Chuyên đề Tuần 1: Viêm Ruột Thừa

Viêm ruột thừa

Viêm ruột thừa là một tình trạng viêm cấp tính mà điển hình bệnh nhân sẽ thấy đau bụng,ăn không ngon và vùng bụng bị đau khi ấn.Chẩn đoán chủ yếu là dựa vào lâm sàng,thường được hỗ trợ bởi siêu âm hay CT.Phương pháp điều trị là phẫu thuật cắt bỏ.

Tại Mỹ,viêm ruột thừa là nguyên nhân thường gặp nhất của cơn đau bụng cấp cần phải phẫu thuật.Có khoảng trên 5% dân số mắc phải bệnh này ở những thời điểm khác nhau trong cuộc đời.Tuy nhiên, thường sẽ xảy ra ở tuổi vị thành niên và thanh niên (dưới 30) nhưng vẫn có khả năng ở những độ tuổi khác.

Những yếu tố khác ảnh hưởng đến ruột thừa bao gồm:u carcinoid,ung thư,adenoma nhung mao,túi thừa.Các bệnh Crohn hay viêm loét ruột già với tình trạng viêm toàn bộ đại tràng cũng ảnh hưởng ruột thừa.

Nguyên nhân

Người ta nghĩ viêm ruột thừa là do sự tắc nghẽn lòng ruột thừa,thông thường gây ra do sự tăng sinh mô lympho nhưng thỉnh thoảng cũng do sỏi phân,dị vật hay hay giun sán.Sự tắc nghẽn sẽ dẫn đến tình trạng ruột thừa bị dãn ra,thiếu máu,vi khuẩn phát triển và cuối cùng là viêm.Nếu không điều trị nó sẽ bị hoại tử và thủng. Khi lỗ thủng được được bao bởi mạc nối,sẽ hình thành áp xe ruột thưa

Triệu chứng và dấu hiệu

Những triệu chứng kinh điển của cơn viêm ruột thừa cấp bao gồm đau ở thượng vị và quanh rốn.Sau đó là buồn nôn,nôn và ăn không ngon miệng;một vài giờ sau cơn đau lan xuống ¼ dưới phải ở bụng.Đau tăng lên khi ho và di chuyển.Phổ biến cũng có sốt nhẹ (nhiệt độ đo tại trực tràng là 37.7 đến 38.3 độ C)

Dấu hiệu điển hình là phản ứng dội tại ¼ dưới phải,khu trú tại điểm McBurney ( điểm giữa 1/3 ngoài của đường nối rốn và gai chậu trước trên).Những dấu hiệu khác đó là đau ở ¼ dưới phải khi sờ ở ¼ dưới trái (dấu Rovsing), đau tăng lên khi duỗi thụ động khớp hông phải làm căng cơ thắt lưng chậu (dấu cơ psoas) hoặc đau khi xoay trong thụ động khớp hông khi đùi gấp (dấu cơ bịt).

Dấu cơ psoas.Đau khi duỗi thụ động đùi phải.Bệnh nhân  nằm nghiêng bên trái.Bác sĩ duỗi đùi phải bệnh nhân

trong khi vẫn ấn giữ hông phải lại (dấu hoa thị)

Cơ sở giải phẫu của dấu cơ psoas:ruột thừa viêm ở sau manh tràng tiếp xúc với

cơ thắt lưng chậu-sẽ được kéo căng bởi thủ thuật nảy

Dấu cơ bịt:Đau khi xoay trong thụ động lúc đùi đang gấp.Bác sĩ sẽ

di chuyển cẳng chân bệnh nhân ra ngoài trong khi vẫn giữ mặt ngoàđầu gối lại (dấu hoa thị) dẫn đến xoay trong xương đùi.

                                                                                                                                               

Cơ sở giải phẫu của dấu cơ bịt:ruột thừa viêm ở khung chậu sẽ tiếp xúc cơ bịt trong-sẽ bị căng ra bởi thủ thuật này

Tuy nhiên những dấu này chỉ xuất hiện ở dưới 50% các bệnh nhân.Thường là nhiều sự biến đổi  về triệu chứng và dấu hiệu.Cơn đau có thể không khu trù,đặc biệt là ở trẻ sơ sinh và trẻ em.Cảm giác đau khi ấn có thể lan tỏa hoặc hiếm hơn là mất đi.Nhu động ruột thường là giảm về tần số hoặc mất hẳn,nếu có tiêu chảy,nên nghi ngờ ruột thừa nằm sau manh tràng.Hồng cầu,bạch cầu có thể hiện diện trong nước tiểu.Những triệu chứng bất thường thường gặp ở bệnh nhân trẻ hay sản phụ,đặc biệt cơn đau sẽ ít nghiêm trọng và cảm giác đau khi ấn khu trú sẽ kém rõ ràng.

Chẩn đoán

Đánh giá lâm sàng

Chụp CT bụng nếu cần

Siêu âm là một lựa chọn sau CT

Khi mà triệu chứng và dấu hiệu điển hình đã có,chẩn đoán là dựa vào lâm sàng.Ở những bệnh nhân này,trì hoãn cuộc mổ để thực hiện chẩn đoán hình ảnh chỉ làm tăng khả năng gây thủng và những biến chứng sau đó.Ở những bệnh nhân mà dấu hiệu không bình thường hay chưa rõ ràng,chẩn đoán hình ảnh  nên thực hiện mà không trì hoãn.Chụp CT có cản quang tăng cường là sự lựa chọn hợp lí trong chẩn đoán viêm ruột thừa và có thể còn cho thấy nhiều nguyên nhân khác của cơn bụng cấp.

Siêu âm có ép theo lớp có thể sử dụng thường xuyên mà không có phóng xạ (mối lo ngại đặc biệt với trẻ em) và rất nhanh chóng;tuy nhiên thỉnh thoảng nó bị giới hạn bởi hơi trong ruột và ít có lợi khi tìm các nguyên nhân của cơn đau không phải do ruột thừa.

Viêm ruột thừa về cơ bản chẩn đoán dựa vào lâm sàng.Các chẩn đoán hình ảnh có lựa chọn và khôn ngoan có thể giảm tỉ lệ dương tính giả có thể mổ bụng.Nội soi có thể sử dụng trong chẩn đoán cũng như điều trị;nó có thể đặc biệt hữu ích với phụ nữ đau bụng không rõ nguyên nhân.Xét nghiệm thông thường cho thấy có sự tăng bạch cầu ( từ 12000 đến 15000),nhưng dấu hiệu này có sự khác biệt rất cao,với số lượng bạch cầu bình thường không nên sử dụng để loại trừ viêm ruột thừa.

Tiên lượng:

Nếu không phẫu thuật hay điều trị kháng sinh,tỉ lệ tử vong là trên 50%

Nếu phẫu thuật sớm,tử vong là dưới 1%,và thời gian hồi phục bình thường là nhanh và hoàn toàn.Nếu có biến chứng (vỡ hoặc áp xe hay viêm phúc mạc),tiên lượng sẽ xấu hơn:phẫu thuật lại và và thời gian hồi phục sẽ dài hơn.

Điều trị

-Phẫu thuật cắt bỏ

-Truyền dịch qua tĩnh mạch và kháng sinh

Điều trị viêm ruột thừa cấp có thể mổ bụng hở hoặc cắt qua nội soi;bởi vì trì hoãn điều trị sẽ làm tăng tỉ lệ tử vong nên tỉ lệ mổ trắng là 15% có thể chấp nhận.Phẫu thuật viên luôn luôn cắt ruột thừa khi n1o đã thủng.Đôi khi,ruột thừa khó được định vị.Trong trường hợp này,nó thường nằm sau manh tràng,hồi tràng và mạc dính của kết tràng phải.Một chống chỉ định của cắt ruột thừa đó là khi có bệnh viêm ruột liên quan manh tràng.Tuy nhiên trong trường hợp viêm phần cuối hồi tràng mà manh tràng bình thường thì nên cắt bỏ ruột thừa.

Sau cắt ruột thừa nên sử dụng kháng sinh qua đường tĩnh mạch.Thường sử dụng đó là kháng sinh nhóm cephalosporins thế hệ ba..Nếu ruột thừa không thủng,điều trị kháng sinh kéo dài là không cần thiết.Nếu ruột thừa bị thủng,kháng sinh nên được sử dụng cho đến khi thân nhiệt và số lượng bạch cầu bệnh nhân trở về bình thường hoặc là tiếp tục liệu trình như trước,phụ thuộc sự ưu tiên của phẫu thuật viên.Nếu không thể phẫu thuật,kháng sinh dù không điếu trị hết cũng làm tăng tỉ lệ sống cho bệnh nhân.Khi một khối viêm lớn được tìm thấy có liên quan đến ruột thừa,đoạn cuối hồi tràng,và manh tràng,nên cắt bỏ toàn bộ và nối hồi-kết tràng.Trong những trường hợp muộn khi đã có một khối áp xe quanh kết tràng,nên dẫn lưu dịch qua da dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc là phẫu thuật hở (cùng với cắt bỏ ruột thừa vài ngày sau).Túi thừa Meckel ở bệnh nhân dưới 40 nên được cắt bỏ đồng thời với ruột thừa nếu không có viêm xung quanh ruột thừa làm cản trở.

Nguồn:http://www.merckmanuals.com/professional/gastrointestinal_disorders/acute_abdomen_and_surgical_gastroenterology/appendicitis.html

Hình ảnh:http://www.aafp.org/afp/1999/1101/p2027.html

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
Thích Đang tải...

Có liên quan

Từ khóa » Khám Cơ Psoas