CHUYÊN ĐỀ TUẦN 7 : CT Trong Ung Thư Biểu Mô Dạ Day.

 CT TRONG UNG THƯ BIỂU MÔ DẠ DÀY

CT được sử dụng chủ yếu ngoài phẫu thuật để xác định giai đoạn và sự di căn của ung thư biểu mô dạ dày. Thông tin này rất quan trọng để quyết định giữa phẫu thuật làm giảm nhẹ và phẫu thuật triệt để bệnh (tức là, xác định bệnh nhân sẽ không có lợi nếu phẫu thuật triệt để ). Ngoài ra, CT được sử dụng để theo dõi phản ứng của bệnh nhân trong quá trình điều trị .

Việc phát hiện ung thư dạ dày được cải tiến bằng cách sử dụng dãy lát cắtmỏng và xoắn ốc hoặc nhiều bộ phận tách sóng CT . Khi chuẩn trực mỏng được sử dụng, có thể cho hình ảnh của dạ dày gần như đẳng hướng , cho phép cải tiến nhiều mặt phẳng chất lượng cao và tái lập hình ảnh dạ dày 3 chiều.Thuốc cản quang tĩnh mạch được sử dụng, cùng với nước hoặc chất khí như là một tác nhân âm tính trong lòng ống tiêu hóa  (kết quả được nhìn thấy trong hình dưới đây). Tầm nhìn được cải thiện giúp nhìn thấy được khối u ở tâm vị và ngoại biên dạ dày.

image

Dạ dày phình to khi sử dụng nước như một tác nhân âm tính trong ống tiêu hóa . Kết quả của sự kiểm tra này là bình thường.

CT xoắn ốc cho phép đốI vớI kỹ thuật hai pha .Pha động mạch sớm được sử dụng để đánh giá sự dày lên của thành dạ dày,sau đó pha tĩnh mạch cửa được sử dụng để đánh giá sự di căn đến nhu mô gan .

Chụp CT có thể hiển thị như sau:

· Khối Polyp có hoặc không có loét.

· Thành trung tâm dày lên với niêm mạc không đều hoặc bị loét

· Thành dạ dày dày lên và mất các nếp niêm mạc bình thường (tổn thương thâm nhập)

· Thâm nhập vào trung tâm thành dạ dày (xem hình dưới đây)

image

Ung thư biểu mô ở bờ cong nhỏ. Lưu ý sự dày lên ở trung tâm của thành vì các mảng của khối u.

· Sự dầy lên của thành dạ dày và dấu tương phản  tiến triển ( điển hình cho các tổn thương u cứng )

· Ung thư tuyến nhầy, có độc lực thấp do có lượng chất nhầy dồi dào và có thể bao gồm cả sự vôi hoá.

Giai đoạn T

Sự di căn sâu của khối u không được đánh giá chính xác với CT.

Sự di căn khối u ở lớp mỡ quanh dạ dày được xem như là sợi mô mềm. Các nốt nhỏ từ 4 đến 8 mm có thể quan sát được. Chúng có thể kết tụ vào những tấm của khối u trong các trường hợp khó.

Sự lan rộng trực tiếp của khối u tương đối phổ biến. Tụy bị xâm lấn thông qua túi ít hơn ; đại tràng ngang,thông qua dây chằng dạ dày – ruột ; và gan,thông qua dây chằng dạ dày – gan.

Di căn theo chiều dọc đến thực quản ở xa xảy ra ở 60% bệnh nhân ung thư biểu mô tâm vị (xem hình bên dưới ). Tuy nhiên, trường hợp di căn xuống tá tràng có liên quan chỉ 5-20% ung thư hang vị.

image

Ung thư biểu mô tâm vị. Lưu ý ung thư biểu mô di căn đến gan của tâm vị. Lưu ý sự di căn gan.

image

Sự mở rộng của khối u đến thực quản xa.

Nhìn chung,sự chính xác trong xác định giai đoạn T nhờ CT là khoảng 66%.

Giai đoạn N

Di căn đến hạch bạch huyết xảy ra ở khoảng 80% bệnh nhân ung thư dạ dày (xem hình bên dưới ). Tần số có liên quan đến kích thước và độ sâu của khối u ;các hạch khu trú quanh dạ dày được nêu ra trước tiên, sau đó là các hạch vùng ( bụng, gan, dạ dày , tủy lách ) và hạch xa (trên xương đòn trái và nách ) .

image

Ung thư biểu mô ở thân dạ dày liên quan đến các bệnh lý hạch bạch huyết vùng và cổ trướng.

image

Mở rộng các hạch bạch huyết ở rãnh ngang gan, cổ trướng, và có dính mạc nối .

CT mô tả 75% hạch có đường kính lớn hơn 5 mm, nhưng nó không mô tả khối u trong hạch có kích thước bình thường. CT không có ích trong việc phân biệt hạch lan rộng do những thay đổi của phản ứng hay do khối u.

Hạch khu trú ( N1 ) nằm ở vùng trước môn vị , dây chằng dạ dày – gan và dây chằng dạ dày -kết tràng. Hạch này lấy ra bằng phương thức cắt dạ dày tiêu chuẩn. Hạch thuộc vùng ( N2 ), nằm ở rãnh ngang của gan, dây chằng gan – tá tràng, và vùng quanh tuyến tụy, không được loạI bỏ bằng phương thức cắt dạ dày ; do đó, các phát hiện này quan trọng hơn.

Giai đoạn M:

Vì tĩnh mạch cửa dẫn lưu cho dạ dày,nên gan là nơi phổ biến nhất đốI với sự di căn theo đường máu(xem hình đầu tiên bên dưới ). Những nơi ít phổ biến thường là phổi ( xem hình thứ hai bên dưới ), tuyến thượng thận, và thận. Di căn lên não và xương là hiếm.

image

Các hạch ở trục của bụng cỡ 8-12 mm và có nguồn gốc từ ung thư biểu mô tâm vị. Lưu ý di căn đến gan không đều và nang tròn liền kề.

image

Sự di căn lên phổi và tràn dịch màng phổi trái từ ung thư biểu mô dạ dày.

Sự di căn đến màng bụng và mạc nối thì phổ biến ở ung thư dạ dày ác tính. Chúng bao gồm các nốt, tụ dịch khu trú, sự dày lên không đều và hóa sợi của màng treo ruột và mạc nối. Cổ trướng và tắc ruột có thể xảy ra.

Ung thư biểu mô dạ dày là khối u chính phổ biến nhất để di căn đến buồng trứng. Di căn buồng trứng này thường hai bên và được gọi là u Krukenberg.

Mức độ tin cậy:

Đối với tỷ lệ chính xác trong việc quét CT (đối với những người trong EUS), cần xem siêu âm.

CT có một số khó khăn. Một khối giả như là kết quả của đường tiếp giáp bình thường giữa dạ dày thực quản có thể được nhìn thấy,dưới sự căng phồng của dạ dày có thể mô phỏng là thành dày, các tổn thương T2 và T3 có lẽ khó khăn để phân biệt.

Ngoài ra,sự biến mất lớp mỡ giữa thành dạ dày và thùy trái của gan có thể được nhìn thấy. Lớp mỡ giữa khối u và tuyến tụy bị mất có thể do một phản ứng viêm. Ở những bệnh nhân bị suy nhược, việc mất lớp mỡ có thể cho thấy sự di căn trực tiếp đến cơ quan.

Những hạch nhỏ có thể chứa khối u, và những hạch lớn có thể do những nguyên nhân gây viêm. Các hạch quanh dạ dày có thể không quan sát được nếu dạ dày không được căng.

CT có lẽ thất bại khi mô tả mạc nối nhỏ và các chất lắng đọng ở màng bụng ; chất lắng đọng trong xương chậu nhỏ có thể không được nhận thấy.

http://emedicine.medscape.com/article/375384-overview#a20

Chia sẻ:

  • X
  • Facebook
Thích Đang tải...

Có liên quan

Từ khóa » Ct Ung Thư Dạ Dày