và cửa kéo to và rộng để đón gió mát từ bên ngoài vào. Cửa chánh và cửa sổ được thiết kế tạo sự thoáng mát, một số cửa cái có lỗ thông hơi hoặc lưới (làm từ vàng, bạc hoặc sắt). Các bức tường, cột trụ và mái nhà được trang trí với các hình hoa sen xanh, đỏ và trắng tạo cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái cho người xem. Những vại nước đầy ắp nước được đặt cạnh cửa sổ và ở những nơi này, hoa sen đủ màu đang khoe sắc. Những vòi nước phun được thiết kế thay mưa làm dịu cơn nóng và cũng để tưới cây lá xung quanh.

Trong cung điện, các chậu hoa và những bồn nước chứa bùn thơm và bùn loãng được đặt đó đây ở các góc tường để trồng năm thứ hoa sen. Trần nhà được dát vải cô tông mềm mịn tạo sự mát mẻ. Ngoài ra, những bức tường dát vàng và những màn lụa thưa mịn được trang trí đẹp mắt. Thảm trắng được lót sàn để tạo cảm giác mát mẻ.

Quần áo trắng mỏng được chuẩn bị để dùng trong mùa hè. Thức ăn thơm ngon có tác dụng giải nhiệt cũng được chuẩn bị sẵn sàng. Mái cung điện được gắn những cái chuông nhỏ tạo ra những âm thanh vui tai và nhẹ nhàng như năm loại nhạc trời. Những miếng vàng mỏng với những lỗ nhỏ li ti được gắn sát dưới nóc cung điện và khi nước từ bốn hồ nước ở bốn phía cung điện được bơm lên, nước thấm qua trần nhà làm những giọt nước li ti rơi xuống như thể trời đang đổ mưa. Bên trên những miếng vàng mỏng này là những tấm da trâu khô và những hạt sỏi được một hệ thống máy đưa lên phía trên nóc và rồi thả xuống. Khi những hạt sỏi này rơi lên miếng da trâu, nó tạo ra âm thanh tương tự tiếng sấm sét vang trong mưa.

Có 108 chậu bằng vàng hoặc bạc chứa nước hoa thơm được đặt quanh giường ngủ được bao phủ bởi miếng lưới mỏng thêu hoa sen xanh. Hoa sen đủ màu trong các bồn nước bằng đồng đặt đó đây trong cung điện tạo ra cảm giác mát mẻ, thoải mái. Sen nở khi có ánh sáng mặt trời, ong mật bay quanh hoa sen để hút mật và cung điện Suramma luôn phảng phất hương hoa. Cửa cái được đóng kín vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

Hệ thống máy được sử dụng để bơm nước từ hồ lên, để gắp sỏi lên và thả xuống miếng da trâu tạo ra mưa và sấm sét nhân tạo. Bồ Tát mặc áo quần màu xanh da trời, thỏa thích tận hưởng sự mát mẻ và vui chơi với 40 ngàn tì nữ sực mùi nước hoa trong những bộ quần áo xanh. Ở bốn phía cung điện, năm loại hoa sen được trồng trong bốn hồ nước sạch mát rượi màu xanh ngọc.

Những loài chim nước như thiên nga, vịt, diệc đủ màu từ hồ nước phía đông vụt bay lên và lướt ngang qua cung điện tạo ra những âm thanh êm tai, rồi đáp xuống hồ nước phía tây. Cũng có lúc, những con chim bay từ hồ tây qua hồ đông, từ hồ bắc qua hồ nam, từ hồ nam qua hồ bắc. Trong suốt mùa hạ, Bồ Tát sống an vui nơi cung điện này như thể đang ở trong mùa mưa mát mẻ vậy.

Cung điện mùa mưa (Subha)

Gồm có bảy tầng, được thiết kế hoàn hảo, không thấp cũng không cao, không quá rộng cũng không quá hẹp, để tạo ra sự ấm áp và mát mẻ. Cửa cái và các cửa sổ chính được thiết kế phù hợp cho cả mùa nóng và mùa lạnh: có cửa được che chắn cẩn thận bằng ván và len, có cửa lại có nhiều lỗ nhỏ với lưới kim loại (bằng vàng, bạc hay đồng). Trên tường là những bức tranh vẽ cảnh ao hồ và lửa. Quần áo và thảm được chuẩn bị sẵn để dùng khi nóng nực hoặc khi lạnh và vật dụng trang trí nội thất dùng ở hai cung điện mùa đông và mùa hạ được sắp đặt tại đây. Một số cửa cái và cửa sổ được mở ban ngày và đóng ban đêm trong khi các cửa khác được mở ban đêm và đóng lại vào ban ngày.

Sau khi mô tả cuộc sống xa hoa, dục lạc của mình trong ba cung điện, Đức Phật nói trong kinh Magandiya Sutta (Majjhima Nikāya 75) về những hỉ lạc cao hơn hạnh phúc trần gian như sau:

“Khi sống đời tại gia, ta được chu cấp, hưởng thụ, cận kề cảnh sắc như ước nguyện: cảnh sắc đẹp đẽ đem đến sự thích thú, hài lòng liên quan đến dục trần, cảnh sắc làm phát sinh dục vọng. Khi sống đời tại gia, ta được chu cấp, hưởng thụ, cận kề âm thanh, mùi hương… vị nếm… sự xúc chạm như ước nguyện… Ta sống trong ba cung điện… chẳng hề bước ra ngoài cung điện. Lần nọ, khi hiểu ra sự thật sinh diệt, những quyến rũ, hiểm nguy và sự thoát khỏi dục lạc, ta từ bỏ tham ái, dập tắt lửa tham ái, sống không khát vọng, tâm hướng vào trong.

Ta thấy những chúng sinh chưa thoát khỏi tham ái vẫn tìm kiếm tham ái, bị tham ái hành hạ, chìm đắm trong tham ái. Nhưng ta chẳng tham đắm trong tham ái, chẳng ao ước hay ganh tị với họ. Vì sao vậy? Này Māgandiya, vì có loại hạnh phúc khác với dục lạc, khác với những bất thiện, vượt xa hạnh phúc thiên giới. Ta đã đạt được và sống an hưởng loại hạnh phúc này. Do vậy, ta chẳng ao ước hay ganh tị với loại hạnh phúc thấp kém hơn, chẳng vui hưởng loại hạnh phúc thấp kém hơn”.

Loại hạnh phúc mà Ngài nói đến trong kinh Magandiya Sutta là hạnh phúc an hưởng quả vị giải thoát. Một người “được chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo nhất hạng” và hưởng mọi lạc thú trần gian ở mức độ cao nhất như thế vẫn nhận ra loại hạnh phúc trần gian này chỉ có vậy, chứ không cao hơn. Do đó, chúng ta được khuyên từ bỏ hạnh phúc trần gian thấp kém, để có hạnh phúc giải thoát cao thượng vượt xa muôn lần hạnh phúc trần gian.

NĂM SỰ KIỆN LỚN

VÀO NGÀY RẰM THÁNG TƯ

  1. Đạo sĩ Sumedha vào thời Đức Phật Dīpaṅkara
  2. Thái tử Siddhattha (Bồ Tát) ra đời
  3. Chiến thắng Ma Vương
  4. Thái tử Siddhattha đắc đạo thành Phật
  5. Đức Phật nhập Đại Niết Bàn và vị đệ tử cuối cùng tên Subaddha

Đức Phật kể tóm lược những kiếp quá khứ của mình bắt đầu từ kiếp Ngài là đạo sĩ Sumedha cho đến kiếp cuối cùng thành Phật Thích Ca.

Đạo sĩ Sumedha có thần thông và đã vun bồi ba la mật đến giai đoạn có thể trở thành một vị A La Hán. Nhưng Ngài chưa muốn giải thoát vì lòng bi mẫn muốn cứu độ chúng sinh (khỏi đau khổ trong sinh tử). Một ngày nọ, khi bay trên không trung, đạo sĩ thấy nhiều người bận rộn sửa lại con đường ở thành phố Rammavatī. Khi biết rằng Đức Phật Dīpaṅkara và 400.000 tỳ khưu đang trên con đường đi đến thành phố này, đạo sĩ Sumedha tình nguyện tham gia sửa đường.

Vì đạo sĩ có thần thông, dân chúng giao cho ông sửa một đoạn đường khó khăn nhất. Nghĩ rằng dùng thần thông sửa đường sẽ không được nhiều phước báu, đạo sĩ Sumedha quyết định dùng sức của chính mình. Vì thế, ông không thể hoàn tất đoạn đường này vào lúc Đức Phật Dīpaṅkara và các tỳ khưu đi đến.

Khi Đức Phật Dīpaṅkara và các tỳ khưu đến, đạo sĩ nằm xuống đoạn đường lầy lội dùng thân làm cầu cho các vị này dẫm lên. Biết rất rõ rằng nếu Đức Phật Dīpaṅkara và 400.000 tỳ khưu bước trên thân thể của mình thì ông sẽ chết, nhưng đạo sĩ vẫn sẵn sàng xả thân. Đức Phật Dīpaṅkara hiểu rõ đức tin và ý muốn thành Phật của vị đạo sĩ này mạnh mẽ không gì lay chuyển nổi. Ngài cũng thấy trước rằng trong tương lai xa xôi, vị đạo sĩ này sẽ trở thành Phật. Vì thế, Ngài tuyên bố rằng đạo sĩ Sumedha sẽ thành Phật sau khi vun bồn ba la mật trong bốn a tăng kỳ và 100.000 đại kiếp trái đất kể từ ngày đó.

Đức Phật Dīpaṅkara bước sang một bên, tránh không dẫm lên lưng vị đạo sĩ này. Các tỳ khưu cũng bước sang một bên và đồng thanh thốt lên: “Sādhu! Sādhu! Sādhu!” để bày tỏ lòng quý kính vị tân Bồ Tát này.

 Bồ Tát Siddhattha đản sinh

Hoàng hậu Māyā lấy vua Suddhodana và thọ thai. Từ Kapilavathu, hoàng hậu đến Devadaha để thăm người em trai và sinh con nơi đó. Trên đường đi, bà hạ sinh thái tử Siddhattha tại vườn Lumbini, dưới những tàng cây long thọ trổ đầy hoa. Vừa ra đời, thái tử bước đi bảy bước, chỉ tay lên trời và nói rằng:

“Trên trời dưới đất chẳng ai bằng ta.

Ta là bậc cao thượng nhất trên đời.

Đây là kiếp sống cuối cùng,

và ta chẳng bao giờ phải tái sinh lần nữa”.

Sách vở ghi lại rằng với những phẩm tính có một không hai của Ngài, bụng mẹ chỉ để dành cho Ngài và vì thế, hoàng hậu Māyā qua đời bảy ngày sau đó.

Thái tử Siddhattha chiến thắng Ma Vương và đắc đạo thành Phật

Cùng thực hành khổ hạnh với một nhóm đạo sĩ, Bồ Tát (Thái tử Siddhattha) hầu như chẳng ăn uống gì làm cho thân thể Ngài kiệt quệ và không thể đắc đạo được. Ngài rời nhóm đạo sĩ tu khổ hạnh này và quyết định tìm kiếm một cách thức tự giải thoát. Nhìn thân hình Ngài tiều tụy như bộ xương khô, cô Sujātā dâng Ngài cháo sữa trong cái bát vàng. Bồ Tát nhận lấy và ăn 49 ngụm cháo. Rồi Ngài ném cái bát vàng xuống sông và nguyện nó sẽ trôi ngược dòng nếu như Ngài có thể đắc đạo ngay trong ngày hôm ấy. Cái bát trôi ngược dòng như Ngài ước.

[Sách vở ghi lại rằng tại đây, các vị Phật trước kia cũng đã nguyện như thế và ném cái bát vàng xuống sông. Nơi dòng sông đó, con rồng Kāḷa đang ngủ say (từ thời mà vị Bồ Tát trước ném cái bát vàng xuống đó) chợt thức dậy vì tiếng va chạm của hai cái bát vàng (cái bát mà vị Bồ Tát trước đã ném xuống và cái bát mà Bồ Tát vừa ném xuống). Và con rồng biết rằng một vị Phật nữa sắp ra đời trên thế gian.]

Bồ Tát quyết định ngồi dưới cội cây Bồ Đề hành thiền và nguyện chỉ đứng dậy khi thành đạo. Một người tên Sotthiya dâng Ngài tám nắm cỏ. Ngài trải cỏ và ngồi trên đó hành thiền đến khi mặt trời lặn. Lúc đó, Ma Vương (Māra) cùng đội hùng binh của nó đến yêu cầu Ngài rời khỏi cội cây Bồ Đề.[28] Ma Vương nói rằng chỗ này thuộc về Ma Vương và đội hùng binh xác nhận như thế.

Chẳng có ai bảo vệ, Bồ Tát đưa tay chạm đất và gọi đất làm nhân chứng cho những ba la mật mà Ngài đã vun bồi từ thời Đức Phật Dīpaṅkara. Vì mỗi khi làm phước thiện, Ngài luôn hồi hướng phước báu đến tất cả chúng sinh và thần Đất. Được gọi làm nhân chứng, mặt đất rung chuyển dữ dội khiến Ma Vương và đội hùng binh không đứng vững và bỏ chạy. Ma Vương rơi khỏi lưng voi Girimekhalā và đánh mất cái kèn Bernwa.

(Ma Vương lầm tưởng rằng mình là người cao nhất và có nhiều uy quyền nhất, có thể cai quản và sai khiến mọi chúng sinh. Ma Vương nghĩ rằng khi Bồ Tát đắc đạo, chính Ngài và những người Ngài giúp đắc đạo sẽ không còn nằm dưới quyền cai trị và kiểm soát của mình. Vì thế, Ma Vương cản trở không cho Bồ Tát đắc đạo. Về sau, chính Ma Vương thỉnh cầu Đức Phật sớm nhập diệt).

Và rồi trong canh đầu đêm hôm đó, Bồ Tát có được Túc Mạng Thông thấy được vô số kiếp quá khứ của mình kể từ lúc gặp Đức Phật Dīpaṅkara và trước đó. Trong canh hai, Bồ Tát có được Thiên Nhãn Thông hiểu rõ chúng sinh chết và tái sinh theo nghiệp đã tạo của họ. (Với Thiên Nhãn Thông, Ngài còn có thể thấy bất cứ cái gì Ngài muốn thấy, như chư thiên có thể nhìn thấy vậy). Trong canh ba, Bồ Tát đạt được Lậu Tận Thông để biết rằng tất cả ô nhiễm trong tâm Ngài đã hoàn toàn bị loại trừ và rằng Ngài sẽ chẳng bao giờ tái sinh lần nữa. Ngài đã thành Phật!

Đức Phật nhập Đại Niết Bàn và vị đệ tử cuối cùng tên Subaddha

Cũng như các vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác trong quá khứ, Đức Phật Thích Ca đến Kusinara nhập diệt. Khi khởi hành, Ngài đồng ý dùng trưa ở chỗ người thợ bạc Cunda. Sau khi thọ thực, Ngài bị tiêu chảy nặng, phải nghỉ 26 lần trên đường từ Pāvā đến Kusinara. Khi đến Kusinara, Ngài nằm chỗ đã dọn sẵn giữa hai cây long thọ xoay mặt về hướng tây và đầu về hướng bắc.

Vào lúc đó, đạo sĩ Subaddha đến. Trước kia, với lòng kiêu mạn, vị đạo sĩ này không muốn đến hỏi Đức Phật ba câu hỏi vì nghĩ  rằng Đức Phật kém hơn ông đến 20 tuổi. Ông đã hỏi rất nhiều vị đạo sĩ tiếng tăm ba câu hỏi này, nhưng không thỏa mãn với những câu trả lời của họ. Khi biết Đức Phật sẽ nhập diệt ngày hôm đó, đạo sĩ Subaddha đến và thỉnh cầu Đại đức Ānanda cho phép ông được gặp Đức Phật. Ba câu hỏi của ông là:

“1. Có phải những ai tuyên bố mình đắc đạo đều hiểu được giáo pháp? 2. Có thể chăng một nửa trong số họ hiểu còn một nửa thì không? 3. Hay họ chẳng hiểu giáo pháp chi cả?”

Đức Phật nói rằng trong số những người thực hành Bát Chánh Đạo, có người đắc đạo trở thành Thánh Nhập Lưu Tu Đà Hườn (Sotāpanna), Thánh Nhất Lai Tư Đà Hàm (Sakadāgāmī), Thánh Bất Lai A Na Hàm (Anāgāmī) và Thánh Vô Sanh A La Hán (Arahant).

Không thể tìm thấy những người như thế bên ngoài Bát Chánh Đạo. Và Saṅgha, đệ tử của Đức Phật, thực hành Bát Chánh Đạo.

Đạo sĩ Subaddha vô cùng mừng rỡ khi nghe những câu trả lời mà ông chưa từng được nghe trước đó. Rồi ông nói: “Con đã hiểu giáo pháp” và xin được thọ giới tỳ khưu. Đức Phật dạy ông phương pháp hành thiền một cách vắn tắt. Và trước khi Đức Phật nhập Đại Niết Bàn, vị này trở thành A La Hán trong lúc đang đi kinh hành.

Cũng như các vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác trong quá khứ, Đức Phật nhập Nhất thiền, Nhị thiền và lên dần đến tầng thiền thứ tám. Rồi Ngài vào trạng thái Diệt Thọ – Tưởng – Định Nirodhasamāpatti (ngừng thở, ngừng các sắc pháp – ngoại trừ sắc pháp do nghiệp tạo kammaja rūpa và các trạng tái tâm để hưởng hạnh phúc an lạc) và hạ dần từ tầng thiền Định thứ tám đến Nhất thiền. Rồi từ Nhất thiền Ngài nhập định lên dần đến Tứ thiền. Đến đây, Ngài nhập Đại Niết Bàn[29].

Trong quyển Buddhavaṁsapāḷi, Đức Phật kể tóm lược những kiếp quá khứ của Ngài bắt đầu từ lúc là đạo sĩ Sumedha cho đến kiếp cuối cùng thành Phật Thích Ca.

TRÍCH LƯỢC MỘT SỐ BÀI KINH

 “…Này các tỳ khưu, ở đây thửa ruộng không lồi lên lõm xuống, không có đầy đá và sạn, không có đất mặn, thửa ruộng có bề sâu, có chỗ nước chảy ra, có chỗ nước chảy vào, có nước chảy, có bờ đê. Này các tỳ khưu, hạt giống được gieo vào thửa ruộng hội đủ tám yếu tố này được xem là trổ quả lớn lao, có vị ngọt ngào, là nơi tăng thịnh.

Tương tự như thế, này các tỳ khưu, cúng dường đến bậc xuất gia, bà la môn thành tựu tám yếu tố sẽ đem đến kết quả lớn, lợi ích lớn, thành tựu rạng rỡ, lớn lao.

Thế nào là thành tựu tám yếu tố? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hay bà la môn có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Cúng dường các tỳ khưu hay bà la môn thành tựu tám yếu tố trên sẽ đem đến kết quả lớn, lợi ích lớn, thành tựu rạng rỡ, lớn lao”.[30]

(Kinh Thửa Ruộng- Aṅguttara Nikāya VIII.34)

“Bao kẻ vì run sợ,

tìm kiếm sự chở che,

nương tựa nơi đồi núi,

rừng rú hay cây thiêng,

hoặc đền tháp, lâu đài.

(Những nơi này)

chẳng phải chốn nương tựa,

an toàn hay cao thượng,

vì (người ấy) chẳng thoát khổ đau.

 

Nhưng quay về nương tựa,

Phật – Pháp – Tăng, Tam Bảo,

có trí tuệ hoàn hảo,

hiểu rõ Tứ Thánh Đế,

chính là nơi nương tựa,

an toàn và cao thượng,

thoát khỏi mọi khổ đau”.

(Kinh Pháp Cú 188-192)

“Chỉ thân cận bậc trí,

Chỉ kết bạn bậc trí,

Cầu giáo pháp bậc trí,

Ta  trở nên tốt hơn,

Chẳng thể nào tệ hơn.

   

Chỉ  thân cận bậc trí,

Chỉ kết bạn bậc trí,

Cầu giáo pháp bậc trí,

Trí tuệ này phát sinh.

                   

Chỉ thân cận bậc trí,

Chỉ kết bạn bậc trí,

Cầu giáo pháp bậc trí,

Ta sẽ không than khóc,

Giữa những người khóc than.

   

Chỉ thân cận bậc trí,

Chỉ kết bạn bậc trí,

Cầu giáo pháp bậc trí,

(Người ấy khác biệt) nổi bật giữa thân thích.

 

Chỉ thân cận bậc trí,

Chỉ kết bạn bậc trí,

Cầu giáo pháp bậc trí,

(Người ấy) trên đường đến cõi phúc.

 

Chỉ thân cận bậc trí,

Chỉ kết bạn bậc trí,

Cầu giáo pháp bậc trí,

(Người ấy) sống tự tại yên lành.

 

Chỉ thân cận bậc trí,

Chỉ kết bạn bậc trí,

Cầu giáo pháp bậc trí,

(Người ấy) vượt lên mọi khổ đau”.

(Với Các Chư Thiên, Saṃyutta Nikāya 1.31)

“Bhikkhave, aññenāpi mayi sineha vantena Bhikkhunā nāma, Dhammārāmasadiseneva bhavi-tabbaṃ. Na hi mayhaṃ mālāgandhādīhi pūjaṃ karontā mama pūjaṃ karonti nāma, dhammānudhammaṃ paṭipajjantāyeva pana maṃ pūjenti nāma”.

“Này chư tỳ khưu, tỳ khưu nào có lòng kính yêu nơi Như Lai, thì tỳ khưu ấy nên noi gương theo Dhammārāma. Những người làm lễ cúng dường đến Như Lai bằng vật thơm, tràng hoa… không phải là cúng dường đến Như Lai. Các Đệ tử đang hành thiền Minh Sát dẫn đến chứng đắc chín pháp Siêu thế[31] mới thật là cúng dường đến Như Lai”.

(Dhammapadaṭṭhakathā, tích Ngài Dhammārāmatthera)

Mỗi Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện trên thế gian, có khả năng tế độ một số lượng khoảng 24 a tăng kỳ 600 triệu và 100 ngàn chúng sinh được giải thoát khỏi biển khổ tử sinh luân hồi trong tam giới.

Đức Phật Gotama có tuổi thọ 80 năm, thuyết pháp tế độ chúng sinh suốt 45 năm, chưa tế độ đủ số lượng 24 a tăng kỳ 600 triệu và 100 ngàn chúng sinh. Do đó, khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, giáo pháp được lưu truyền đến 5.000 năm trên cõi người để tiếp tục tế độ chúng sinh cho đủ số lượng ấy.

Sau đó, những ai hành thiền Minh Sát không có khả năng đắc đạo trở thành Thánh nhân nữa, mà chỉ có thể vun bồi ba la mật để chứng đắc trong kiếp vị lai. Phật tử chúng ta đang ở vào thời kỳ 1.000 năm thứ ba. Trong thời kỳ này, chúng ta nên có niềm tin nơi giáo pháp của Đức Phật Thích Ca, nơi pháp hành Minh Sát (con đường Trung đạo) và cố gắng hành theo. Có như thế, chúng ta mới có thể giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.

  • o0o   –

[1] Tám yếu tố để được thành Bồ Tát: kiếp đó phải là: (1) người, (2) nam giới, (3) có đầy đủ khả năng trở thành A La Hán, (4) gặp Đức Phật hiện tiền, (5) là đạo sĩ có đức tin nơi nghiệp quả, (6) đắc các tầng thiền (sắc giới hay vô sắc giới) và có thần thông, (7) hy sinh vị tha không kể mạng sống của mình, (8) muốn trở thành Phật.

[2] The Great Chronicles of the Buddhas, page 14 (vol I, Singapore edition).

[3] 10 pāramī (ba la mật): Dāna (bố thí, ban cho), Sīla (giới hạnh), Nekkhama (từ khước, xuất gia), Paññā (trí tuệ), Viriya (tinh tấn, kiên trì bền chí), Khanti (kham nhẫn), Sacca (chân thật), Adhiṭṭhāna (quyết tâm dũng mãnh), Mettā (tâm từ) và Upekkhā (tâm xả).

[4] Cāga (Mahāpariccāga): đại bố thí, buông xả, hay ban bố năm loại: tài sản, vợ, con, các bộ phận cơ thể và mạng sống của chính mình. Cariya là phát triển giới hạnh vì lợi lạc của tất cả chúng sinh (lokattha cariya), của chính mình và quyến thuộc (natattha cariya) và để thành tựu quả vị Phật (Buddhattha cariya).

[5] Một thế giới gồm có 31 cảnh giới, với ngọn Meru ở giữa và bốn châu lục Đông, Tây, Nam, Bắc ở bốn bên. Và theo Phật giáo, có đến 10,000 thế giới như thế hiện hữu.

[6] Tuệ này được hiểu hai cách: 1. Nhóm năm loại tuệ hiểu biết liên quan đến các cảnh giới, gồm: nơi tái sinh, việc gì xảy ra, sự sinh khởi, sự kéo dài và sự chấm dứt của của tâm. 2. Nhóm gồm năm loại tuệ: a) tuệ biết 30 cảnh giới nơi chúng sinh có sắc (rūpa) và một cảnh giới nơi chúng sinh chỉ có tâm, b) tuệ biết sự sinh khởi của tâm-vật chất, c) tuệ biết bản chất vô thường, khổ và vô ngã của tâm-vật chất, d) tuệ biết bản chất liên tục thay đổi của tâm-vật chất và e) tuệ biết sự tận diệt của tâm-vật chất (Niết Bàn).

[7] Hiểu biết căn cơ cao thấp có nghĩa là hiểu biết năm căn, Tín-Tấn-Niệm-Định-Tuệ, của chúng sinh này đã trưởng thành, chín muồi và có khả năng đắc đạo quả hay chưa. Qua đó, Ngài biết cách giảng pháp thích hợp và đúng thời giúp cho năm căn này lớn mạnh để đắc đạo (theo The Discourse on the Hemavata Sutta, by Mahasi Sayadaw).

[8] Vào lúc sắp thành Phật, Bồ Tát ngồi thiền và có được thiên nhãn thông thấy hình tướng của chúng sinh ở các thế giới xa gần và thấy cảnh giới mà chúng sinh sẽ tái sinh sau khi chết. Khi thành Phật, với thiên nhãn thông của vị Phật Toàn Giác, Ngài thấy rõ 31 cảnh giới. (theo The Discourse on the Hemavata Sutta, by Mahasi Sayadaw).

[9] Ālaya = taṇhā (tham ái). Và đây là tham ái vào năm dục trần: cảnh sắc, âm thanh, mùi, vị nếm và xúc chạm qua thân.

[10] Anālaya, đối nghịch với ālaya.

[11] Odahati aññā (có trí tuệ) cittaṃ upaṭṭhapeti (hướng tâm tới).  Aññā: là trí tuệ do kinh nghiệm đạo quả A La Hán.

[12] Anupasama (anu-không + upasama-yên tĩnh, thanh tịnh) có nghĩa là vọng tưởng (uddhacca).

[13] Satipaṭṭhāna Sutta (Majhima Nikāya 10), Susīma Sutta (Saṁyutta Nikāya 12), Sīla Sutta (Saṁyutta Nikāya 46), Dvephalā Sutta (Saṁyutta Nikāya 48), Phalā Sutta (Saṁyutta Nikāya 51), Phalā Sutta (Saṁyutta Nikāya 54)…

[14] Đây là loài cây có thân to chắc, ở gần Āḷavī Setavyā và Kosambi thời Đức Phật. Theo tự điển Pāḷi-Anh của Rhys Davids, ở Ấn Độ ngày nay, tên loài cây này là “shisham” hay “Dalbergia sisoo”.

[15] Theo Chú Giải, đây là thời điểm vùng này có tuyết trong năm. Tám ngày có tuyết rơi này ở vào khoảng giữa tháng hai dương lịch.

[16] “Kharā gokaṇṭaka hatā bhūmi”: nền đất gia súc dẫm lên thật là thô cứng. (khara: thô, cứng)

[17] “Nirūpadhi”: người mà nghiệp lực tái sinh đã cạn, tức là vị A La Hán

[18] Đại đức Abhibhū là một trong hai vị trưởng đại đệ tử của Đức Phật Sikhī, cũng như Đại đức Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai vị trưởng đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca vậy.

[19] “Sāvako so Ānanda appameyyā tathāgatā”. Theo Chú Giải, Đức Phật nói rằng: ‘Ānanda, sao ông lại nói vậy? Vị này chỉ là đệ tử, có được một phần trí tuệ. Nhưng chư Phật Chánh Đẳng Chánh Giác Tathāgata đã hoàn hảo 10 ba la mật và có trí tuệ siêu thế, nên khả năng của các vị là không thể nghĩ bàn. Phạm vi, mức độ và năng lực của một đệ tử và của một vị Phật khác nhau xa một trời một vực, như đem một chút bụi đất dính trên móng tay so với đất trên trái đất này vậy”.

[20] Jambudīpa là vùng đất ở hướng Nam, bao gồm Ấn Độ.

[21] Sư Udāyi là vị sư phạm nhiều sai lầm khiến Đức Phật đặt ra vô số giới luật cho tỳ khưu. Theo Chú Giải, vị này đã từng lên tiếng chống đối Đại đức Ānanda làm thị giả cho Đức Phật. Vào lúc này, vị sư đó đang tìm cớ chê bai Đại đức Ānanda, vì Đại đức Ānanda chưa thành A La Hán.

[22] Đạo quả A La Hán

[23] Theo Chú Giải, Kāsi là một trong 16 tiểu bang ở Ấn Độ, có thủ đô là Bārānasi.

[24] Phía bắc Ấn Độ có ba mùa: mùa đông kéo dài từ tháng mười một đến tháng ba, mùa hạ kéo dài từ tháng ba đến tháng bảy, và mùa mưa kéo dài từ tháng bảy đến tháng mười một. Cung điện mùa đông có chín tầng, được xây thấp để giữ nhiệt. Cung điện mùa hạ có năm tầng, được xây cao để thoáng gió. Và cung điện mùa mưa có bảy tầng không thấp cũng không cao để tạo nhiệt độ quân bình.

[25] Chẳng có một người đàn ông nào phục vụ trong cung điện này và chẳng có người nam nào được gặp hoàng tử trong suốt thời gian này.

[26] Hạnh phúc thế gian tức “ngũ dục” gồm cảnh sắc đẹp, âm thanh hay, mùi thơm, vị ngon và sự xúc chạm đem đến cảm giác thích thú.

[27] Theo Chú Giải, câu này có nghĩa là từ lúc thiền dưới cội Bồ Đề và đắc đạo cho đến khi lìa đời, Ngài chẳng hề quay lại thế gian.

[28] Đây là Thánh địa nơi các vị Bồ Tát trước kia đã ngồi thiền và đắc đạo, giờ đây đến lượt Bồ Tát Gotama. Vì lý do này, Ma Vương tìm cách quấy phá Bồ Tát. Sau khi Bồ Tát Gotama thành Phật, Bồ Tát Metteyya cũng sẽ đến đây ngồi thiền và đắc đạo thành vị Phật cuối cùng trong cõi này.

[29] Tất cả các vị Phật Bích Chi/Độc Giác Pacceka Buddha đều có thần thông. Các vị Phật Bích Chi/Độc Giác sẽ đến một cái động trong số những động đá Nandamūla ở Ấn Độ để nhập Đại Niết Bàn. Tại đó, vị Phật Bích Chi/Độc Giác này sẽ dịch chuyển thể xác của vị Phật Bích Chi đã nhập diệt trước đó để ngồi đúng nơi đó và nhập Đại Niết Bàn.  Và chỉ khi giáo pháp của chư Phật không còn tồn tại trên thế gian thì các vị Phật Bích Chi mới ra đời.

[30] Evaṃ aṭṭhaṅgasamannāgatesu, bhikkhave, samaṇabrāhmaṇesu dānaṃ dinnaṃ mahapphalaṃ hoti mahānisaṃsaṃ mahājutikaṃ mahāvipphāra’’nti

[31] Bốn Thánh Đạo, bốn Thánh quả và Niết Bàn

Share this:

  • X
  • Facebook
Like Loading...

Related

Từ khóa » đắc Chánh Giác