 | 30 tháng 4, 2009 | Phàm đã có sanh, ắt có tử. Riêng chuyện cách gọi việc sinh tử trong Tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Các từ ngữ dùng trong việc sinh tử đều phải tuân theo qui luật có tính “giai cấp xã hội” bất thành văn, và thậm chí một số cách gọi không đạt chuẩn mực chính thống của văn viết nên không có trong tự điển, nhưng chúng được sử dụng tương đối phổ biến trong văn nói, và đôi khi vẫn xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng.. Trước hết là nói về cách gọi có liên quan đến việc “sinh đẻ” của người bình dân. Nói nôm na theo lối dân dã thì là “nằm ổ ”! Không biết dân gian họ ví von người sản phụ như là “gà” hay vì theo tập quán xưa, người phụ nữ ở vùng nông thôn nghèo khó khi sanh nở thường được cách ly ở một nơi riêng biệt, kín đáo được lót rơm rạ như một cái ổ để giữ ấm, nhất là vào mùa đông như ở miền Bắc. Còn bình dân hơn nữa thì họ gọi là “tòn” như “tòn” ra một thằng cu, cái hĩm v.v.. hoặc gọi một cách hóm hỉnh theo cách gọi của người miền Nam là “bể bầu”! Bậc trung lưu thì gọi là sinh, sanh hay đẻ, ra đời hay chào đời tùy theo phương ngữ. Bậc quyền quí, vua chúa thì được trân trọng gọi là “lâm bồn”, “ hạ sanh”, hay nói văn vẻ một chút là “khai hoa, nở nhụy”. Bậc giác ngộ, như chư Phật chẳng hạn, có nhiều thân: pháp thân, báo thân, hóa thân và nhục thân. Nay chỉ nói về nhục thân, là cái thân xác mà Đức Phật được sinh ra. Sự ra đời của đức Phật thì được gọi là “đản sanh”, có nghĩa là sự sinh ra đem lại niềm vui mừng cho trời, người. Mọi trường hợp sanh nở được đề cập trên đây đều là sự sanh nở theo qui luật tự nhiên, từ tinh cha huyết mẹ mà tượng thành hình hài. Riêng Chúa Giê-su thì khác. Theo Tân ước, bà Maria có thai do quyền năng siêu nhiên của Chúa thánh linh và sinh ra Chúa Giê-su, và cái sự sinh ra này được gọi là “giáng sinh”, có nghĩa là từ trên trời giáng xuống nên bà Maria sau khi sinh con mà vẫn còn “đồng trinh” trọn đời. Một mơ ước ngàn đời của các cô gái thường hay nhẹ dạ.. Quí vị nào thích bộ môn sinh học nên quên những lý thuyết như “sắc tố hay nhiễm sắc thể X , Y.. ” gì gì đó đi, ở đây ta không bàn về chuyện khoa học, hỏi mấy ông linh mục hay con chiên thì thường được nghe trả lời rằng: “ Thiên chúa mầu nhiệm vô cùng, con người không thể và không tài nào hiểu được đâu. Cứ như thế nhé!”. Bây giờ ta nói chuyện chết, Tuy chết là hết chuyện nhưng cái chuyện chết chóc này phức tạp nhiều hơn cái chuyện sinh nở kia. Và cách gọi cái chết và những gì liên quan đến cái chết cũng phải tuân theo qui luật giai cấp cũng như sinh nở vậy. Quan niệm sống chết của người Việt hàm ẩn một triết lý vì cho rằng sống chỉ mới là “gởi” thân phận nhất thời trên dương gian, “thác” mới chính là về nơi vĩnh cửu vì vậy, cái chết không phải là điều gì đáng sợ nhất nên người Việt thường đặt tên cho cái chết bằng những từ ngữ rất bông lơn, hài hước, và cũng là để làm giảm cái hình ảnh u buồn, thê lương, sự sợ hãi của cái chết mang lại. Cái chết cao cả nhất của một công dân là vì nước “vong thân”, cái chết này còn được gọi là “hi sinh” cho tổ quốc. Binh sĩ chết trong trận mạc thì được gọi là “tử trận”. Gọi trần trụi theo kiểu lính tráng là: một “xanh cỏ”, hai “đỏ ngực” (xanh cỏ: chết, cỏ xanh mọc trên mồ; đỏ ngực: được gắn huy chương lên ngực). Ngày xưa, các quan, tướng phải “tự sát” để bảo vệ danh dự, khí tiết khi để thành trì thất thủ, hay không chịu đầu hàng giặc thì gọi là “tuẫn tiết”, khác với kẻ chán đời, chán sống hay trốn tránh trách nhiệm, tự tìm lấy cái chết thì gọi là “tự tử”. Người bị ép buộc phải chết gọi là bị “bức tử”. Nói theo cách bình thường là “chết”, “mất”, “ra đi vĩnh viễn” hay “qua đời”. Nói có điển tích, văn chương thì là “xuống suối vàng”, “qui tiên”, “khuất bóng”, “khuất núi”, “bước xuống tuyền đài”, “quá vãng”, “quá cố”; “trở về với cát bụi”, “giã từ trần gian”, “về chốn vĩnh hắng”, “an giấc ngàn thu” hay trích một câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương: “Đời tàn trong ngõ hẹp”. Chết vì đạo được gọi là “tử đạo”, gặp tai nạn mà chết thì gọi là “tử nạn”, phạm tội bị xử án chết là “tử hình”, “xử tử”, cái chết mà do nhầm lẫn hay không đáng bị chết mà chết là “chết oan”, chết khi chưa đến lúc phải chết là “chết yểu”, chết vì thiên tai, nhân tai thì kể không xiết, nguyên nhân gây ra cái chết làm sao thì cứ đem cái nguyên nhân ấy cọng vào cái chết là xong chuyện ví dụ như: chết cháy, chết chém, chết đâm, chết bỏng, chết treo, chết trôi, chết chìm, chết bịnh, chết già v.v.. nhưng khi “thần chết” đột xuất đến viếng thì gọi là “đột tử” hay “chết bất đắc kỳ tử”. Người Việt bình dân mình còn dùng nhiều từ ngữ rất là tiếu lâm, phi chính thống để nói về cái chết như đi “mò tôm” chẳng hạn. Tôi tình thực không hiểu tại sao lại gọi là đi “mò tôm”, có lẽ ngụ ý nói rằng bị “chết đuối” như kiểu “chầu hà bá” chăng?, rồi còn gọi là “đi đời nhà ma”! Nhưng đến mức này thì đành chịu khi dến thăm một người bạn ở Long Xuyên, nhân tiện hỏi thăm một người bạn khác thì nghe trả lời : “chả đi “bán muối” rồi, tối ngày nhậu quá mạng, sống sao nổi!”, có nghĩa là đã chết ! rồi thì nào là mặc “sơ mi gỗ”, “đứt bóng”, “leo lên bàn thờ”, “ăn đồ cúng”, “hết phim”, “tiêu tán thòn”, “tiêu đời”, “toi mạng”, “chầu ông bà, ông vãi”, “chầu diêm vương”, “ngỏm”, “ngủm củ tỏi”, “bốc hơi”, “chết ngắt “, bị xử bắn là “dựa cột”. Nói có pha tiếng nước ngoài là “ dzô hụi nhị tỳ” hay “đai”. Nhà có người quá cố thì thường viết bảng cáo phó treo tại nơi tổ chức lễ tang, hoặc thông báo rộng rãi cho bà con, thân bằng quyến thuộc bằng cách đăng cáo phó trên báo chí, lên truyền hình v.v.. Cáo phó thường được víêt bằng những cụm từ trang trọng như: “hưởng thọ”, “từ trần”, “trút hơi thở cuối cùng” hay “lâm chung” v.v.. Riêng các nhà tu hành bên Phật giáo thì thường sử dụng các từ ngữ như “chuyển nghiệp”, “về miền cực lạc”, “trụ thế”, “giải nghiệp”, “tịch diệt”. Một đặt trưng khác của Phật giáo là khi các bậc đạo sư của các tông phái thiền khi biết “ngày giờ” của mình sắp tới thường đăng đàn hội chúng để dặn dò hay giải đáp những gì mà các đệ tử chưa hiểu rốt ráo, thường thì bằng một bài kệ, sau đó các vị nhập định và khi “thu thần” thì thường từ giã các đệ tử bằng cách nói “Thôi, ta đi đây!”. Theo luật “vô thường”, Đức Phật cũng phải “từ giã” thế gian theo qui luật “sanh, lão, bệnh, tử”. Cái chết của Đức Phật được gọi là “nhập niết bàn”. Kim thân của Đức Phật được hỏa táng và để lại những xá lợi như những viên ngọc nhiều màu sắc, được lưu giữ ở các bảo tháp để người Phật tử chiêm bái và thờ phụng. Người có đạo Thiên chúa thì thường diễn đạt cái chết bằng cách nói: “chầu Chúa”, “về hầu nhan thánh Chúa”, “đã ngủ yên trong Chúa”, “Cha gọi về”, “chầu trời”, “lên trời” hay “lên thiên đàng”, thậm chí “xuống hỏa ngục” nơi có lửa cháy đời đời. Riêng Chúa Giê-su thì lại khác vì Chúa Giê-su được cho rằng có xuất xứ đâu đó ở trên trời nên sau khi chết đã “sống lại” và lại bay về trời vì vậy, khi có những thông tin hay sự kiện nào đó làm cho hình ảnh của Chúa Giê-su bị thế tục hóa, chẳng hạn như sự phát hiện quần thể mộ Talpiot ở Jerusalem nơi có mười tiểu quách, có ghi tên tuổi mà giả thuyết cho rằng là của Chúa Giê-su và các thành viên trong gia đình như mẹ là bà Maria và vợ là Magdalene và con trai là Judah v.v.. hay cuốn tiểu thuyết trinh thám Mật Mã Da Vinci của Dan Brown nói về cuộc đời thật của Chúa Giê-su, thì thường được Vatican xử lý một cách chuyên nghiệp như hạn chế sự chỉ trích hay đề cập đến vì không muốn dư luận chú ý đến sự kiện, và tập trung hướng dẫn con chiên cách tiếp cận thông tin để vô hiệu hóa hay hạn chế sự tác động của các thông tin trên, vì nếu Chúa Giê-su mà không “thăng thiên” thì thêm một bằng chứng nữa để chứng minh Giáo hội được xây dựng trên một “hòn đá tảng” của sự ngụy tạo, rằng toàn bộ những gì trong Thánh kinh “mạc khải” đều không đáng tin cậy. Trong các cáo phó hay lời chia buồn của người theo đạo Phật, đạo thờ cúng ông bà, hay của người không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào cũng thường thấy các cụm từ như: “đau đớn báo tin”, “thành thật chia buồn”, “thành kính phân ưu” v.v.. Điều này hầu như không nghịch lý gì với quan niệm “sống gửi, thác về” hay “đời là bể khổ” của đạo Phật. Thứ nhất, chúng ta đang sống ở một thế giới chịu tác động và chi phối bởi cảm xúc vì vậy, việc chia ly, mất người thân là nỗi đau buốn rất người. Thứ hai, theo quan niệm của Phật giáo thì được làm người là một việc rất khó, khó như một con rùa mù trăm năm may mắn lắm mới bám vào được một thanh gỗ mục trôi nổi giữa lòng đại dương, vì làm người là một phước đức và thuận duyên lớn để tu tập, chuyển hóa nghiệp lực của mình vì vậy, chết là mất đi một cơ hội lành, nên là một điều đáng buồn, dĩ nhiên ta không nói đến các bậc đã ngộ lẽ vô thường, không còn bị cảm xúc chi phối khi “thu thần an nhiên thị tịch”, hay những vị đã bước qua ranh giới sanh tử của đời thường. Riêng việc viết cáo phó của người có đạo Thiên Chúa là cả một vấn đề, ví dụ, người ta không thể viết rằng : Gia đình chúng tôi “đau buồn” báo tin rằng Ông Nguyễn Văn X đã được “Chúa gọi về. Nói cho có tình có lý, con chiên được gặp Chúa thì phải “vui mừng” chứ không thể nào nói rằng “đau buồn” được! Nhưng lại không thể viết rằng: Gia đình chúng tôi “vui mừng” báo tin rằng…Nhà có người quá cố mà nói rằng “vui mừng” thì lại càng không thể! Vì thế, người có đạo thường không giãi bày cảm xúc thật của mình đối với người quá cố trong cáo phó, mà chỉ thường viết chung chung như “Gia đình chúng tôi báo tin…” Trên thực tế, gia đình nào có thân nhân chết mà chẳng đau buồn, bất kể tín ngưỡng, tôn giáo, chỉ trừ những đứa “ác ôn” chỉ mong ai đó chết đi vì một lý do nào đó mà thôi! Nhưng thực sự khó có con chiên nào thực tâm muốn được “Chúa gọi”, tuy vậy vẫn có thể có biệt lệ, những người quá đau đớn, khổ sở do mắc bệnh nan y, hay phải sống đời sống thực vật, sống dở chết dở, mong được chết nhẹ nhàng nhờ sự can thiệp của y tế theo cách “an tử” hay “trợ tử” nhưng lại không được phép của Giáo hội, nên chính bản thân nạn nhân và thân nhân âm thầm cầu nguyện mong được “Chúa gọi” mà thôi. Cái chết này không phải là “mừng” vì được gặp Chúa mà vì được giải thoát khỏi cái đau đớn triền miên của thể xác và sự tốn kém tài chính nhưng lại không làm thay đổi được tình trạng như trường hợp của cô Eluana Englaro, người Italia sống 17 năm trong tình trạng thực vật. Thân nhân của cô có nguyện vọng cho cô được trợ tử, và đã được phép của tòa án Milano cho phép cắt đường dưỡng sinh nuôi lâm sàng để được chết an lành, nhưng Tòa thánh Vatican đã tổ chức tuần hành “vì sự sống” để chống đối, nhưng việc trợ tử vẫn được tiến hành sau đó vào ngày 6 tháng 2 năm 2009. Bây giờ ta nói đến cái chết mà không chết thật trong tiếng Việt. Để diễn đạt điều gì ở tình trạng “tiến thối lưỡng nan” không xử lý được là “chết gí”. Ngạc nhiên dẫn đến phẫn nộ tột cùng thì là “ chết đứng”, “chết điếng”, mà đôi khi cũng chết thật ở tư thế “chết đứng” như khi Từ Hải nghe lời Kiều ra hàng, mắc mưu Hồ Tôn Hiến nên bị phục giết, chết đứng như trời trồng: Trơ như đá vững như đồng, / Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời., và còn nhiều cái chết mà không chết thật như “chết đòn”, “chết chùm”, “chết dở”, “chết ngất”, “chết giả” hay “chết giấc”. Tham ăn tham uống thì bị chê trách là đồ “chết đói chết khát”, hay làm cho “chết thèm”, sợ cái không đáng sợ là “ chết nhát” v.v.. và các câu tán thán mà trẻ con thường hay bị mắng khi thốt ra đó là “chết cha”, “chết bà cố”! Những từ ngữ diễn tả cách gọi việc sinh-tử nói trên chỉ là một số tương đối phổ thông trong Tiếng Việt, và còn nhiều cách nói khác nữa của các địa phương mà người viết không được biết và chắc chắn trong tương lai, sẽ có những từ ngữ mới xuất hiện, và cái chết không chỉ giới hạn trong thế giới có sự sống mà còn được làm ẩn dụ cho sự chấm hết của một sự kiện ví dụ như người Việt Nam xem ngày 30-4-1975 là “cái chết” của một chế độ mà có sử gia gọi đích danh là chế độ được lập ra do liên minh Mỹ -Vatican. Để kết thúc bài viết, người viết xin được kể một mẩu chuyện vui ngắn: Một ký giả trẻ tập sự được cử đi lấy tin. Ngày hôm sau, tòa soạn nhận được bài viết quá dài cho một sự kiện đơn giản nên “mail” nhắc nhở anh chàng ký giả trẻ như sau: “Bài viết cần súc tích, ngắn gọn. Hết.” Và ngay sau đó tòa soạn nhận được bài viết của anh đúng theo yêu cầu với nội dung sau: “ Ông Nguyễn Văn X. đang khi say rượu, mở nắp bình xăng xe, và bật quẹt diêm để kiểm tra xem xăng còn hay hết. Hưởng thọ 33 tuổi. Hết.” SG, 30-4-2009 Nguyễn Trí Cảm Các bài viết của tác giả Nguyễn Trí Cảm |