Cổ Huấn - VNthuquan
Có thể bạn quan tâm
back
Menu
Cổ Huấn Thay đổi trang: | Trang 4 của 5 trang, bài viết từ 46 đến 60 trên tổng số 63 bài trong đề mục HongYen 13.10.2005 11:56:54 (permalink)
HongYen 13.10.2005 12:32:21 (permalink) Cổ Huấn (201-300) 201 死生有命,富貴在天。 Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên. 202 擊石原有火,不擊乃無煙。 Kích thạch nguyên hữu hỏa, bất kích nãi vô yên. 203 為學始知道,不學亦徒然。 Vi học thủy tri đạo, bất học diệc đồ nhiên. 204 莫笑他人老,終須還到老。 Mạc tiếu tha nhơn lão, chung tu hoàn đáo lão. 205 但能依本分,終須無煩惱。 Đãn năng y bổn phận, chung tu vô phiền não. 206 君子愛財,取之有道。 Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo. 207 貞婦愛色,納之以禮。 Trinh phụ ái sắc, nạp chi dĩ lễ. 208 善有善報,惡有惡報, 不是不報,日子未到。 Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, Bất thị bất báo, nhựt tử vị đáo. 210 人而無信,不知其可也。 Nhơn nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã. 211 一人道好,千人傳實。 Nhứt nhơn đạo hảo, thiên nhơn truyền thật. 212 凡事要好,須問三老。 Phàm sự yếu hảo, tu vấn tam lão. 213 若爭小可,便失大道。 Nhược tranh tiểu khả, tiện thất đại đạo. 214 年年防饑,夜夜防盜。 Niên niên phòng cơ, dạ dạ phòng đạo. 215 學者好,不學者好。 Học giả hảo, bất học giả hảo. 216 學者如禾如稻,不學者如藁如草。 Học giả như hòa như đạo, bất học giả như cảo như thảo. 217 遇飲酒時須飲酒,得高歌處且高歌。 Ngộ ẩm tửu thì tu ẩm tửu, đắc cao ca xứ thả cao ca. 218 因風吹火,用力不多。 Nhân phong xuy hỏa, dụng lực bất đa. 219 不因漁父引,怎得見波濤。 Bất nhân ngư phụ dẫn, chẩm (trợ ngữ : nào) đắc kiến ba đào. 220 無求到處人情好,不飲從他酒價高。 Vô cầu đáo xứ nhân tình hảo, bất ẩm tòng tha tửu giá cao. 221 知事少時煩惱少,識人多處是非多。 Tri sự thiểu thì phiền não thiểu, thức nhơn đa xử thị phi đa. 222 入山不怕傷人虎,只怕人情兩面刀。 Nhập sơn bất phạ thương nhơn hổ, chỉ phạ nhơn tình lưỡng diện đao. 223 強中自有強中手,惡人須用惡人磨。 Cường trung tự hữu cường trung thủ, ác nhơn tu dụng ác nhơn ma. 224 會使不在家豪富,風流不用著衣多。 Hội sử bất tại gia hào phú, phong lưu bất dụng trứ y đa. 225 光陰似箭,日月如梭。 Quang âm tự tiễn (cây tên), nhựt nguyệt như thoa (thoi). 226 天時不如地利,地利不如人和。 Thiên thì bất như địa lợi, địa lợi bất như nhơn hòa. 227 黃金未為貴,安樂値錢多。 Hoàng kim vị vi quý, an lạc trị tiền đa. 228 世上萬般皆下品,思量唯有讀書高。 Thế thượng vạn ban giai hạ phẩm, tư lượng duy hữu độc thư cao. 229 世間好語書說盡,天下名山僧佔多。 Thế gian hảo ngữ thư thuyết tận, thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa. 230 為善最樂,為惡難逃。 Vi thiện tối lạc, vi ác nan đào. 231 羊有跪乳之恩,鴉有反哺之義。 Dương hữu quỵ nhũ chi ân, nha hữu phản bộ chi nghĩa. 232 你急他未急,人閒心不閒。 Nễ cấp tha vị cấp, nhơn nhàn tâm bất nhàn. 233 隱惡揚善,執其兩端。 Ẩn ác dương (làm cho nổi lên) thiện, chấp kỳ lưỡng đoan. 234 妻賢夫禍少,子孝父心寬。 Thê hiền phu họa thiểu, tử hiếu phụ tâm khoan. 235 既墜釜甑,反顧無益。 Ký trụy phủ tắng, phản cố vô ích. 236 翻覆之水,收之實難。 Phiên phúc chi thủy, thu chi thật nan. 237 人生知足何時足,人老偷閒且是閒。 Nhơn sanh tri túc hà thì túc, nhơn lão thâu nhàn thả thị nhàn. 238 但有綠楊堪繫馬,處處有路透長安。 Đãn hữu lục dương kham hệ mã, xứ xứ hữu lộ thấu trường an. 239 見者易,學者難。 Kiến giả dị, học giả nan. 240 莫將容易得,便作等閒看。 Mạc tương dung dị (dễ dàng) đắc, tiện tác đẳng nhàn khan. 241 用心計較般般錯,退步思量事事難。 Dụng tâm kế giảo ban ban thác, thối bộ tư lương sự sự nan. 242 道路各別,養家一般。 Đạo lộ các biệt, dưỡng gia nhứt bàn. 243 從儉入奢易,從奢入儉難。 Tòng kiệm (tằn tiện) nhập xa (xa xỉ) dị, tòng xa nhập kiệm nan. 244 知音說與知音聽,不是知音莫與彈。 Tri âm thuyết dữ tri âm thính, bất thị tri âm mạc dữ đàn. 245 點石化為金,人心猶未足。 Điểm thạch hóa vi kim, nhơn tâm do vị túc. 246 信了肚,賣了 屋。 Tín liễu đỗ, mại liễu ốc. 247 他人觀花,不涉你目。 Tha nhân quan hoa, bất thiệp nễ mục. 248 他人碌碌,不涉你足。 Tha nhơn lục lục (hèn hạ), bất thiệp nâm túc. 249 誰人不愛子孫賢,誰人不愛千鐘粟。 Thùy nhơn bất ái tử tôn hiền, thùy nhơn bất ái thiên chung túc. 250 莫把真心空計較,五行不是這題目。 Mạc bả chơn tâm không kế giảo (qua loa), ngũ hành bất thị giá đề mục. 251 與人不和,勸人養鵝。 Dữ nhơn bất hòa, khuyến nhơn dưỡng nga. 252 與人不睦,勸人架屋。 Dữ nhơn bất mục, khuyến nhơn giá ốc. 253 但行好事,莫問前程。 Đãn hành hảo sự, mạc vấn tiền trình. 254 河狹水急,人急計生。 Hà hiệp thủy cấp, nhơn cấp kế sanh. 255 明知山有虎,莫向虎山行。 Minh tri sơn hữu hổ, mạc hướng hổ sơn hành. 256 路不行不到,事不為不成。 Lộ bất hành bất đáo, sự bất vi bất thành. 257 人不勸不善,鐘不打不鳴。 Nhơn bất khuyến bất thiện, chung bất đả bất minh. 258 無錢方斷酒,臨老始看經。 Vô tiền phương đoạn tửu, lâm lão thủy khán kinh. 259 點塔七層,不如暗處一燈。 Điểm tháp thất tằng, bất như ám xứ nhứt đăng. 260 萬事勸人休瞞昧,舉頭三尺有神明。 Vạn sự khuyến nhơn hưu man muội (mờ ám), cử đầu tam xích hữu thần minh. 261 但存方寸土,留與子孫耕。 Đãn tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh. 262 滅卻心頭火,剔起佛前燈。 Diệt khước tâm đầu hỏa, dịch (chọn) khởi Phật tiền đăng. 263 惺惺常不足,懵懵作公卿。 Tinh tinh (tỏ ngộ) thường bất túc, mộng mộng (u mê) tác công khanh. 264 眾星朗朗,不如孤月獨明。 Chúng tinh lãng lãng, bất như cô nguyệt độc minh. 265 兄弟相害,不如自生。 Huynh đệ tương hại, bất như tự sanh. 266 合理可作,小利莫爭。 Hợp lý khả tác, tiểu lợi mạc tranh. 267 牡丹花好空入目,棗花雖小結實成。 Mẫu đơn hoa hảo không nhập mục, tảo (cây táo) hoa tuy tiểu kết thật thành. 268 欺老莫欺小,欺人心不明。 Khi lão mạc khi tiểu, khi nhơn tâm bất minh. 269 隨分耕鋤收地利,他時飽滿謝蒼天。 Tùy phận canh sừ thu địa lợi, tha thì bão mãn tạ thương thiên (trời xanh). 270 得忍且忍,得耐且耐。[nhẫn nại 忍耐] Đắc nhẫn thả nhẫn, đắc nại (chịu nhịn) thả nại. 271 不忍不耐,小事成大。 Bất nhẫn bất nại, tiểu sự thành đại. 272 相論逞英雄,家計漸漸退。 Tương luận sính (làm ra vẻ là) anh hùng, gia kế tiệm tiệm (dần dần) thối. 273 賢婦令夫貴,惡婦令夫敗。 Hiền phụ lịnh phu quý, ác phụ lịnh phu bại. 274 一人有慶,兆民咸賴。 Nhứt nhơn hữu khánh (mừng), triệu dân hàm lại (cậy nhờ). 275 人老心未老,人窮志莫窮。 Nhơn lão tâm vị lão, nhơn cùng chí mạc cùng. 276 人無千日好,花無百日紅。 Nhơn vô thiên nhựt hảo, hoa vô bách nhựt hồng. 277 殺人可恕,情理難容。 Sát nhơn khả thứ, tình lý nan dung. 278 乍富不知新受用,乍貧難改舊家風。 Sạ (chợt) phú bất tri tân thụ dụng, sạ bần nan cải cựu gia phong. 279 座上客常滿,樽中酒不空。 Tọa thượng khách thường mãn, tôn (chén) trung tửu bất không. 280 屋漏更遭連年雨,行船又遇打頭風。 Ốc lậu canh tao liên niên vũ, hành thuyền hựu ngộ đả đầu phong. 281 筍因落籜方成竹,魚為奔波始化龍。 Duẩn (măng tre) nhân lạc thác (bẹ măng) phương thành trúc, ngư vi bôn ba thủy hóa long. 282 記得少年騎竹馬,看看又是白頭翁。 Ký đắc thiếu niên kỵ trúc mã, khán khán hựu thị bạch đầu ông. 283 禮義生於富足,盜賊出於貧窮。 Lễ nghĩa sanh ư phú túc (đủ), đạo tặc xuất ư bần cùng . 284 天上眾星皆拱北,世間無水不朝東。 Thiên thượng chúng tinh giai củng (chắp tay) bắc, thế gian vô thủy bất triều đông. 285 君子安貧,達人知命。 Quân tử an bần, đạt nhơn tri mệnh. 286 忠言逆耳利於行,良藥苦口利於病。 Trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hành, lương dược khổ khẩu lợi ư bệnh. 287 順天者存,逆天者亡。 Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong. [Theo lẽ phải thì còn, trái lẽ phải thì mất]. 288 人貪財則死,鳥貪食則亡。 Nhơn tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong. 289 夫妻相合好,琴瑟與笙簧。 Phu thê tương hợp hảo, cầm sắt dữ sanh hoàng (lưỡi gà trong kèn, sáo). 290 有兒貧不久,無子富不長。 Hữu nhi bần bất cửu, vô tử phú bất trường. 291 善必壽老,惡必早亡。 Thiện tất thọ lão, ác tất tảo vong. 292 爽口食多偏作藥,快心事過恐生殃。 Sảng khẩu thực đa thiên tác dược, khoái tâm sự quá khủng sanh ương. [爽快sảng khoái] 293 富貴定要安本分,貧窮不必枉思量。 Phú quý định yếu an bổn phận, bần cùng bất tất uổng tư lương. 294 畫水無風空作浪,繡花雖好不聞香。 Họa thủy vô phong không tác lãng, tú hoa tuy hảo bất văn hương. 295 貪他一斗米,失卻半年糧。 Tham tha nhứt đẩu mễ, thất khước bán niên lương. 296 爭他一腳豚,反失一肘羊。 Tranh tha nhứt cước đồn, phản thất nhứt trửu dương. 297 龍歸晚洞雲猶濕,麝過春山草木香。 Long quy vãn động vân do thấp, xạ quá xuân sơn thảo mộc hương. 298 平生只會量人短,何不回頭把自量。 Bình sanh chỉ hội lượng nhơn đoản, hà bất hồi đầu bả tự lượng. 299 見善如不及,見惡如探湯。 Kiến thiện như bất cập, kiến ác như thám thang. 300 人貧志短,馬瘦毛長。[短長 đoản trường ] Nhơn bần chí đoản, mã sấu mao trường. #47
HongYen 13.10.2005 12:36:15 (permalink)
HongYen 13.10.2005 12:54:19 (permalink) Cổ Huấn (301-350) 301 自家心裡急,他人未知忙。 Tự gia tâm lý cấp, tha nhơn vị tri mang. 302 貧無達士將金贈,病有高人說藥方。 Bần vô đạt sĩ tương kim tặng, bệnh hữu cao nhơn thuyết dược phương. 303 觸來莫與說,事過心清涼。 Xúc lai mạc dữ thuyết, sự quá tâm thanh lương. 304 秋至滿山多秀色,春來無處不花香。 Thu chí mãn san đa tú sắc, xuân lai vô xứ bất hoa hương. 305 凡人不可貌相,海水不可斗量。 Phàm nhơn bất khả mạo tướng, hải thủy bất khả đẩu lượng. 306 清清之水,為土所防。 Thanh thanh chi thủy, vi thổ sở phòng (ngăn ngừa). 307 濟濟之士,為酒所傷。 Tể tể (đông đúc) chi sĩ , vi tửu sở thương . 308 蒿草之下,或有蘭香。 Hao thảo (cỏ ngải) chi hạ, hoặc (ngờ) hữu lan hương. 309 茅茨之屋,或有侯王。 Mao tỳ chi ốc, hoặc hữu hầu vương. 310 無限朱門生餓殍,幾多白屋出卿。 Vô hạn chu môn sanh ngạ biễu (chết đói), kỷ đa bạch ốc xuất khanh. 311 醉後乾坤大,壺中日月長。 Túy hậu kiền khôn đại, hồ trung nhựt nguyệt trường. 312 萬事皆已定,浮生空白茫。 Vạn sự giai dĩ định, phù sanh không bạch mang. 313 千里送毫毛,禮輕仁義重。 Thiên lý tống hào mao, lễ khinh nhân nghĩa trọng. 314 一人傳虛,百人傳實。 Nhứt nhơn truyền hư, bách nhơn truyền thật. 315 世事明如鏡,前程暗似漆。 Thế sự minh như kính, tiền trình ám tự tất (sơn, đen thui). 316 光陰黃金難買,一世如駒過隙。 Quang âm hoàng kim nan mãi, nhứt thế như câu quá khích. 317 良田萬傾,日食一升。 Lương điền vạn khuynh (dốc hết), nhựt thực nhứt thăng. 318 大廈千間,夜眠八尺。 Đại hạ (nhà) thiên gian, dạ miên bát xích. 319 千經萬典,孝義為先。 Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên. 320 一字入公門,九牛拖不出。 Nhứt tự nhập công môn, cửu ngưu đà bất xuất. 321 衙門八字開,有理無錢莫進來。 Nha môn bát tự khai, hữu lý vô tiền mạc tiến lai. 322 富從升合起,貧因不算來。 Phú tùng thăng hợp khởi, bần nhân (bởi vì) bất toán lai. 323 家中無才子,官從何處來。 Gia trung vô tài tử, quan tòng hà xứ lai. 324 萬事不由人計較,一生都是命安排。 Vạn sự bất do nhơn kế giảo, nhứt sanh đô thị mệnh an bài. 325 急行慢行,前程只有多少路。 Cấp hành mạn hành, tiền trình chỉ hữu đa thiểu lộ. 326 人間私語,天聞若雷。 Nhơn gian tư (kín, gian) ngữ, thiên văn nhược lôi. 327 暗室虧心,神目如電。 Ám thất khuy tâm (làm điều trái với lương tâm), thần mục như điện. 328 一毫之惡,勸人莫作。 Nhứt hào chi ác, khuyến nhơn mạc tác. 329 一毫之善,與人方便。 Nhứt hào chi thiện, dữ nhơn phương tiện. 330 欺人是禍,饒人是福。 Khi nhơn thị họa, nhiêu nhơn thị phúc. 331 天眼恢恢,報應甚速。 Thiên nhãn khôi khôi (lồng lộng), báo ứng thậm tốc. 332 聖賢言語,神欽鬼伏。 Thánh hiền ngôn ngữ, thần khâm (kính) quỷ phục. 333 人各有心,心各有見。 Nhơn các hữu tâm, tâm các hữu kiến. 334 口說不如身逢,耳聞不如目見。 Khẩu thuyết bất như thân phùng, nhĩ văn bất như mục kiến. 335 養軍千日,用在一朝。 Dưỡng quân thiên nhựt, dụng tại nhứt triêu (buổi sáng). 336 國清才子貴,家富小兒驕。 Quốc thanh tài tử quý, gia phú tiểu nhi kiêu. 337 利刀割體痕易合,惡語傷人恨不消。 Lợi đao cát thể ngân (thẹo) dị hợp, ác ngữ thương nhân hận bất tiêu. 338 公道世間唯白發,貴人頭上不曾饒。 Công đạo thế gian duy bạch phát, quý nhơn đầu thượng bất tằng nhiêu. 339 有錢堪出眾,無衣懶出門。 Hữu tiền kham xuất chúng, vô y lại (trông cậy) xuất môn. 340 為官須作相,及第必爭先。 Vi quan tu (nên) tác tướng, cập đệ tất tranh tiên. 341 苗從地發,樹向枝分。 Miêu (mầm non) tòng địa phát, thụ hướng chi phân. 342 父子和而家不退,兄弟和而家不分。 Phụ tử hòa nhi gia bất thối, huynh đệ hòa nhi gia bất phân. 343 官有正條,民有私約。 Quan hữu chính điều, dân hữu tư ước. 344 閒時不燒香,急時抱佛腳 Nhàn thì bất thiêu hương, cấp thì bão (ôm) Phật cước. 345 幸生太平無事日,恐逢年老不多時。 Hạnh sanh thái bình vô sự nhựt, khủng phùng niên lão bất đa thì. 346 國亂思良將,家貧思賢妻。 [相 tướng = đứng đầu trăm quan; 將 = võ tướng] Quốc loạn tư lương tướng, gia bần tư hiền thê. 347 池塘積水須防旱,田地勤耕足養家。 Trì đường tích (chứa) thủy tu phòng hạn, điền địa cần canh túc dưỡng gia. 348 根深不怕風搖動,樹正無愁月影斜。 Căn thâm bất phạ phong dao động, thụ chính vô sầu nguyệt ảnh tà. 349 奉勸君子,各宜守己。 Phụng khuyến quân tử, các nghi thủ kỷ. 350 只此程式,萬無一失。 Chỉ thử trình thức, vạn vô nhứt thấ . 増廣賢文終 Tăng Quảng Hiền Văn Chung Biên soạn: Lê Văn Đặng Sửa lỗi: Nguyễn Hữu Vinh, Như Lan Xong 05-X-2005 Tham Khảo: Sách • 明心寶鑑Minh Tâm Bửu Giám. Dương Mạnh Huy dịch chú. Saigon: Tin-Ðức Thư-Xã, 1952. • Hán Việt Tự Ðiển Thiều Chửu. Hanoi: Ðuốc Tuệ, 1954. • Hán Việt Từ Ðiển Ðào Duy Anh. Paris: Minh Tân, 1951. • Việt Nam Tự Ðiển Khai Trí Tiến Ðức. Saigon Hanoi Văn Mới, Editions Mayenne (France) 1954. • 新譯 四書讀本, 三民書局1987. • 康熙字典1966. • 辭海1972. • 辭源. Trang Webs 1. Bản điện tử Hán Việt Tự Ðiển Thiều Chửu của Ðặng Thế Kiệt http://www.viethoc.org/hannom/ 2. Chú Thích Hán Việt của Phạm Hải http://www.petrus-tvk.com/ChuThich.html 3. China the Beautiful - Chinese Art and Literature http://www.chinapage.com/china.html >>>>>>>>>>>>>> Copy từ: http://hoaihuong.dyndns.org:8011/CoHuan_rev1.pdf <bài viết được chỉnh sửa lúc 13.10.2005 18:10:51 bởi HongYen > #49
HongYen 15.10.2005 15:57:35 (permalink)
HongYen 15.10.2005 16:02:18 (permalink) Copy: 1. Lương điền vạn KHUYNH, nhật thực nhất thăng hay là 2. Lương điền vạn KHOẢNH, nhật thực nhất thăng ĐỀU ĐÚNG, không ai sai, tùy người dùng. Đây là 2 VERSION hiện dùng ở China và Taiwan, Nếu dùng 1. thì thường không kèm theo câu đi theo (Đại hạ thiên gian.... Có nhiều VERSION của CỔ HUẤN thường dùng. Nguyễn Hữu Vinh #51
HongYen 02.11.2005 15:33:22 (permalink)
HongYen 14.11.2005 05:08:59 (permalink) Copy (copy đuọc những ô vuông không hà..., mong Quý Bạn tiếp tay) Ở China, Taiwan and Hongkong trong cuộc sống thường ngày, thường nghe những câu nói lấy từ Cổ Huấn. For your references: 畊杠秤弄 Đồng quân nhất tịch thoại, thắng độc thập niên thư. 毕㏑秤硑疊監 Cứu nhân nhứt mệnh, thắng tạo thất cấp Phù đồ. ア琽の辰 Thành môn thất hỏa, ương cập trì ngư. 礚环納ゲΤ紐 Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu. 加眔る Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt. ... Nguyễn Huữ Vinh, Đài Loan #53
HongYen 25.11.2005 08:32:37 (permalink)
HongYen 01.12.2005 15:54:45 (permalink) "nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy" [Cổ Huấn 179] Khó hiểu thiệt, cớ làm sao một lời nói buông ra thì dẫu 4 con ngựa rượt không kịp? Có nghĩa là lời nói đi ra khỏi miệng thì nó bay đi cái vèo như cung tên, mất hút, không lấy lại được. Ý là vậy? Tự điển Hán Viêt Nguyễn Văn Khôn ghi là "Một lời nói ra, xe bốn ngựa đuổi theo cũng không kịp, đã nói ra thì không hối lại được" (trang 667) hìhì thôi thì chúng ta cứ việc nói nhen, vì thời này có xe 4 ngựa đâu mà đuổi :-)) Nếu lỡ nói trật thì "sửa sai", nói lại ! Copy từ Dương Ngọc Yến <bài viết được chỉnh sửa lúc 01.12.2005 15:59:09 bởi HongYen > #55
HongYen 01.12.2005 15:58:26 (permalink) Tìm trên Google.com 文车二驷:文车:雕刻并有彩绘的车。二驷:两辆四匹马拉的车。。驷:四匹马拉的车 Văn xa: xe có điêu khắc và có hình vẽ màu sắc. Theo thiền ý, NHL dịch là xe đẹp, tuy không sát nghĩa, nhưng có lẽ không sai. Theo tôi nghĩ, 駟馬 không phải là "xe 4 ngựa kéo". Theo "Hán Ngữ Đại Từ Điền", 駟 và 駟馬 có cùng một nghĩa, là một bầy ngựa có bốn con: a team of four horses ( for a carriage) như khoanh tròn sau đây ( chứ không phải cổ xe ngoài vòng tròn !) Trong Văn Lâm (Wenlin) có vài từ liên hệ đến 駟馬 结驷连骑[結駟連騎] carriage drawn by four horses 钧驷[鈞駟] a team of four same-color horses 驽骀下驷[駑駘-駟] a stupid person 上驷[-駟] thoroughbred horse M:¹pǐ 驷不及舌[駟---] What is said cannot be unsaid. 驷马[駟馬] team of four horses 驷马高车[駟馬-車] vehicles of the rich 驷马难追[駟馬難-] What has been said cannot be unsaid. 一言既出,驷马难追[-----駟馬難-] A word spoken is past recalling Như vậy, không phải 驷 là xe có bốn ngựa kéo và 马viết dư! Thân mến Copy từ: Phạm Hải [image]http://diendan.vnthuquan.net/upfiles/1124/B02D780C26E14499A947237249919379.jpg[/image] Attached Image(s)
#56
HongYen 01.12.2005 16:03:18 (permalink) Cái hình xe bốn ngựa anh Hải thấy trên Internet, tôi cũng tìm ra đây rồi : http://www.chinalane.org/moral002/magicbox/00001641.html (* xem nguyên bài ở dưới đây) Trang này giảng giải câu ngạn ngữ "Nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy". Tạm dịch ý chính ra đây để bàn luận cho vui. "Tứ mã 駟馬" ngày xưa là "cỗ xe thắng bốn ngựa". Câu "nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy" vốn bắt nguồn từ sách Luận Ngữ (thiên XII, Nhan Uyên) 《論語‧顏淵》, ý nói một lời nói ra khỏi cửa miệng, có lấy cỗ xe thắng bốn ngựa cũng không thu lại được. Thời Xuân Thu, có vị đại phu nước Vệ tên là Cức Tử Thành. Một hôm, vị đại phu hỏi Tử Cống (học trò Khổng Tử) như sau: "Người quân tử chỉ cần bản chất tốt là đủ, cần chi văn vẻ bên ngoài?". Tử Cống đáp: "Ngài nói thế là không đúng. Xe bốn ngựa không đuổi kịp lời vừa nói ra. Bản chất và văn thái đều quan trọng như nhau. (…) Lấy da hổ da báo cạo sạch lớp lông đi, thì cũng như da chó da dê vậy thôi (nghĩa là chất (da) mà không có văn (lông) thì kém giá trị). Ngoài ý nghĩa hay ho trong câu nói của Tử Cống về "văn" và "chất", điều đáng chú ý ở đây là trong bạch thoại bây giờ, người Trung Quốc viết "nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy 一言既出,駟馬難追" trong khi câu văn ngôn ở Luận Ngữ lại là "tứ bất cập thiệt 駟不及舌" (xe bốn ngựa không bắt kịp cái lưỡi). Trong văn ngôn, người xưa nói gẫy gọn hơn bạch thoại ngày nay, chỉ dùng "tứ 駟" mà không dùng "tứ mã 駟馬". Vấn đề chữ "mã 馬" thừa (?) không phải đặt ra. Copy từ: ĐTK [image]http://diendan.vnthuquan.net/upfiles/1124/25FCAAC916D34935B2217B4A813370F1.jpg[/image] Attached Image(s)
#57
HongYen 01.12.2005 16:07:17 (permalink) ... Theo yêu cầu Anh ĐT Kiệt, tôi hỏi ông Tàu ( sinh trưởng ở thành phố Trường Xuân, tỉnh Liêu Ninh, vùng Đông Bắc nước Tàu ) làm cùng sở về ý nghĩa của "Tứ mã nan truy". Ông này ban đầu cũng nghĩ "Tứ mã" là xe tứ mã, nhưng sau khi về nhà tra Tử Điển Từ Hải và Hán Ngữ Đại Từ Điển, mới nhận là mình sai: 驷 đứng một mình có hai nghĩa: vừa là xe tứ mã, vừa là đoàn ngựa bốn con (kéo xe tứ mã) 驷马: chỉ có nghĩa duy nhất = đoàn ngựa bốn con kéo xe tứ mã Theo đó, cách hiểu thường tình Tứ mã nan truy = bốn ngựa khó theo xem ra lại đúng, trong khi cách hiểu "bác học" của những nhà Hán học uyên thâm như Đào Duy Anh, Trần Văn Chánh Tứ mã nan truy = xe bốn ngựa khó theo lại sai, hay ít nhất là nó không đúng theo Từ Hải. Nói thế không có nghĩa là chê bai gì ĐDA, TVC những học giả tôi rất khâm phục. Tôi chỉ nêu nghi vấn: có thể ĐDA, TVC sai trong cách giải thích này mà thôi. Chúng ta không nên đập hoài con ngựa đã chết (beating a dead horse). Shall we not? Thân mến Copy từ: Phạm Hải #58
QuietSoul 04.12.2005 03:00:38 (permalink)
HongYen 04.12.2005 03:50:28 (permalink) Kính QuietSoul (QS) Về bài Cổ Huấn Thật ra ban đầu HY tưởng rằng đó là những lời dạy cổ xưa cuả tổ tiên ta y như ca dao tục ngữ vậy. Khi Copy bài và Paste lên, đuợc thành viên Trương Củng bảo là cuả Trung Quốc. Vì HY vốn đâu có biết viết hay đọc chữ Hán Nôm; đang muốn học nghiã của những tiếng Hán Việt. NguyenHuuVinh (NHV) về những nhân vật mà HY copy là những người mà đã trả lời những câu thắc mắc nếu có. Tự HY đâu có biết gì về Cổ Huấn, nên không dám có ý kiến. Khi copy câu trả lời của ai hay copy từ đâu, HY luôn luôn ghi xuất xứ. Đa tạ QuietSoul đã quan tâm. Chúc QS vui với VNTQ. #60
Thay đổi trang: | Trang 4 của 5 trang, bài viết từ 46 đến 60 trên tổng số 63 bài trong đề mục
Chuyển nhanh đến: Chuyển nhanh đến - - - - - - - - - - [THÔNG BÁO] - - - - Thông Báo - - - - Hướng Dẫn Sử Dụng Diễn Đàn - - - - Thông báo lỗi của Diễn đàn - - - - - - - - Phòng đăng bài thử - - - - Thắc Mắc - Ý Kiến - - - - - - - - Diễn đàn guest [THƯ VIỆN VNTHUQUAN] - - - - Dịch Sách truyện cho Thư viện Online - - - - Bạn đọc yêu cầu - - - - Audio Truyện - Thơ - - - - - - - - Audio Truyện Ngắn - - - - - - - - Audio Truyện Dài - - - - - - - - Audio Thơ [VĂN HỌC] - - - - Văn - - - - - - - - Sách truyện tự sáng tác - - - - - - - - - - - - Tùy Bút - Tản Văn - - - - - - - - Sách truyện sưu tầm - - - - - - - - Truyện Tranh - - - - Thơ - - - - - - - - Thơ Sáng Tác - - - - - - - - - - - - Thơ Đường - - - - - - - - Thơ Sưu Tầm - - - - - - - - Thơ vui - - - - - - - - Ca Dao Tục Ngữ - - - - - - - - Đồng Dao - Vè - - - - - - - - Danh Ngôn - - - - - - - - Thơ dịch - - - - Tác giả - Tác phẩm Phòng Việt Văn - - - - - - - - Tác giả người Việt - - - - - - - - Tác giả người ngoại quốc - - - - Tác giả - Tác phẩm - Phòng Ngoại văn - - - - - - - - Tiếng Anh - - - - - - - - - - - - Truyện Tiếng Anh - - - - - - - - Tiếng Đức - - - - - - - - Tiếng Pháp - - - - - - - - Tiếng Hoa - - - - - - - - Tiếng Nga [NGHỆ THUẬT] - - - - ÂM NHẠC - - - - - - - - Nhạc sáng tác - - - - - - - - Nhạc tự trình diễn - - - - - - - - Nhạc phổ từ thơ Thành viên VNTQ - - - - - - - - Cổ Nhạc - - - - - - - - Lời bài hát - - - - - - - - Public Links - - - - - - - - Tin Tức Âm Nhạc - New Release - - - - - - - - Old Threads - - - - - - - - Cà Phê Thư Quán - - - - Hội Họa - - - - - - - - Tranh Sáng Tác - - - - - - - - Tranh Sưu Tầm - - - - Nhiếp Ảnh - - - - - - - - Ảnh Sáng Tác - - - - - - - - Ảnh Sưu Tầm - - - - - - - - Ảnh Lưu Niệm - - - - - - - - Kỹ Thuật Chụp Ảnh và Xử Lý Hậu Kỳ - - - - - - - - Máy Ảnh và Phụ Kiện - - - - - - - - Ảnh Khỏa Thân Nghệ Thuật - - - - Thủ Công Mỹ Nghệ + Điêu Khắc - - - - Sân Khấu - Điện Ảnh - - - - - - - - Sau Bức Màn Nhung - - - - - - - - Điểm Phim - Chuyện Màn Ảnh - - - - Thời Trang - Thẩm Mỹ - - - - - - - - Thời Trang Thiết Kế - - - - - - - - Y Phục May Sẵn - - - - - - - - Trang Sức - - - - - - - - Trang Điểm [ĐỜI SỐNG - XÃ HỘI] - - - - Gia Chánh Ngày Nay - - - - - - - - Hương Vị Việt Nam - - - - - - - - Mẹo Vặt - - - - Y khoa Thường Thức - - - - - - - - Sách - Tài Liệu Đông Y - - - - - - - - Sách - Tài Liệu Tây Y - - - - Du Lịch - - - - - - - - Phong Tục Tập Quán - - - - Khoa Học Huyền Bí - - - - Khoa Học Phổ Thông - - - - Kết Nối Những Tấm Lòng [GIAO LƯU - GIẢI TRÍ] - - - - Kết Bạn Bốn Phương - - - - - - - - Nhắn Tin - - - - - - - - Kim bằng hội ngộ - - - - - - - - Đôi Dòng Lưu Niệm - - - - Gỡ Rối Tơ Lòng - - - - - - - - Tâm Sự Bạn Gái - - - - - - - - Tâm Sự Bạn Trai - - - - - - - - Những Lá Thư Tình - - - - - - - - Chuyện Gia Đình - - - - - - - - Nhật Ký online - - - - - - - - Kinh nghiệm sống - - - - Lượm Lặt Đó Đây - - - - Trắc Nghiệm - - - - Hỷ Lạc quán - - - - - - - - Đố Vui - - - - - - - - Chuyện Cười - - - - - - - - Tranh Vui - - - - - - - - Phòng Tán Dóc - - - - Thể Thao - - - - Thú Tiêu Khiển - - - - Chúc Mừng - Cảm Tạ - - - - Phân Ưu [TIN HỌC] - - - - Hỏi Ðáp Tin Học - - - - Hướng Dẫn Lập trình - - - - Nhu Liệu - - - - Đồ Hoạ Vi Tính - - - - - - - - Photoshop - Hướng Dẫn - - - - - - - - Chương Trình Hổ Trợ Cho Phothoshop [CÁC CHUYÊN MỤC KHÁC] - - - - Phòng Lưu Trữ - - - - Quảng Cáo - Rao Vặt
Menu - Bài Viết Hôm Nay
- Chủ Đề Nổi Bật
- All Polls
- All FAQs
- Threads without reply
RSS Feed
Chọn Lựa
Xem trang để In
Chuyển xem chế độ Thread
Cổ Huấn Thay đổi trang: | Trang 4 của 5 trang, bài viết từ 46 đến 60 trên tổng số 63 bài trong đề mục HongYen 13.10.2005 11:56:54 (permalink) 164 龍生龍子,虎生豹兒。 Long sanh long tử, hổ sanh báo nhi.Câu chuyện sảy ra vaì năm truớc đây. Chuyện về một ông bác sĩ con và một đài phát thanh điạ phương có xích mích hay vì lý do nào đó, không ghi ra ở đây. Đài phát thanh phát rằng: "Hổ phụ sanh cẩu tử". Bác sĩ cha là bác sĩ y khoa tổng quát tốt nghiệp từ một nước đang phát triển. Bác sĩ con tốt nghiệp y khoa chỉnh hình từ một nước tân tiến. BS con thưa lên quan toà vì tội phỉ báng cẩu tử là chó con chớ không phải con chó. Qua baó chí và đài địa phương, qua một thời gian thì quan tòa phán trạng sư hai bên nên thượng lượng thì tốt hơn cả về mặt tình cảm và tiền bạc... Vậy là chuyện hòa cả làng. Nhưng dư luận người lớn cho rằng cả hai đều là "quâu quâu...". Cha coi chửng bị thưa thì có mà chết. Còn giới trẻ thì cho rằng bác sĩ chỉnh hình tốt nghiệp ở nước tân tiến rất là cao giá vì chương trình học hiện đại, theo khoa học, nhất là chuyên ngành....Đúng là long sanh long tử. Rồi chuyện gì cũng qua, chỉ văng vẳng tiếng hổ sanh báo nhi. Chúc vui với hổ và cẩu. Một con nó ăn thịt mình, còn một con mình ăn thịt nó. #46
HongYen 13.10.2005 12:32:21 (permalink) Cổ Huấn (201-300) 201 死生有命,富貴在天。 Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên. 202 擊石原有火,不擊乃無煙。 Kích thạch nguyên hữu hỏa, bất kích nãi vô yên. 203 為學始知道,不學亦徒然。 Vi học thủy tri đạo, bất học diệc đồ nhiên. 204 莫笑他人老,終須還到老。 Mạc tiếu tha nhơn lão, chung tu hoàn đáo lão. 205 但能依本分,終須無煩惱。 Đãn năng y bổn phận, chung tu vô phiền não. 206 君子愛財,取之有道。 Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo. 207 貞婦愛色,納之以禮。 Trinh phụ ái sắc, nạp chi dĩ lễ. 208 善有善報,惡有惡報, 不是不報,日子未到。 Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, Bất thị bất báo, nhựt tử vị đáo. 210 人而無信,不知其可也。 Nhơn nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã. 211 一人道好,千人傳實。 Nhứt nhơn đạo hảo, thiên nhơn truyền thật. 212 凡事要好,須問三老。 Phàm sự yếu hảo, tu vấn tam lão. 213 若爭小可,便失大道。 Nhược tranh tiểu khả, tiện thất đại đạo. 214 年年防饑,夜夜防盜。 Niên niên phòng cơ, dạ dạ phòng đạo. 215 學者好,不學者好。 Học giả hảo, bất học giả hảo. 216 學者如禾如稻,不學者如藁如草。 Học giả như hòa như đạo, bất học giả như cảo như thảo. 217 遇飲酒時須飲酒,得高歌處且高歌。 Ngộ ẩm tửu thì tu ẩm tửu, đắc cao ca xứ thả cao ca. 218 因風吹火,用力不多。 Nhân phong xuy hỏa, dụng lực bất đa. 219 不因漁父引,怎得見波濤。 Bất nhân ngư phụ dẫn, chẩm (trợ ngữ : nào) đắc kiến ba đào. 220 無求到處人情好,不飲從他酒價高。 Vô cầu đáo xứ nhân tình hảo, bất ẩm tòng tha tửu giá cao. 221 知事少時煩惱少,識人多處是非多。 Tri sự thiểu thì phiền não thiểu, thức nhơn đa xử thị phi đa. 222 入山不怕傷人虎,只怕人情兩面刀。 Nhập sơn bất phạ thương nhơn hổ, chỉ phạ nhơn tình lưỡng diện đao. 223 強中自有強中手,惡人須用惡人磨。 Cường trung tự hữu cường trung thủ, ác nhơn tu dụng ác nhơn ma. 224 會使不在家豪富,風流不用著衣多。 Hội sử bất tại gia hào phú, phong lưu bất dụng trứ y đa. 225 光陰似箭,日月如梭。 Quang âm tự tiễn (cây tên), nhựt nguyệt như thoa (thoi). 226 天時不如地利,地利不如人和。 Thiên thì bất như địa lợi, địa lợi bất như nhơn hòa. 227 黃金未為貴,安樂値錢多。 Hoàng kim vị vi quý, an lạc trị tiền đa. 228 世上萬般皆下品,思量唯有讀書高。 Thế thượng vạn ban giai hạ phẩm, tư lượng duy hữu độc thư cao. 229 世間好語書說盡,天下名山僧佔多。 Thế gian hảo ngữ thư thuyết tận, thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa. 230 為善最樂,為惡難逃。 Vi thiện tối lạc, vi ác nan đào. 231 羊有跪乳之恩,鴉有反哺之義。 Dương hữu quỵ nhũ chi ân, nha hữu phản bộ chi nghĩa. 232 你急他未急,人閒心不閒。 Nễ cấp tha vị cấp, nhơn nhàn tâm bất nhàn. 233 隱惡揚善,執其兩端。 Ẩn ác dương (làm cho nổi lên) thiện, chấp kỳ lưỡng đoan. 234 妻賢夫禍少,子孝父心寬。 Thê hiền phu họa thiểu, tử hiếu phụ tâm khoan. 235 既墜釜甑,反顧無益。 Ký trụy phủ tắng, phản cố vô ích. 236 翻覆之水,收之實難。 Phiên phúc chi thủy, thu chi thật nan. 237 人生知足何時足,人老偷閒且是閒。 Nhơn sanh tri túc hà thì túc, nhơn lão thâu nhàn thả thị nhàn. 238 但有綠楊堪繫馬,處處有路透長安。 Đãn hữu lục dương kham hệ mã, xứ xứ hữu lộ thấu trường an. 239 見者易,學者難。 Kiến giả dị, học giả nan. 240 莫將容易得,便作等閒看。 Mạc tương dung dị (dễ dàng) đắc, tiện tác đẳng nhàn khan. 241 用心計較般般錯,退步思量事事難。 Dụng tâm kế giảo ban ban thác, thối bộ tư lương sự sự nan. 242 道路各別,養家一般。 Đạo lộ các biệt, dưỡng gia nhứt bàn. 243 從儉入奢易,從奢入儉難。 Tòng kiệm (tằn tiện) nhập xa (xa xỉ) dị, tòng xa nhập kiệm nan. 244 知音說與知音聽,不是知音莫與彈。 Tri âm thuyết dữ tri âm thính, bất thị tri âm mạc dữ đàn. 245 點石化為金,人心猶未足。 Điểm thạch hóa vi kim, nhơn tâm do vị túc. 246 信了肚,賣了 屋。 Tín liễu đỗ, mại liễu ốc. 247 他人觀花,不涉你目。 Tha nhân quan hoa, bất thiệp nễ mục. 248 他人碌碌,不涉你足。 Tha nhơn lục lục (hèn hạ), bất thiệp nâm túc. 249 誰人不愛子孫賢,誰人不愛千鐘粟。 Thùy nhơn bất ái tử tôn hiền, thùy nhơn bất ái thiên chung túc. 250 莫把真心空計較,五行不是這題目。 Mạc bả chơn tâm không kế giảo (qua loa), ngũ hành bất thị giá đề mục. 251 與人不和,勸人養鵝。 Dữ nhơn bất hòa, khuyến nhơn dưỡng nga. 252 與人不睦,勸人架屋。 Dữ nhơn bất mục, khuyến nhơn giá ốc. 253 但行好事,莫問前程。 Đãn hành hảo sự, mạc vấn tiền trình. 254 河狹水急,人急計生。 Hà hiệp thủy cấp, nhơn cấp kế sanh. 255 明知山有虎,莫向虎山行。 Minh tri sơn hữu hổ, mạc hướng hổ sơn hành. 256 路不行不到,事不為不成。 Lộ bất hành bất đáo, sự bất vi bất thành. 257 人不勸不善,鐘不打不鳴。 Nhơn bất khuyến bất thiện, chung bất đả bất minh. 258 無錢方斷酒,臨老始看經。 Vô tiền phương đoạn tửu, lâm lão thủy khán kinh. 259 點塔七層,不如暗處一燈。 Điểm tháp thất tằng, bất như ám xứ nhứt đăng. 260 萬事勸人休瞞昧,舉頭三尺有神明。 Vạn sự khuyến nhơn hưu man muội (mờ ám), cử đầu tam xích hữu thần minh. 261 但存方寸土,留與子孫耕。 Đãn tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh. 262 滅卻心頭火,剔起佛前燈。 Diệt khước tâm đầu hỏa, dịch (chọn) khởi Phật tiền đăng. 263 惺惺常不足,懵懵作公卿。 Tinh tinh (tỏ ngộ) thường bất túc, mộng mộng (u mê) tác công khanh. 264 眾星朗朗,不如孤月獨明。 Chúng tinh lãng lãng, bất như cô nguyệt độc minh. 265 兄弟相害,不如自生。 Huynh đệ tương hại, bất như tự sanh. 266 合理可作,小利莫爭。 Hợp lý khả tác, tiểu lợi mạc tranh. 267 牡丹花好空入目,棗花雖小結實成。 Mẫu đơn hoa hảo không nhập mục, tảo (cây táo) hoa tuy tiểu kết thật thành. 268 欺老莫欺小,欺人心不明。 Khi lão mạc khi tiểu, khi nhơn tâm bất minh. 269 隨分耕鋤收地利,他時飽滿謝蒼天。 Tùy phận canh sừ thu địa lợi, tha thì bão mãn tạ thương thiên (trời xanh). 270 得忍且忍,得耐且耐。[nhẫn nại 忍耐] Đắc nhẫn thả nhẫn, đắc nại (chịu nhịn) thả nại. 271 不忍不耐,小事成大。 Bất nhẫn bất nại, tiểu sự thành đại. 272 相論逞英雄,家計漸漸退。 Tương luận sính (làm ra vẻ là) anh hùng, gia kế tiệm tiệm (dần dần) thối. 273 賢婦令夫貴,惡婦令夫敗。 Hiền phụ lịnh phu quý, ác phụ lịnh phu bại. 274 一人有慶,兆民咸賴。 Nhứt nhơn hữu khánh (mừng), triệu dân hàm lại (cậy nhờ). 275 人老心未老,人窮志莫窮。 Nhơn lão tâm vị lão, nhơn cùng chí mạc cùng. 276 人無千日好,花無百日紅。 Nhơn vô thiên nhựt hảo, hoa vô bách nhựt hồng. 277 殺人可恕,情理難容。 Sát nhơn khả thứ, tình lý nan dung. 278 乍富不知新受用,乍貧難改舊家風。 Sạ (chợt) phú bất tri tân thụ dụng, sạ bần nan cải cựu gia phong. 279 座上客常滿,樽中酒不空。 Tọa thượng khách thường mãn, tôn (chén) trung tửu bất không. 280 屋漏更遭連年雨,行船又遇打頭風。 Ốc lậu canh tao liên niên vũ, hành thuyền hựu ngộ đả đầu phong. 281 筍因落籜方成竹,魚為奔波始化龍。 Duẩn (măng tre) nhân lạc thác (bẹ măng) phương thành trúc, ngư vi bôn ba thủy hóa long. 282 記得少年騎竹馬,看看又是白頭翁。 Ký đắc thiếu niên kỵ trúc mã, khán khán hựu thị bạch đầu ông. 283 禮義生於富足,盜賊出於貧窮。 Lễ nghĩa sanh ư phú túc (đủ), đạo tặc xuất ư bần cùng . 284 天上眾星皆拱北,世間無水不朝東。 Thiên thượng chúng tinh giai củng (chắp tay) bắc, thế gian vô thủy bất triều đông. 285 君子安貧,達人知命。 Quân tử an bần, đạt nhơn tri mệnh. 286 忠言逆耳利於行,良藥苦口利於病。 Trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hành, lương dược khổ khẩu lợi ư bệnh. 287 順天者存,逆天者亡。 Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong. [Theo lẽ phải thì còn, trái lẽ phải thì mất]. 288 人貪財則死,鳥貪食則亡。 Nhơn tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong. 289 夫妻相合好,琴瑟與笙簧。 Phu thê tương hợp hảo, cầm sắt dữ sanh hoàng (lưỡi gà trong kèn, sáo). 290 有兒貧不久,無子富不長。 Hữu nhi bần bất cửu, vô tử phú bất trường. 291 善必壽老,惡必早亡。 Thiện tất thọ lão, ác tất tảo vong. 292 爽口食多偏作藥,快心事過恐生殃。 Sảng khẩu thực đa thiên tác dược, khoái tâm sự quá khủng sanh ương. [爽快sảng khoái] 293 富貴定要安本分,貧窮不必枉思量。 Phú quý định yếu an bổn phận, bần cùng bất tất uổng tư lương. 294 畫水無風空作浪,繡花雖好不聞香。 Họa thủy vô phong không tác lãng, tú hoa tuy hảo bất văn hương. 295 貪他一斗米,失卻半年糧。 Tham tha nhứt đẩu mễ, thất khước bán niên lương. 296 爭他一腳豚,反失一肘羊。 Tranh tha nhứt cước đồn, phản thất nhứt trửu dương. 297 龍歸晚洞雲猶濕,麝過春山草木香。 Long quy vãn động vân do thấp, xạ quá xuân sơn thảo mộc hương. 298 平生只會量人短,何不回頭把自量。 Bình sanh chỉ hội lượng nhơn đoản, hà bất hồi đầu bả tự lượng. 299 見善如不及,見惡如探湯。 Kiến thiện như bất cập, kiến ác như thám thang. 300 人貧志短,馬瘦毛長。[短長 đoản trường ] Nhơn bần chí đoản, mã sấu mao trường. #47
HongYen 13.10.2005 12:36:15 (permalink) 214 年年防饑,夜夜防盜。 Niên niên phòng cơ, dạ dạ phòng đạo.Có thể hiểu như : Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn. Còn đêm tối lo trôm cướp thì chưa nghĩ ra. #48
HongYen 13.10.2005 12:54:19 (permalink) Cổ Huấn (301-350) 301 自家心裡急,他人未知忙。 Tự gia tâm lý cấp, tha nhơn vị tri mang. 302 貧無達士將金贈,病有高人說藥方。 Bần vô đạt sĩ tương kim tặng, bệnh hữu cao nhơn thuyết dược phương. 303 觸來莫與說,事過心清涼。 Xúc lai mạc dữ thuyết, sự quá tâm thanh lương. 304 秋至滿山多秀色,春來無處不花香。 Thu chí mãn san đa tú sắc, xuân lai vô xứ bất hoa hương. 305 凡人不可貌相,海水不可斗量。 Phàm nhơn bất khả mạo tướng, hải thủy bất khả đẩu lượng. 306 清清之水,為土所防。 Thanh thanh chi thủy, vi thổ sở phòng (ngăn ngừa). 307 濟濟之士,為酒所傷。 Tể tể (đông đúc) chi sĩ , vi tửu sở thương . 308 蒿草之下,或有蘭香。 Hao thảo (cỏ ngải) chi hạ, hoặc (ngờ) hữu lan hương. 309 茅茨之屋,或有侯王。 Mao tỳ chi ốc, hoặc hữu hầu vương. 310 無限朱門生餓殍,幾多白屋出卿。 Vô hạn chu môn sanh ngạ biễu (chết đói), kỷ đa bạch ốc xuất khanh. 311 醉後乾坤大,壺中日月長。 Túy hậu kiền khôn đại, hồ trung nhựt nguyệt trường. 312 萬事皆已定,浮生空白茫。 Vạn sự giai dĩ định, phù sanh không bạch mang. 313 千里送毫毛,禮輕仁義重。 Thiên lý tống hào mao, lễ khinh nhân nghĩa trọng. 314 一人傳虛,百人傳實。 Nhứt nhơn truyền hư, bách nhơn truyền thật. 315 世事明如鏡,前程暗似漆。 Thế sự minh như kính, tiền trình ám tự tất (sơn, đen thui). 316 光陰黃金難買,一世如駒過隙。 Quang âm hoàng kim nan mãi, nhứt thế như câu quá khích. 317 良田萬傾,日食一升。 Lương điền vạn khuynh (dốc hết), nhựt thực nhứt thăng. 318 大廈千間,夜眠八尺。 Đại hạ (nhà) thiên gian, dạ miên bát xích. 319 千經萬典,孝義為先。 Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên. 320 一字入公門,九牛拖不出。 Nhứt tự nhập công môn, cửu ngưu đà bất xuất. 321 衙門八字開,有理無錢莫進來。 Nha môn bát tự khai, hữu lý vô tiền mạc tiến lai. 322 富從升合起,貧因不算來。 Phú tùng thăng hợp khởi, bần nhân (bởi vì) bất toán lai. 323 家中無才子,官從何處來。 Gia trung vô tài tử, quan tòng hà xứ lai. 324 萬事不由人計較,一生都是命安排。 Vạn sự bất do nhơn kế giảo, nhứt sanh đô thị mệnh an bài. 325 急行慢行,前程只有多少路。 Cấp hành mạn hành, tiền trình chỉ hữu đa thiểu lộ. 326 人間私語,天聞若雷。 Nhơn gian tư (kín, gian) ngữ, thiên văn nhược lôi. 327 暗室虧心,神目如電。 Ám thất khuy tâm (làm điều trái với lương tâm), thần mục như điện. 328 一毫之惡,勸人莫作。 Nhứt hào chi ác, khuyến nhơn mạc tác. 329 一毫之善,與人方便。 Nhứt hào chi thiện, dữ nhơn phương tiện. 330 欺人是禍,饒人是福。 Khi nhơn thị họa, nhiêu nhơn thị phúc. 331 天眼恢恢,報應甚速。 Thiên nhãn khôi khôi (lồng lộng), báo ứng thậm tốc. 332 聖賢言語,神欽鬼伏。 Thánh hiền ngôn ngữ, thần khâm (kính) quỷ phục. 333 人各有心,心各有見。 Nhơn các hữu tâm, tâm các hữu kiến. 334 口說不如身逢,耳聞不如目見。 Khẩu thuyết bất như thân phùng, nhĩ văn bất như mục kiến. 335 養軍千日,用在一朝。 Dưỡng quân thiên nhựt, dụng tại nhứt triêu (buổi sáng). 336 國清才子貴,家富小兒驕。 Quốc thanh tài tử quý, gia phú tiểu nhi kiêu. 337 利刀割體痕易合,惡語傷人恨不消。 Lợi đao cát thể ngân (thẹo) dị hợp, ác ngữ thương nhân hận bất tiêu. 338 公道世間唯白發,貴人頭上不曾饒。 Công đạo thế gian duy bạch phát, quý nhơn đầu thượng bất tằng nhiêu. 339 有錢堪出眾,無衣懶出門。 Hữu tiền kham xuất chúng, vô y lại (trông cậy) xuất môn. 340 為官須作相,及第必爭先。 Vi quan tu (nên) tác tướng, cập đệ tất tranh tiên. 341 苗從地發,樹向枝分。 Miêu (mầm non) tòng địa phát, thụ hướng chi phân. 342 父子和而家不退,兄弟和而家不分。 Phụ tử hòa nhi gia bất thối, huynh đệ hòa nhi gia bất phân. 343 官有正條,民有私約。 Quan hữu chính điều, dân hữu tư ước. 344 閒時不燒香,急時抱佛腳 Nhàn thì bất thiêu hương, cấp thì bão (ôm) Phật cước. 345 幸生太平無事日,恐逢年老不多時。 Hạnh sanh thái bình vô sự nhựt, khủng phùng niên lão bất đa thì. 346 國亂思良將,家貧思賢妻。 [相 tướng = đứng đầu trăm quan; 將 = võ tướng] Quốc loạn tư lương tướng, gia bần tư hiền thê. 347 池塘積水須防旱,田地勤耕足養家。 Trì đường tích (chứa) thủy tu phòng hạn, điền địa cần canh túc dưỡng gia. 348 根深不怕風搖動,樹正無愁月影斜。 Căn thâm bất phạ phong dao động, thụ chính vô sầu nguyệt ảnh tà. 349 奉勸君子,各宜守己。 Phụng khuyến quân tử, các nghi thủ kỷ. 350 只此程式,萬無一失。 Chỉ thử trình thức, vạn vô nhứt thấ . 増廣賢文終 Tăng Quảng Hiền Văn Chung Biên soạn: Lê Văn Đặng Sửa lỗi: Nguyễn Hữu Vinh, Như Lan Xong 05-X-2005 Tham Khảo: Sách • 明心寶鑑Minh Tâm Bửu Giám. Dương Mạnh Huy dịch chú. Saigon: Tin-Ðức Thư-Xã, 1952. • Hán Việt Tự Ðiển Thiều Chửu. Hanoi: Ðuốc Tuệ, 1954. • Hán Việt Từ Ðiển Ðào Duy Anh. Paris: Minh Tân, 1951. • Việt Nam Tự Ðiển Khai Trí Tiến Ðức. Saigon Hanoi Văn Mới, Editions Mayenne (France) 1954. • 新譯 四書讀本, 三民書局1987. • 康熙字典1966. • 辭海1972. • 辭源. Trang Webs 1. Bản điện tử Hán Việt Tự Ðiển Thiều Chửu của Ðặng Thế Kiệt http://www.viethoc.org/hannom/ 2. Chú Thích Hán Việt của Phạm Hải http://www.petrus-tvk.com/ChuThich.html 3. China the Beautiful - Chinese Art and Literature http://www.chinapage.com/china.html >>>>>>>>>>>>>> Copy từ: http://hoaihuong.dyndns.org:8011/CoHuan_rev1.pdf <bài viết được chỉnh sửa lúc 13.10.2005 18:10:51 bởi HongYen > #49
HongYen 15.10.2005 15:57:35 (permalink) Có câu này thắc mắc : 317 良禱uot;?萬傾,日食一升。 Lương Ġiền vạn khuynh (dỠc hết), nhựt thực nhứt thăng. 318 大廈千閦quot;,夜眠八尺。 Đại hạ (nhà) thiên gian, dạ miên bát xích. chữ khuynh 傾ở Ġây rất tỠi nghĩa, nếu là chữ Khoảnh 頃 (thửa ruộng trăm mẫu) thì dễ hiểu. Mà lại ĠỠi Ġược với câu dưới. Ruộng tốt muôn khoảnh, mỗi ngày chỉ ăn một thăng. Nhà rộng ngàn gian, nằm ngủ chỉ cần tám thướcCopy: You are right. 頃 có thể phát ra ba âm : khoảnh,khuynh,khuể Khoảnh: ruộng trăm mẫu Khuynh: ĠỦquot;ng nghĩa với 傾 (dỠc hết, làm nghiêng) Khuể: nửa bước Ruộng tỠt dù có Ġến trăm mẫu, mỗi ngày cũng chỉ ăn Ġược một thăng gạo Nhà rộng dù có Ġến ngàn gian phòng, Ġêm ngủ cũng chỉ dùng Ġến tám thước. Thanh Huy.USA #50
HongYen 15.10.2005 16:02:18 (permalink) Copy: 1. Lương điền vạn KHUYNH, nhật thực nhất thăng hay là 2. Lương điền vạn KHOẢNH, nhật thực nhất thăng ĐỀU ĐÚNG, không ai sai, tùy người dùng. Đây là 2 VERSION hiện dùng ở China và Taiwan, Nếu dùng 1. thì thường không kèm theo câu đi theo (Đại hạ thiên gian.... Có nhiều VERSION của CỔ HUẤN thường dùng. Nguyễn Hữu Vinh #51
HongYen 02.11.2005 15:33:22 (permalink) 2. Lương điền vạn KHOẢNH, nhật thực nhất thăngTác tộ, ngộ quá 作祚遇過 Chữ Hán có nhiều trường hợp nét viết rất giống nhau, khiến người ta đọc lầm, chữ tác 作 thành chữ tộ 祚, chữ ngộ 遇 thành chữ quá 過. Chẳng phải những người mới học (như học trò chúng ta đây trong lớp Hán Việt) dễ đọc sai. Ngay cả những nhà văn, học giả nghiêm túc cũng có thể phạm phải. Sách Cổ Huấn 古訓 có 2 câu: 317 良田萬傾,日食一升。 Lương điền vạn khuynh, nhựt thực nhứt thăng. 318 大廈千間,夜眠八尺。 Đại hạ thiên gian , dạ miên bát xích. Trong câu 317, có bản viết "khoảnh" 頃 (thửa ruộng trăm mẫu) thay vì "khuynh" 傾 (dốc hết, nghiêng), biết đâu đó chẳng qua đã có sự lẫn lộn giữa hai nét chữ, chưa chắc bản nào đúng hơn bản nào? Đọc Sử Kí của Tư Mã Thiên, Nguyễn Hiến Lê & Giản Chi dịch (Lá Bối xuất bản, Saigon, 1972), có đoạn sau: "Sao tướng quân chẳng lui binh mà kết tung ước với chư hầu để cùng đánh Tần, chia đất nước ấy mà cùng cai trị, ngoảnh mặt về phương nam mà xưng Cô, há lại chẳng hơn là thân bị hành hình mà vợ con cũng bị giết lây ư?" (Sở, Hạng Võ, trang 163). Câu cuối nguyên văn là: "Thử thục dữ thân phục phu chất, thê tử vi lục hồ" 此孰與身伏鈇鑕, 妻子為僇乎 (Hạng Vũ bổn kỉ 項羽本紀). Chữ "lục" 僇 theo tự điển của Thiều Chửu có nghĩa là "nhục nhã". Có thể hai nhà dịch giả, nổi tiếng là nghiêm túc, đã đọc lầm với chữ "lục" này chăng戮? Chữ này, theo Thiều Chửu, mới có nghĩa là "giết, giết rồi phanh thây ra". Hoặc giả, chính bản Hán văn kia lấy trên Internet đã viết sai chữ "lục". Việc này rất thường xảy ra. Theo Lê Ngọc Trụ, học giả Tạ Quang Phát dịch bộ Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn ghi âm chữ 鷁 là "ích" (thay vì "nghịch"), có lẽ vì thấy chữ "ích" 益 kèm theo một bên. Về chữ 彙 (nghĩa là "loại"), Phạm Quỳnh lần đầu tiên ghi trong báo Nam Phong là "vựng", chắc lầm mặt chữ với 暈 (nghĩa là "vừng sáng của mặt trời mặt trăng"). Từ đó, nguời ta và các sách theo nhau viết "tự vựng" thay vì "tự vị", như trong Đại Nam Quấc Âm tự vị 大南國音字彙 của Huình Tịnh Của. Trong Hán Việt Tự điển của Thiều Chửu có chữ 騸 ghi âm là "phiến" (nghĩa là "con ngựa thiến", "thiến súc vật"). Người Việt thông thường nói gà thiến, chó thiến, v.v., hóa ra lại phát âm đúng với phiên thiết trong Khang Hi tự điển 康熙字典 (thức thiết chiến 式切戰). Kết luận, học trò chúng ta đây chẳng nên sợ đọc sai, mà không dám vô lớp. Ngay cả những nhà văn, học giả nghiêm túc, nếu bất cẩn, cũng có thể lầm lẫn các nét chữ Hán. Đặng Thế Kiệt, Paris #52
HongYen 14.11.2005 05:08:59 (permalink) Copy (copy đuọc những ô vuông không hà..., mong Quý Bạn tiếp tay) Ở China, Taiwan and Hongkong trong cuộc sống thường ngày, thường nghe những câu nói lấy từ Cổ Huấn. For your references: 畊杠秤弄 Đồng quân nhất tịch thoại, thắng độc thập niên thư. 毕㏑秤硑疊監 Cứu nhân nhứt mệnh, thắng tạo thất cấp Phù đồ. ア琽の辰 Thành môn thất hỏa, ương cập trì ngư. 礚环納ゲΤ紐 Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu. 加眔る Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt. ... Nguyễn Huữ Vinh, Đài Loan #53
HongYen 25.11.2005 08:32:37 (permalink) Hán Việt Tự Ðiển Thiều Chửu. Hanoi: Ðuốc Tuệ, 1954.Về tên "Thiều Chửu" Chữ Hán Việt không có âm "chửu". Tác giả Thiều Chửu hay lẫn các âm Ch/Tr. Chữ "Chửu" chắc hẳn phải viết "Trửu".Tìm âm "Thiều", có chữ 苕 điều, thiều Bộ: thảo (艸) 苕 điều, thiều [Pinyin: shao2, tiao2] Hoa lau, cành nứt nở ra hoa, không có bầu có cánh. Nay ta gọi trẻ con thông minh xinh đẹp là điều tú 苕秀 ý nói như hoa lau một ngọn đã nứt ra hoa vậy. Người ta lại dùng những cánh nó làm chổi gọi là điều trửu 苕帚 chổi lau. Ta quen đọc là chữ thiều. Như vậy, Thiều Chửu hẳn viết chữ Hán là 苕帚. Xem Phật Học Đại Từ Điển 佛學大辭典 của Đinh Phúc Bảo 丁福保 có sự tích sau: (故事)捫蝨新語曰:「世尊在日,有比丘鈍根,無多聞性。佛令誦苕帚二字,旦夕誦之,言苕則已忘帚,言帚則又忘苕。每自剋責,繫念不休。忽一日能言曰苕帚,於此大悟。」 (cố sự )Môn sắt tân ngữ viết :[Thế tôn tại nhật ,hữu tì khâu độn căn ,vô đa văn tính 。Phật lệnh tụng điều trửu nhị tự ,đán tịch tụng chi ,ngôn điều tắc dĩ vong trửu ,ngôn trửu tắc hựu vong điều 。Mỗi tự khắc trách ,hệ niệm bất hưu 。Hốt nhất nhật năng ngôn viết điều trửu ,ư thử đại ngộ 。] Tóm tắt ý nghĩa: Thời Phật Thế tôn còn sống, có người tì khưu đầu óc chậm lụt. Phật dạy tụng hai chữ Thiều Trửu. Người ấy ngày đêm tụng đọc, nói chữ "Thiều" thì quên chữ "Trửu", nói "Trửu" lại quên "Thiều". Người ấy không sờn lòng, cố công tụng đọc không ngừng nghỉ. Một hôm đọc được cả hai chữ và được "đại ngộ". Copy từ: DTK #54
HongYen 01.12.2005 15:54:45 (permalink) "nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy" [Cổ Huấn 179] Khó hiểu thiệt, cớ làm sao một lời nói buông ra thì dẫu 4 con ngựa rượt không kịp? Có nghĩa là lời nói đi ra khỏi miệng thì nó bay đi cái vèo như cung tên, mất hút, không lấy lại được. Ý là vậy? Tự điển Hán Viêt Nguyễn Văn Khôn ghi là "Một lời nói ra, xe bốn ngựa đuổi theo cũng không kịp, đã nói ra thì không hối lại được" (trang 667) hìhì thôi thì chúng ta cứ việc nói nhen, vì thời này có xe 4 ngựa đâu mà đuổi :-)) Nếu lỡ nói trật thì "sửa sai", nói lại ! Copy từ Dương Ngọc Yến <bài viết được chỉnh sửa lúc 01.12.2005 15:59:09 bởi HongYen > #55
HongYen 01.12.2005 15:58:26 (permalink) Tìm trên Google.com 文车二驷:文车:雕刻并有彩绘的车。二驷:两辆四匹马拉的车。。驷:四匹马拉的车 Văn xa: xe có điêu khắc và có hình vẽ màu sắc. Theo thiền ý, NHL dịch là xe đẹp, tuy không sát nghĩa, nhưng có lẽ không sai. Theo tôi nghĩ, 駟馬 không phải là "xe 4 ngựa kéo". Theo "Hán Ngữ Đại Từ Điền", 駟 và 駟馬 có cùng một nghĩa, là một bầy ngựa có bốn con: a team of four horses ( for a carriage) như khoanh tròn sau đây ( chứ không phải cổ xe ngoài vòng tròn !) Trong Văn Lâm (Wenlin) có vài từ liên hệ đến 駟馬 结驷连骑[結駟連騎] carriage drawn by four horses 钧驷[鈞駟] a team of four same-color horses 驽骀下驷[駑駘-駟] a stupid person 上驷[-駟] thoroughbred horse M:¹pǐ 驷不及舌[駟---] What is said cannot be unsaid. 驷马[駟馬] team of four horses 驷马高车[駟馬-車] vehicles of the rich 驷马难追[駟馬難-] What has been said cannot be unsaid. 一言既出,驷马难追[-----駟馬難-] A word spoken is past recalling Như vậy, không phải 驷 là xe có bốn ngựa kéo và 马viết dư! Thân mến Copy từ: Phạm Hải [image]http://diendan.vnthuquan.net/upfiles/1124/B02D780C26E14499A947237249919379.jpg[/image] Attached Image(s)
HongYen 01.12.2005 16:03:18 (permalink) Cái hình xe bốn ngựa anh Hải thấy trên Internet, tôi cũng tìm ra đây rồi : http://www.chinalane.org/moral002/magicbox/00001641.html (* xem nguyên bài ở dưới đây) Trang này giảng giải câu ngạn ngữ "Nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy". Tạm dịch ý chính ra đây để bàn luận cho vui. "Tứ mã 駟馬" ngày xưa là "cỗ xe thắng bốn ngựa". Câu "nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy" vốn bắt nguồn từ sách Luận Ngữ (thiên XII, Nhan Uyên) 《論語‧顏淵》, ý nói một lời nói ra khỏi cửa miệng, có lấy cỗ xe thắng bốn ngựa cũng không thu lại được. Thời Xuân Thu, có vị đại phu nước Vệ tên là Cức Tử Thành. Một hôm, vị đại phu hỏi Tử Cống (học trò Khổng Tử) như sau: "Người quân tử chỉ cần bản chất tốt là đủ, cần chi văn vẻ bên ngoài?". Tử Cống đáp: "Ngài nói thế là không đúng. Xe bốn ngựa không đuổi kịp lời vừa nói ra. Bản chất và văn thái đều quan trọng như nhau. (…) Lấy da hổ da báo cạo sạch lớp lông đi, thì cũng như da chó da dê vậy thôi (nghĩa là chất (da) mà không có văn (lông) thì kém giá trị). Ngoài ý nghĩa hay ho trong câu nói của Tử Cống về "văn" và "chất", điều đáng chú ý ở đây là trong bạch thoại bây giờ, người Trung Quốc viết "nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy 一言既出,駟馬難追" trong khi câu văn ngôn ở Luận Ngữ lại là "tứ bất cập thiệt 駟不及舌" (xe bốn ngựa không bắt kịp cái lưỡi). Trong văn ngôn, người xưa nói gẫy gọn hơn bạch thoại ngày nay, chỉ dùng "tứ 駟" mà không dùng "tứ mã 駟馬". Vấn đề chữ "mã 馬" thừa (?) không phải đặt ra. Copy từ: ĐTK [image]http://diendan.vnthuquan.net/upfiles/1124/25FCAAC916D34935B2217B4A813370F1.jpg[/image] Attached Image(s)
HongYen 01.12.2005 16:07:17 (permalink) ... Theo yêu cầu Anh ĐT Kiệt, tôi hỏi ông Tàu ( sinh trưởng ở thành phố Trường Xuân, tỉnh Liêu Ninh, vùng Đông Bắc nước Tàu ) làm cùng sở về ý nghĩa của "Tứ mã nan truy". Ông này ban đầu cũng nghĩ "Tứ mã" là xe tứ mã, nhưng sau khi về nhà tra Tử Điển Từ Hải và Hán Ngữ Đại Từ Điển, mới nhận là mình sai: 驷 đứng một mình có hai nghĩa: vừa là xe tứ mã, vừa là đoàn ngựa bốn con (kéo xe tứ mã) 驷马: chỉ có nghĩa duy nhất = đoàn ngựa bốn con kéo xe tứ mã Theo đó, cách hiểu thường tình Tứ mã nan truy = bốn ngựa khó theo xem ra lại đúng, trong khi cách hiểu "bác học" của những nhà Hán học uyên thâm như Đào Duy Anh, Trần Văn Chánh Tứ mã nan truy = xe bốn ngựa khó theo lại sai, hay ít nhất là nó không đúng theo Từ Hải. Nói thế không có nghĩa là chê bai gì ĐDA, TVC những học giả tôi rất khâm phục. Tôi chỉ nêu nghi vấn: có thể ĐDA, TVC sai trong cách giải thích này mà thôi. Chúng ta không nên đập hoài con ngựa đã chết (beating a dead horse). Shall we not? Thân mến Copy từ: Phạm Hải #58
QuietSoul 04.12.2005 03:00:38 (permalink) Trích đoạn: HongYen Copy: 1. Lương điền vạn KHUYNH, nhật thực nhất thăng hay là 2. Lương điền vạn KHOẢNH, nhật thực nhất thăng ĐỀU ĐÚNG, không ai sai, tùy người dùng. Đây là 2 VERSION hiện dùng ở China và Taiwan, Nếu dùng 1. thì thường không kèm theo câu đi theo (Đại hạ thiên gian.... Có nhiều VERSION của CỔ HUẤN thường dùng. Nguyễn Hữu VinhChào bạn, QS cũng đồng ý với bạn ThanhHuy, là nên dùng chữ "khoảnh 頃 " (thửa ruộng trăm mẫu) trong câu trên, thay vì chữ "khuynh 傾 " (nghiêng, dốc hết) Theo quyển Minh Tâm Bửu Giám của ông Trương Vĩnh Ký, thì hai câu: "Đại hạ thiên gian, dạ ngọa bát xích. Lương điền vạn khoảnh, nhật thực nhị thăng 大 廈 千 間 , 夜 臥 八 尺 良 田 萬 頃 , 日 食 二 升 xuất phát từ câu nói của ông Thiệu Khang Tiết, một hiền triết đời Tống bên Trung Quốc, có nghĩa là: Tuy có nhà lầu ngàn căn, nhưng ban đêm khi ngủ thì chỉ cần tám thước đất là đủ. Tuy có ruộng tốt trăm ngàn mẫu, nhưng mỗi ngày ăn chỉ có khoảng hai đấu gạo mà thôi. Thấy bạn HongYen thường trích các câu nói của bạn NguyenHuuVinh để trả lời những thắc mắc của các bạn khác, QS có cảm tưởng rằng bạn rất ngưỡng mộ bạn NHV. Tuy bạn NHV hiện đang sống ở Đài Loan nhưng đâu phải sự phân tích nào của ông cũng là đúng cả đâu? Biết bạn có lòng tốt, nhưng nếu cứ mang lời nói của các học viên trong lớp Hán Việt vào trong diễn đàn này hoài thì hình như không tốt gì cho lắm. Haylà bạn cứ mời họ vào đây thảo luận trực tiếp với anh chị em trong đây đi, bạn nghĩ sao? :) Vài lời góp ý, mong rằng không làm phiền lòng bạn. QS :) #59
HongYen 04.12.2005 03:50:28 (permalink) Kính QuietSoul (QS) Về bài Cổ Huấn Thật ra ban đầu HY tưởng rằng đó là những lời dạy cổ xưa cuả tổ tiên ta y như ca dao tục ngữ vậy. Khi Copy bài và Paste lên, đuợc thành viên Trương Củng bảo là cuả Trung Quốc. Vì HY vốn đâu có biết viết hay đọc chữ Hán Nôm; đang muốn học nghiã của những tiếng Hán Việt. NguyenHuuVinh (NHV) về những nhân vật mà HY copy là những người mà đã trả lời những câu thắc mắc nếu có. Tự HY đâu có biết gì về Cổ Huấn, nên không dám có ý kiến. Khi copy câu trả lời của ai hay copy từ đâu, HY luôn luôn ghi xuất xứ. Đa tạ QuietSoul đã quan tâm. Chúc QS vui với VNTQ. #60
Thay đổi trang: | Trang 4 của 5 trang, bài viết từ 46 đến 60 trên tổng số 63 bài trong đề mục
Chuyển nhanh đến: Chuyển nhanh đến - - - - - - - - - - [THÔNG BÁO] - - - - Thông Báo - - - - Hướng Dẫn Sử Dụng Diễn Đàn - - - - Thông báo lỗi của Diễn đàn - - - - - - - - Phòng đăng bài thử - - - - Thắc Mắc - Ý Kiến - - - - - - - - Diễn đàn guest [THƯ VIỆN VNTHUQUAN] - - - - Dịch Sách truyện cho Thư viện Online - - - - Bạn đọc yêu cầu - - - - Audio Truyện - Thơ - - - - - - - - Audio Truyện Ngắn - - - - - - - - Audio Truyện Dài - - - - - - - - Audio Thơ [VĂN HỌC] - - - - Văn - - - - - - - - Sách truyện tự sáng tác - - - - - - - - - - - - Tùy Bút - Tản Văn - - - - - - - - Sách truyện sưu tầm - - - - - - - - Truyện Tranh - - - - Thơ - - - - - - - - Thơ Sáng Tác - - - - - - - - - - - - Thơ Đường - - - - - - - - Thơ Sưu Tầm - - - - - - - - Thơ vui - - - - - - - - Ca Dao Tục Ngữ - - - - - - - - Đồng Dao - Vè - - - - - - - - Danh Ngôn - - - - - - - - Thơ dịch - - - - Tác giả - Tác phẩm Phòng Việt Văn - - - - - - - - Tác giả người Việt - - - - - - - - Tác giả người ngoại quốc - - - - Tác giả - Tác phẩm - Phòng Ngoại văn - - - - - - - - Tiếng Anh - - - - - - - - - - - - Truyện Tiếng Anh - - - - - - - - Tiếng Đức - - - - - - - - Tiếng Pháp - - - - - - - - Tiếng Hoa - - - - - - - - Tiếng Nga [NGHỆ THUẬT] - - - - ÂM NHẠC - - - - - - - - Nhạc sáng tác - - - - - - - - Nhạc tự trình diễn - - - - - - - - Nhạc phổ từ thơ Thành viên VNTQ - - - - - - - - Cổ Nhạc - - - - - - - - Lời bài hát - - - - - - - - Public Links - - - - - - - - Tin Tức Âm Nhạc - New Release - - - - - - - - Old Threads - - - - - - - - Cà Phê Thư Quán - - - - Hội Họa - - - - - - - - Tranh Sáng Tác - - - - - - - - Tranh Sưu Tầm - - - - Nhiếp Ảnh - - - - - - - - Ảnh Sáng Tác - - - - - - - - Ảnh Sưu Tầm - - - - - - - - Ảnh Lưu Niệm - - - - - - - - Kỹ Thuật Chụp Ảnh và Xử Lý Hậu Kỳ - - - - - - - - Máy Ảnh và Phụ Kiện - - - - - - - - Ảnh Khỏa Thân Nghệ Thuật - - - - Thủ Công Mỹ Nghệ + Điêu Khắc - - - - Sân Khấu - Điện Ảnh - - - - - - - - Sau Bức Màn Nhung - - - - - - - - Điểm Phim - Chuyện Màn Ảnh - - - - Thời Trang - Thẩm Mỹ - - - - - - - - Thời Trang Thiết Kế - - - - - - - - Y Phục May Sẵn - - - - - - - - Trang Sức - - - - - - - - Trang Điểm [ĐỜI SỐNG - XÃ HỘI] - - - - Gia Chánh Ngày Nay - - - - - - - - Hương Vị Việt Nam - - - - - - - - Mẹo Vặt - - - - Y khoa Thường Thức - - - - - - - - Sách - Tài Liệu Đông Y - - - - - - - - Sách - Tài Liệu Tây Y - - - - Du Lịch - - - - - - - - Phong Tục Tập Quán - - - - Khoa Học Huyền Bí - - - - Khoa Học Phổ Thông - - - - Kết Nối Những Tấm Lòng [GIAO LƯU - GIẢI TRÍ] - - - - Kết Bạn Bốn Phương - - - - - - - - Nhắn Tin - - - - - - - - Kim bằng hội ngộ - - - - - - - - Đôi Dòng Lưu Niệm - - - - Gỡ Rối Tơ Lòng - - - - - - - - Tâm Sự Bạn Gái - - - - - - - - Tâm Sự Bạn Trai - - - - - - - - Những Lá Thư Tình - - - - - - - - Chuyện Gia Đình - - - - - - - - Nhật Ký online - - - - - - - - Kinh nghiệm sống - - - - Lượm Lặt Đó Đây - - - - Trắc Nghiệm - - - - Hỷ Lạc quán - - - - - - - - Đố Vui - - - - - - - - Chuyện Cười - - - - - - - - Tranh Vui - - - - - - - - Phòng Tán Dóc - - - - Thể Thao - - - - Thú Tiêu Khiển - - - - Chúc Mừng - Cảm Tạ - - - - Phân Ưu [TIN HỌC] - - - - Hỏi Ðáp Tin Học - - - - Hướng Dẫn Lập trình - - - - Nhu Liệu - - - - Đồ Hoạ Vi Tính - - - - - - - - Photoshop - Hướng Dẫn - - - - - - - - Chương Trình Hổ Trợ Cho Phothoshop [CÁC CHUYÊN MỤC KHÁC] - - - - Phòng Lưu Trữ - - - - Quảng Cáo - Rao Vặt Thống kê hiện tại
Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc. Kiểu: Classic Mobile Original 2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9Từ khóa » Nhân Bần Trí đoản Mã Sấu Mao Trường
-
TÚI KHÔN CỦA NGƯỜI XƯA : TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN
-
Tăng Quảng Hiền Văn, Ngạn Ngữ Dân Gian Trung Quốc - Chuacole
-
GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ - Trang 61 - [THẾ GIỚI VÔ HÌNH]
-
Tăng Quảng Hiền Văn, Ngạn Ngữ Dân Gian Trung Quốc - Tri Âm Quán
-
Tiên Thiên Túc Mệnh Luận | Học Quán Sơn Chu
-
Hán Học Danh Ngôn
-
Thành Ngữ Tục Ngữ Hán Nôm Thông Dụng Nhất - Đào Viên Thi Các
-
Những Câu Danh Ngôn Hán Việt Thấm Nhuần Triết Lí Nhân Sinh
-
Những Câu Thơ Hay Bằng Tiếng Trung | Ý Nghĩa Nhất 2022
-
BỘ SƯU TẬP SÁCH HÁN NÔM - THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
-
NGUYEN VAN TRUNG
-
TCHN - Viện Nghiên Cứu Hán Nôm