NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
CON ĐƯỜNG TƠ LỤA
BÚT KÝ
Xa Mộ Kỳ
Người dịch: NGUYỄN PHỐ
----o0o---
12. HAI THỦ PHỦ XƯA VÀ NAY - JIMUSAR VÀ URUMQI
Thời Thịnh Đường, biên giới phía tây xa đến tận Hàm Hải. Để cai quản khu tây bắc rộng lớn ấy, triều đình nhà Đường đã thiết lập ở đây hai trung tâm chính trị quân sự: một là An Tây Đô hộ phủ, đặt tại nước Quy Tư (nay là huyện Khố Xa, Tân Cương), cai quản từ vùng Thiên Sơn đến địa phận phía nam sông Toái Diệp; và một là Bắc Đình Đô hộ phủ, đặt tại Đình Châu (nay là huyện Jimusar, Tân Cương), cai quản từ bắc Thiên Sơn đến khu đông bộ Hàm Hải.
THI NHÂN NGÂM VỊNH CỔ THÀNH NƠI BIÊN TÁI
Rời huyện lỵ Kỳ Đài men theo tuyến bắc của con đường tơ lụa, tôi tiếp tục tiến về phía tây chừng 37 cây số thì đến huyện Jimusar. Cát mộc và kim mãn (đầy vàng) hài âm với nhau (jimu - kinman). Sar (Tát nhỉ) tiếng Uygur có nghĩa là “thành lũy”. Tóm lại, Jimusar (Cát-mộc-tát-nhỉ) tức là “Kim mãn thành” (thành đầy cả vàng). Thời Đông Hán đã từng đóng quân ở thành Kim Mãn. Còn Đình Châu đời Đường chính là dựa trên cơ sở thành Kim Mãn đời Hán mà phát triển thêm, đến Trường An năm thứ II (702 CN), nữ hoàng Võ Tắc Thiên mới thiết đặt Bắc Đình Đô hộ phủ tại Đình Châu để cai quản vùng lãnh thổ bắc Thiên Sơn. Đó là một trong hai thủ phủ ở Tây Vực thời cổ đại. Tôi vốn ngưỡng mộ tiếng tăm Bắc Đình Đô hộ phủ từ lâu, nên khi vừa mới đến Jimusar, tôi liền lên xe đi thăm cổ thành. Địa sở cũ cách huyện lỵ 11 cây số về phía bắc, nay thuộc hai đội sản xuất của công xã Quốc Khánh. Đang là mùa hạ, ruộng tiểu mạch hứa hẹn một mùa bội thu, sự phát triển tốt đẹp đã làm vui lòng mọi người dân ở đây.
Tại di chỉ cổ thành, rải rác đây đó những đoạn tường xiêu vách đổ. Trèo lên góc tây bắc của đoạn tường thành đổ nát nhìn bốn chung quanh thì cổ thành này là một hình vuông có thể mang máng nhận ra. Thành phân ra nội ngoại hai vòng: vòng thành ngoài có châu vi chừng 5000 mét. Bước qua khỏi một cái động dùng làm cổng thành thì vào đến nội thành, ở đây khắp nơi đều thấy những gạch bể, ngói vụn.
Trước giải phóng đã từng có người ngoại quốc đến đây đào bới khai quật bất hợp pháp. Nắn 1973, đội công tác văn vật Trung Quốc đã tìm được một con dấu bằng đồng tại nội thành và phát hiện ra gạch hoa hình vuông có hoa văn hình bông sen, một đặc điểm trang trí trên gạch đời nhà Đường, thêm vào đó còn có tiền đồng có khắc “Khai nguyên thông bảo”, “Càn Nguyên trọng bảo” (Nhà Đường). Tại đây, chúng tôi gặp đội khảo cổ thuộc phòng khảo cổ Trung Quốc đang khai quật, hy vọng họ có thêm những phát hiện mới.
Khu cổ thành này, qua khảo sát, nghiên cứu, các chuyên gia, họ đều nhất trí xác nhận là khu hành chính của Bắc Đình đô hộ phủ.
Tôi đứng trên thành trông vời bốn phía nam là dãy Thiên Sơn dài ngàn dặm, bắc là sa mạc Gôbi mênh mông vô tận, đông có một con sông nhỏ, bên kia là sông là con đường xưa quanh co uốn lượn chạy dài theo hướng Barkol. Đúng là “Cô thành Thiên bắc bạn, Tuyệt vực Hải tây đầu” (nghĩa là thành lũy lẽ loi bên bờ bắc Thiên Sơn, vùng đất tận cùng tại phía tây Hãn Hải).
Đó là mấy câu thơ của Sầm Tham đời Đường sáng tác khi đến nhậm chức ở Bắc Đình. Thơ nói về biên tái của ông có nhiều bài đề cập đến Bắc Đình và Luân Đài thuộc Đình Châu. Dưới ngòi bút của ông, thế giới băng tuyết ở biên cương phía bắc được miêu tả một cách rất chân thật, ví dụ như đoạn thơ sau đây:
“Bắc phong quyển địa bạch thảo triết,
Hồ thiên bát nguyệt khước phi tuyết.
Hốt như nhất dạ xuân phong lai ,
Thiên thu vạn thụ lê hoa khai.
Tán nhập chu liêm thấp la mạc,
Cô cừu bất noãn cẩm khâm bạc.
Tướng quân giác cung bất đắc khống,
Đô hộ thiết y lĩnh nan trước.
Hãn hải lan can bách trượng băng,
Sầu vân thảm đạm vạn lý ngưng.
Trung quân tri tửu ẩm quy khách,
Hồ cầm tỳ bà dữ Khương địch.
Phân phân mộ tuyết há viên môn,
Phong xiết hồng kỳ đống bất phiên …”
Tạm địch: Gió bắc thổi quét sát mặt đất, cây cỏ gãy liệt, trời xứ hồ tháng Tám đã có tuyết rơi. Bỗng một đêm gió xuân về, ngàn vạn cây lê hoa nở rộ. Tỏa lan vào phòng làm ướt màn lụa. Áo đơn không đủ ấm, lại thêm chăn gấm mỏng. Cung nỏ tướng quân bị đóng băng cứng không rút ra được, áo giáp sắt của quan đô hộ lạnh đến nỗi rất khó mặc. Dọc ven hành năng bờ Hãn Hãi băng đóng dài hàng trăm trượng. Mây buồn áo não ngưng đọng ngoài ngàn dặm. Trong quân mở tiệc rượu đãi khách trở về, tiếng đàn tỳ bà xứ Hồ, cùng tiếng sáo đời Khương tấu xướng. Trời chiều tuyết rơi ào ào ngoài cổng trại quân, đến nỗi cờ hồng treo trên đó cũng đóng băng cứng, gió không lay động nổi.
Xem thế, ngay cả quân kỳ treo trước cổng trại cũng bị đông cứng không thể tung bay trước gió thì ta có thể tưởng tượng chân tay tướng sĩ tê lạnh biết chừng nào. Từ đó ta liên tưởng đến tình cảnh người chiến binh thời xưa ở chốn biên cương chịu gian nan vất vả đến thế nào trong việc thống nhất Tây Vực, duy trì và bảo vệ sự thông thương của con đường tơ lụa. Rõ ràng họ đã lập công to trong sự chinh phục khu tây bắc.
CUỘC ĐẤU TRANH THÔNG NHẤT TÂY VỰC HƠN 1300 NĂM TRƯỚC
Việc thiết lập An Tây Đô hộ phủ và Bắc Đình Đô hộ phủ đánh dấu sự nghiệp to lớn của nhà Đường. đối với sự thống nhất Tây Vực. Có một thời việc gian thương đông - tây trên con đường tơ lụa bị gián đoạn nay mới được khôi phục và còn đạt đến trình độ phồn thịnh mà trước đó chưa từng có. Điều này có được là nhờ vua quan nhà Đường đã trải qua nhiều năm tranh đấu, tiêu diệt sự quấy nhiễu của người Tây Đột
Quyết. Thời Tùy - Đường, Tây Đột Quyết thường hay uy hiếp Tây Vực giống như người Hung Nô đối với thời Lưỡng Hán.
Đột Quyết là một dân tộc du mục cổ lão ở trên các sa mạc phía bắc Trung Quốc, trước khi đã từng liên minh Với bộ lạc Hung Nô, sau bộ lạc này giải thể mới bắt đầu dùng tên gọi “Đột Quyết” và xuất hiện trên vũ đài lịch sử Trung Quốc. Vào khoảng năm 552 CN, nước Đột Quyết thành lập, nhưng không lâu sau đó lại bị phân liệt thành Đông Đột Quyết và Tây Đột Quyết.
Tây Đột Quyết khống chế một khu vực rộng lớn từ bắc Thiên Sơn, Tây A Nhĩ Thái Sơn đến đông Hắc Hải. Vào thời cực thịnh của Tây Đột Quyết thì một số nước nhỏ ở Nam Thiên Sơn đều bị họ khống chế hoặc uy hiếp.
Tây Đột Quyết và chính quyền trung ương nhà Đường có mối quan hệ thân thuộc. Nhiều đời vua Tây Đột Quyết chịu nhận sắc phong của vua Đường và hàng năm về triều tiến cống. Sứ giả ngoại quốc gọi người Tây Đột Quyết là người Trung Quốc và cho rằng lãnh thổ phía tây của tây Đột Quyết là cương vực tây bộ của Trung Quốc. Thế nhưng Tây Đột Quyết lại dùng quân cát cứ, đôi khi làm loạn, thậm chí còn đem quân đánh lại nhà Đường.
Là một bộ lạc du mục, nên sự thống trị của Tây Đột Quyết ở Tây Vực cực kỳ dã man. Họ cướp bóc lương thực, súc vật của các nước nhỏ, đốt phá làng mạc, thành quách, bắt bớ tù binh, nô lệ. Thương khác lai vãng trên con đường to lục đôi khi cũng bị uy hiếp, cướp đoạt. Tây Đột Quyết còn mưu đồ lũng đoạn việc buôn bán tơ lụa của Trung Quốc với phương Tây đến nỗi phá vỡ mối quan hệ hòa mục của người Ba Tư. Hàng loạt những hành động bạo ngược của Tây Đột Quyết đã làm trở ngại sự tiến bộ của Tây Vực và sự phồn vinh của nền giao thương của phương Tây.
Sau khi nhà Đường thống nhất Trung Nguyên, các tiểu quốc ở Tây Vực và các quốc gia Tây Á tấp nập cử sứ thần về triều yêu cầu nghiêm trị bọn Tây Đột Quyết để khôi phục con đường tơ lụa.
Thế là trước hết nhà Đường đem quân tiểu trừ lực lượng tây Đột Quyết ở nam Thiên Sơn, vào năm 658 CN, nhà Đường đặt An tây Đô hộ phủ tại Quy Tư, xác lập vị trí vững chắc của chính quyền trung ương tại đây.
Sự kiện này khiến Tây Đột Quyết cát cứ ở bắc Thiên Sơn phải chấn động. Tù trưởng bộ lạc A-sử-na-hạ-lỗ không đánh mà hàng, đích thân đến Trường An triều kiến Đường Thái Tông và xin thần phục. Đường Thái Tông bèn lập Dao Trì Đô đốc phủ tại bắc lộ Thiên Sơn, giao A-sử-na-hạ-lỗ làm đô đóc, đóng trú sở tại Đình Châu (nay là Jimusar).
Đường Thái Tông dùng chính sách “dĩ di trị di” (lấy người di trị người di), công lớn hoàn thành, nhà vua cảm khái trong lòng nói: “Bốn biển đã yên, nghiệp đế đã vững, trẫm nay vui quá!”.
Thực ra, A-sử-na-hạ-lỗ rất xảo quyệt, nấp dưới ngọn cờ của nhà Đường, từ trong nội bộ của bộ lạc, hắn ta đã tự gây dựng thế lực, chờ ngày đủ lông đủ cánh nổi dậy xưng vương, dời đô đến lưu vực sông Y Lê, đồng thời lần nữa đem binh tiến đánh nhà Đường.
Sau khi ảo tưởng về một nền hòa bình thống nhất Tây Vực của nhà Đường bị phá vỡ, bắt đầu từ năm 652, nhà Đường nhiều lần đem binh đánh giáp công A-sử-na-hạ-lỗ từ hai cánh nam bắc, rồi tổng công kích tại lưu vực sông Y Lê; A-sử-na-hạ-lỗ đại bại đào thoát về phía tây, chạy thẳng đến Thạch Quốc và bị người Thạch Quốc bắt đem giao cho quân đội nhà Đường. Từ đó, Tây Đột Quyết xưng hùng xưng bá ở Tây Vực bị diệt vong, nhà Đường hoàn thành công cuộc thống nhất Tây Vực vào năm 657 CN.
Nhà Đường thiết lập hai Đô hộ phủ ở Côn Lăng và Mông Trì tại bắc lộ Thiên Sơn, phân chia việc cai trị lãnh thổ vùng tây sông Toái Diệp. Năm 702, để tăng cường sự thống trị tại Bắc Lộ Thiên Sơn, nữ hoàng Võ Tắc Thiên lập Bắc Đình Đô hộ phủ ở Đình Châu, quản hạt luôn hai Đô hộ phủ Côn Lăng và Mông Trì với số binh sĩ hơn hai vạn.
Nhờ sự thiết lập Bắc Đình Đô hộ phủ mà con đường thông vãng đông-tây ở bắc Thiên Sơn lại được khai thông. Sau khi khách thương trên con đường tơ lụa ra khỏi Đôn Hoàng, không những có thể theo tuyến năm và tuyết bắc từ sa mạc Taklamacan đi về phía tây mà còn có thể qua Barkol, Bắc Đình đi thẳng đến lưu vực sông Y Lê tiến lên phía tây để đến Ba Tư.
MỤC TRƯỜNG XINH ĐẸP - THỦ PHỦ CỦA KHU TỰ TRỊ
Rời Jimusar tiếp tục men theo chân núi phía bắc Thiên Sơn tiến về phía tây, đường đi toàn cát phẳng mênh mông, hoang vu không người. Khi qua đây, tôi nghĩ ngay đến mấy câu thơ của Sầm Tham đời Đường: “Luân đài cửu nguyệt phong dạ, nhất xuyên tái thạch đại như đấu, tùy phong mãn địa thạch loạn tẩu” (nghĩa là ban đêm thánh chín ở Luân Đài gió gầm rú, cả một vùng đá lăn lóc to như cái đấu cũng theo gió thổi bay chạy lung tung). Luân Đài vào đời Đường thuộc Đình Châu, theo sử sách ghi chép thì cách phía tây Đình Châu chừng 400 dặm, ước chừng ngày nay là vùng gần Urumqi; lúc Sầm Tham đến nhậm chức ở Bắc Đình có lẽ ông thường đến Luân Đài. Căn cứ vào những bài thơ của Sầm tham trong tập “Toàn Đường Thi”, có đến mười chỗ ông nói về Luân Đài. Có người ngộ nhận xem Luân Đài đời Đường cũng là Luân Đài gần Đô hộ phủ Tây Vực đời Hán, có vị trí tại phía đông huyện Khố Xa thuộc Nam Cương ngày nay. Thế là họ không biết rằng tên gọi Luân Đài đời Đường tuy lấy nguồn gốc Luân Đài đời Hán, nhưng vị trí địa lý của hai nơi này lại rất xa nhau. Sầm Tham trong bài “Phó Bắc Đình độ Lũng tư gia” (Đi Bắc Đình qua Lũng Sơn nhớ nhà) có viết:
“Tây hướng Luân Đài vạn lý dư,
Dã tri hương tín nhật ưng sơ.
Lũng Sơn anh vũ năng ngôn ngữ,
Vi báo gia nhân số kí thư”.
Tạm dịch: Luân Đài ở phía tây xa xôi vạn dặm, nên tin thư ở quê nhà ngày một thưa; trên núi Lũng Sơn chim anh vũ hay thóc mách nhắn nhe là người nhà sẽ gửi nhiều tin thư đến để báo tin đấy!
Trên đường nhà đi Bắc Đình, nghĩ đến “tây hướng Luân Đài” ý muốn chỉ Luân Đài thuộc Bắc Đình Đô hộ phủ mà hiện nay là khu vực bắc Thiên Sơn. Rất tiếc, ngày nay không ai phát hiện ra di chỉ của Luân Đài cả nên tôi cũng thể nào tìm cho ra ý cảnh trong câu thơ “Luân Đài thành đầu dạ xuy giác” (trên thaàh Luân Đài đem khuya nghe tiếng tù và thổi).
Trên đường đi, ngang qua ngọn núi tuyết Bogda tráng lệ thì lát sau sẽ đến thành phố Urumqi. Ngày nay, Urumqi là trum tâm văn hóa kinh tế, chính trị của khu tự trị người Uygur ở tân Cương. Urumqi dịch âm tiếng Mông Cổ có nghĩa là “mục trường xinh đẹp”. Thời cổ đại, con đường tơ lụa thông suốt thì ở đây là vùng thảo nguyên mênh mông. Thế nhưng ngày nay những người muốn tìm hiểu lịch sử của con đường tơ lụa trước hết ai cũng phải đến Urumqi để nghỉ ngơi, chuẩn bị những gì cần thiết cho chuyến đi dài.
Xuất phát từ Ha Mật men theo tuyến bắc của con đường tơ lụa đi về phía tây. Lần thứ hai tôi đến thành phố này. Lần trước, tôi đi máy bay từ Bắc Kinh đến. Lần đi ấy đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc đến nay tôi vẫn còn nhớ rõ.
Tôi còn nhớ hôm trước khi máy bay cất cánh từ Bắc Kinh, tôi được thưởng thức màn độc tấu “hắc quản” bài “Ca ngợi Thiên Sơn” trong đêm nhạc hội do viện âm nhạc trung ương tổ chức. Các giai điệu như mộng ảo kia đã khiến tôi say mê. Trên chuyến bay ngàn dặm đi Urumqi này, trên trời không một áng mây; nhìn xuống đất, cảnh vật như hiện ra trước mắt. Máy bay lướt qua Vạn lý Trường thành, qua sa mạc Gôbi, qua Gia Dụ quan rồi vào địa phận Tân Cương. Tôi ngủ gật một thoáng và khi tỉnh ra thì trước mắt tôi hiện ra ngọn núi tuyết Bogda tráng lệ, thần kỳ. Từ không trung, nhìn xa xa về ngọn núi trứ danh độc đáo ấy của dãy Thiên Sơn. Tôi kinh ngạc tự bảo: “Giấc mộng đi Tây Vực của mình cuối cùng đã trở thành hiện thực đấy chăng?”
Vào thời cổ đại, Tây Vực dùng để chỉ vùng đất rộng lớn ở về phía tây Đôn Hoàng, nó chiếm một khu vực trọng yếu vừa rộng vừa dài, đó là vùng nam bắc dãy Thiên Sơn và đông tây dãy Thông Lĩnh. Ngày nay lấy Urumqi làm thủ phủ khu tự trị của người Uygur ở Tân Cương, đúng là vùng đất trung tâm của Tây Vực thời cổ đại.
DU LỊCH TRÊN KHÔNG BAY QUA CON ĐƯỜNG TƠ LỤA
Trong phòng đợi rộng thoáng bề thế của sân bay Urumqi, du khách qua lại nhộn nhịp, đông vui. Những phụ nữ người Uygur ăn mặc hoa lệ đi tới như đàn bướm lượn làm mọi người chú ý, còn đám thanh niên người Hazak chân mang giày cao cổ, để ria mép hình chữ bát trông thật oai nghiêm. Trong phòng, tiếng cười nói râm ran, nhiều nhất là tiếng Uygur và tiếng Hazak, thanh âm trầm bổng, ngừng - nói vô chừng, còn tôi là một người hoàn toàn xa lạ. Tôi tìm đến một nữ phục vụ người Hán nói chuyện, nhưng nhận thấy ngay giọng nói của nàng rất lạ thường, nhưng rất êm tai. Sau này tôi mới biết đó là thứ tiếng Hán lai ngữ điệu tiếng Uygur, người ta gọi là tiếng Tân Cương. Một địa phương có nhiều dân tộc cư trú, người ta sẽ dễ nhận ra ảnh hưởng của nhau trên nhiều phương điện khác nhau.
Nhìn bảng chỉ dẫn các chuyến bay, Urumqi không những có các chuyến bay đi Bắc Kinh, Thượng Hài, Lan Châu mà còn có những chuyến bay định kỳ đến mười thành phố trong khu tự trị như Ha Mật, Hòa Điền, Khố Xa, Y Lê, Thả Mạt v.v... Đó chẳng phải là những nước nằm trên con đường tơ lụa cổ đại như Sơ Lặc, Vu Điền, Quy Tư, Ô Tôn, Thả Mạt... đó sao? Tôi thầm nghĩ nếu muốn nhanh hơn, ta có thể đu lịch trên không bay qua con đường tơ lụa để tránh sự lặn lội khổ nhọc qua một chặng đường dài trên đất liền. Như người ta nói đường đi Thả Mạt chẳng hạn bị cách trở bởi sa mạc, nên đến nay người ta vẫn còn sợ không dám đi. Nhưng khi tôi đến Urumqi thì Thả Mạt vừa có tuyến hàng không, thế thì tại sao mình không đi thử nhỉ? Ồ, nhưng tôi đổi ý ngay vì tôi muốn khảo sát thực địa của con đường tơ lụa, chính mình phải đích thân thể nghiệm một lần nữa sự gian khổ trong việc khai mở con đường giao thương giữa đông và tây của người xưa, vậy đi đường bộ là hay nhất.
Mỗi tuần, phi trường Urumqi có sáu mươi sáu chuyến bay, hàng năm chuyên chở hơn mươi vạn hành khách, trọng lượng hàng hóa khoảng hơn 1500 tấn. Nó là trạm hàng không quan trọng của đường bay quốc tế ở nước ta đi các nơi như Karachi, Téhéran, Frankfurt, Paris... Từ đó, ta có thể thấy Urumqi có một vị trí đặc biệt trên “con đường tơ lụa ngày nay”.
“BA TRÁT” VÀ QUANG CẢNH PHỐ PHƯỜNG
Đi sâu vào các khu thị tứ mới thấy thành phố ở đây khác với thành phố ở Trung Nguyên, nó mang sắc thái Tây Vực rất rõ nét. Hai bên đường phố lớn có nước chảy róc rách dùng để tưới những cây dương đen. Giữa ngày trời nắng, ta có thể ngồi dưới bóng cây hoặc bên bờ nước thật là mát mẻ. Y phục đầy màu sắc của phụ nữ làm tăng thêm vẻ tươi đẹp trên đường phố. Những ai cho trang phục ở Bắc Kinh, Thượng Hải là đơn điệu thì tại Urumqi này sẽ cảm thấy hài lòng. Có một số kiến trúc mái vòm sơn màu xanh lục, có tâm nhọn, cổng hình cánh cung. Ở cửa nam khu cổ thành có xây một nhà hát tân thời vừa trang trọng vừa xinh đẹp với phong cách kiến trúc Trung
Á. Có một nơi mà người bản xứ gọi là “ba trát” (khu họp chợ) thì đó là khu buôn bán. Có cửa hàng bán thịt dê nướng, cơm bốc, nem nướng, bánh bao ... Những hương vị độc đáo đó làm tôi nhớ lại buổi đi dạo qua một “ba trát” ở Tamashica hơn hai mươi năm trước. Tôi bước vào một tiệm bán nhạc cụ, bề ngoài trông có vẻ sơ sài, cô bán hàng người Uygur mặc áo lụa, niềm nở tiếp đón. Trong tiệm treo đầy các loại nhạc cụ dân tộc thiểu số, hình dáng rất kỳ lạ nhưng rất đẹp mắt. Rất nhiều nhạc cụ có khảm xà cừ, đá quý, hiện rõ nét hoa văn tinh tế. Điều này khiến tôi nhớ lại lần đi du lịch Trung Đông có mua đem về một hộp gỗ nhỏ trên đó người ta khảm hoa văn cách điệu trông rất giống hoa văn khảm trên các nhạc cụ ở đây.
Cư dân Urumqi hiện nay khoảng hơn tám mươi vạn người. Ngoài thành phần chiếm đa số là người Uygur còn có các dân tộc anh em như Hồi, Hazak, Mông Cổ, Kirgiz, Hán ...
Hơn hai ngàn năm trước, chu vi mục trường Urumqi bao gồm các nước Ty Lục, Đơn Hoàn, Đông Thả Nhĩ, Tây Thả Nhĩ, tức là các “hành quốc” (nước di chuyển) của các bộ lạc du mục đi tìm nguồn nước và cỏ để chăn thả và cư trú; nhân khẩu tổng cộng khoảng hơn 4000 người. Bấy giờ, tại Tây Vực thì số dân như vậy xem ra tương đối nhiều. Qua hàng ngàn năm biến đổi, lần hồi có dân du mục người Đột Quyết, người Mông Cổ, người Hồi Cất tiếp nhau tiến vào lưu vực sông Urumqi. Người Hồi Cốt vốn là tổ tiên của người Uygur chiếm đa số ở Tân Cương. Họ xuất hiện sớm nhất vào khoảng đầu thế kỷ thứ V CN tại mạn bắc Thiên Sơn, nhưng phần lớn định cư tại
Tây Vực thì phải đến thế kỷ thứ IX. Cuộc sống của các giống dân du mục tại lưu vực sông Urumqi là “không xây thành quách, nhà cửa, không có chỗ ở nhất định, cho thuận theo thời tiết, tìm nơi có nguồn nước và cỏ chăn thả bò ngựa làm kế sinh nhai”. Do đó, khách thương lai vãng trên con đường tơ lụa khi qua sông Urumqi thường không thấy nhà cửa, thành quách. Phải đến thế kỷ thứ XVIII nhà Thanh mới bắt đầu xây đựng doanh trại quân đội ở đây và dần dần phát triển thành thị phố xá lớn vào bậc nhất tại Tân Cương.
Urumqi “nằm ở chân núi bắc Thiên Sơn, có đường thông thương các nơi”. Phía đông là dãy Bogda của hệ Thiên Sơn; phía nam là núi Ky~nhĩ-cổ-tử, giữa hai dãy núi hình thành một vùng đất trũng, nam bắc dài chừng 120 cây số, đông tây rộng chừng 20 cây số. Vùng trũng này giống như một dải áo nối đến lòng chảo Chuẩn Hát Nhĩ của bắc Tân Cương với lòng chảo Tolophan cửa nam Tân Cương, nó còn giống một con dao lớn như muốn cắt ngang sống lưng của dãy Thiên Sơn ra làm đông tây hai đoạn. Khu vực chính của Urumqi nằm ở phía bắc của vùng trũng, núi non bao bọc, sông nước vây quanh. Với vị trí ưu đãi như vậy, Urumqi trong điều kiện lịch sử nhất định sẽ phát triển thành trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của cả vùng Tân Cương rộng lớn.
CƠN SỐT VỀ CON ĐƯỜNG TƠ LỤA
Vào thời kỳ mà con đường tơ lụa thông thương, thì Urumqi chưa xuất hiện, nhưng đến nay nó lại là địa điểm quy tụ của nhiều tổ chức đoàn thể tạo thành một cơn sốt về con đường tơ lụa.
Vừa đến nhà khách Urumqi thì thấy nhóm săn tin của tờ “Họa báo Nhân dân” đang chớp ảnh. Họ nói với tôi Đài Truyền hình Bắc Kinh và Hội Liên hiệp Phát thanh Nhật
Bản phái họ đến hoạt động trước ở Urumqi. Phân xã Tân Cương của Tân Hoa xã chuẩn bị đón tiếp đoàn tìm hiểu con đường tơ lụa của thông tấn xã Nhật Bản. Tân Hoa xã cũng phái ký giả của mình đến thu lượm tin tức. Du khách các nước đều dùng chiêu bài đoàn lữ hành tham quan con đường tơ lụa cũng ùn ùn kéo đến. Các lữ quán ở Urumqi lo không đủ chỗ cho khách. Ngoài ra, giới nghiên cứu lịch sử của Urumqi đang chuẩn bị hội thảo có tính cách học thuật về con đường tơ lụa lần đầu tiên kể từ khi lập quốc đến nay. Tôi có gặp mấy vị học giả đã chuẩn bị đầy đủ cho các chuyên luận của mình.
Bị cuốn hút vào cơn xoáy rầm rộ của phong trào tìm hiểu con đường tơ lựa, Viện Bảo tàng Tân Cương trở nên rộn rịp. Phó viện trưởng Lý Ngẫu Xuân bận đón tiếp khách trong và ngoài nước suốt ngày. Ông làm công tác khảo cổ ở Tân Cương đã hơn 25 năm nay. Khi tiếp tôi, ông sôi nổi hào hứng nói là ông đã bỏ ra nhiều năm để viết các báo cáo về công tác khảo cổ và các luận văn mang tính học thuật nhưng chưa công bố, trong đó có những bộ nghiên cứu về hang động ở Tân Cương và nhiều bài khảo sát về các di chỉ cổ thành.
Tôi nói:
- Kết quả của các công trình nghiên cứu ấy rất đáng quý, đối với chúng tôi việc làm đó khiến những người có tâm huyết với con đường tơ lụa phải theo đuổi.
Ông khiêm tốn nói:
- Còn chưa được hoàn chỉnh lắm. Tôi đang chuẩn bị đi tìm hiểu thêm nữa.
Mở tấm bản đồ Tân Cương ra, ông lấy tay vạch một vòng quanh sa mạc Taklamacan ở phía nam Tân Cương rồi nói:
- Tôi rất muốn theo dấu chân của các thương nhân thời cổ lại đi một vòng xem sao?
- Tôi nghĩ thầm: “Hay lắm! Việc đó đáng làm lắm!”. Dọc đường có biết bao nhiêu di chỉ cổ thành và chùa hang động rên con đường tơ lụa ấy. Nếu có ông ta dẫn đường, chỉ điểm thì lý tưởng biết chừng nào.
Thế là tôi không để lỡ cơ hội, đưa ra yêu cầu:
- Nếu anh đồng ý, tôi xin tình nguyện đi theo anh.
Ông lắc đầu và nói:
- Không, chúng ta phải là bạn đồng hành chút.
Về sau, tôi và tay ký giả nhiếp ảnh quả có đi một vòng sa mạc Taklamacan, hành trình ước chừng 4000 cây số. Tuy trước sau chúng tôi không cùng đi một đường với Lý Ngẫu xuân, nhưng tôi cũng đã cưỡi lạc đà đi với ông một đoạn đường dài 70 cây số trong sa mạc để tìm hiểu cổ thành đời Đường bị sa mạc chôn vùi, thật là một cuộc tương ngẫu đầy thú vị mà cả đời rất khó gặp. Về chuyến đi này, tôi sẽ nói rõ sau.
BẢN KHẮC ĐÁ VÀ GIẤY THÔNG HÀNH
Dưới đề mục Con đường tơ lụa, viện bảo tàng Tân Cương trưng bày nhiều văn vật quý báu. Những hiện vật quý hiếm ấy là thành quả của những người làm công tác khảo cổ Tân Cương đã mất nhiều năm lao động cần mẫn, gian khổ. Xem qua một lượt, ta chọn mấy hiện vật có ý nghĩa nhất để giới thiệu.
Đối với thực tế lịch sử, triều đại nhà Hán đã hết sức duy trì bảo vệ con đường tơ lụa, Bài tụng ở đình ghi công Lưu Bình Quốc (Lưu Bình Quốc tác đình tụng) (bản dập lại) để lại một bằng chứng không còn nghi ngờ gì nữa.
Nguyên văn được khắc trên vách đá hang núi Bozeklak (Bác giả khắc la khắc) ở đông bắc huyện Bái Thành, nam Tân Cương. Bài tụng kiểu chữ lệ, khắc lõm, dạng chữ nắn nót, rõ ràng dễ nhận, cả thảy có 101 chữ.
Nội dung của bản khắc đá trên là: “Tả tướng quân Lưu Bình Quốc nước Quy Tư” suất lĩnh một số “người Tần” (tức ý chỉ người Hán) như Mạnh Bá Sơn, Địch Hổ Bôn, Triệu Đương Ty v.v... đi đục đá ở hang núi Bozeklak, lập cửa ải, kiểm tra lữ khách. Năm khắc bản đá là Vĩnh Thọ năm thứ tư Tuyên Đế đời Đông Hán, tức năm 158 CN.
Người làm công tác khảo cổ Trương Bính Hoa nói với tôi là hang núi Bozeklak ở huyện Bái Thành là đường thông thương từ nam Tân Cương vượt Thiên Sơn đến lưu vực sông Y Lê ở bắc Tân Cương, mà vào thời cổ đại là cửa khẩu thông vãng giữa nước Quy Tư và nước Ô Tôn. Khe núi này rộng chỉ khoảng 6 mét 7, hai bên là vách đá dựng đứng, rõ ràng là một cửa ải trọng yếu. Đến nay dưới vách đá vẫn có thể thấy hốc đá sâu hơn một mét. Gần bản khắc đá còn có di chỉ lũy đá của thời cổ đại phía đồng bằng ngoài khe núi có một cổ thành bỏ hoang.
Liên kết các di chỉ nhìn thấy ở bên ngoài với nội dung bản khắc đá mà phân tích thì thấy cuối đời Đông Hán, nhà nước trung ương phái tả tướng quân Lưu Bình Quốc trú đóng ở nước Quy Tư suất lĩnh thợ xây thành ải núi Bozeklak để bảo vệ giao thông an toàn.
Bản khắc đá còn chứng minh là vào đời Hán có một con đường núi đi từ nam Tân Cương vượt Thiên sơn để đến lưu vực sông Y Lê ở bắc Tân Cương. Có thể nói đó là một chi tuyến của con đường tơ lụa.
Tại viện bảo tàng Tân Cương, tôi thấy có một số giấy thông hành dùng để đi lại trên con đường tơ lụa thuộc đời nhà Đường, lúc bấy giờ gọi là “quá sở” (tương tự như visa ngày nay), đọc kỹ những chữ ghi trên những tờ giấy thông hành ấy cũng rất thú vị.
Có một tờ “quá sở” của nhà buôn người Tây Châu (nay là Tolophan) tên là Thạch Nhiễm Điển. Ông ta giữ giấy thông hành đi Qua Châu (nay là huyện An Tây, Cam Túc), buôn bán trở về, trên đó có ký tên và lời phê của các viên quan châu, huyện, thủ tróc nơi đương sự đã đi qua, đồng thời đăng ký địa điểm và thời gian dọc đường nơi phải qua. Trên tờ thông hành ấy người ta có thể thấy rõ chữ ký và dấu triện của viên chế sử Y Châu (nay là Ha Mật) là Trương Tân đồng thời có phê hai chữ “nhậm khứ” (được phép đi) nữa.
Lại có một tờ “quá sở” khác của Mễ tuần chức người Đình Châu (nay là Jimusar) đi Tây Châu (nay là Tolophan) còn giữ được trên đó viết: “Tuần chức nay đem các nô tỳ X, X ... kể ra dưới đây ... muốn đến Tây Châu buôn bán, nhưng ngại đồn sở tại không cho phép nên kính quý ông xét ...” và đoạn văn dưới đây là lời phê của quan viên: “Người dân tuần chức X được phép đi Tây Châu buôn bán, mong đồn sở tại xem xét”. Những giấy “quá sở” trên đều khai quật được từ các ngôi cổ mộ thuộc đời Đường ở Tolophan. Căn cứ vào những tờ “quá sở” ấy ta thấy vào đời nhà Đường, việc kiểm tra thương khách lai vãng trên con đường tơ lụa được tiến hành một cách nghiêm ngặt, đúng mực .
“Quá sở” là tờ văn kiện chứng minh không thể thiếu được đối với những lữ khách thời bấy giờ. Phàm lữ khách không mang theo giấy “quá sở” thì không thể đi lại được. Người xin giấy “quá sở” phải trình báo đầy đủ lai lịch bản thân, nói rõ số nô tỳ đem theo và các đặc điểm, các cửa ải mình sẽ đi qua và lý do xin đi. Sau khi trình báo, hương lý phải kiểm tra lại rồi chứng nhận mới lần lượt trình lên cấp trên. Và cuối cùng phải được phê chuẩn cấp phép mới được đi lại.
Ngày nay, căn cứ vào các địa danh ghi trên “quá sở”, người ta có thể kiểm tra được lộ tuyến của con đường tơ lụa cổ đại. Đây là một vấn đề được giới học thuật thường tranh luận. Ví dụ, con đường tơ lụa ngày xưa có đi qua Lan Châu không thì giới học thuật có cách nhìn nhận mỗi người một khác. Tôi đã đưa ra một số tài liệu nói rõ Lan Châu là nơi con đường tơ lụa có đi qua, ở đây có một tờ “quá sở” cung cấp thêm bằng chứng xác đáng cho lời quả quyết trên.
Đường Mạnh Khiêm người Tây Châu (nay là Tolophan) có người chú đang nhậm chức tại Phúc Châu, ông xin đem nô tỳ và ngựa từ Tây Châu đến Phúc Châu cho người chú. Nhà đương chức cấp cho ông giấy “quá sở” trên đó ghi rõ các trạm kiểm soát phải qua là Ngọc Môn, Kim Thành ... Đường Mạnh Khiêm từ Tây Châu đến Phúc Châu tất phải qua Kim Thành mà ngày nay chính là Lan châu. Điều này chỉ rõ rằng Lan Châu dưới đời nhà Đường là thành phố mà con đường tơ lụa đã đi qua.
TƠ LỤA NGÀY XƯA KHIẾN NGƯỜI TA PHẢI LÓA MẮT
Tại phòng triển lãm viện bảo tàng Tân Cương, điều khiến người ta tán thưởng nhất là màu sắc tươi đẹp của các thứ tơ lụa khai quật được. Tôi đi từ Tây An qua một chặng đường dài, bất luận ở Thiểm Tây hay Cam Túc nơi có con đường tơ lụa đi qua thì không nơi nào có lượng tơ lụa nhiều, với màu sắc hoa văn tinh tế xinh đẹp như ở đây. Nếu không phải chính mắt mình trông thấy thì thật khó tin, nghĩa là từ thời Đông Hán (năm 25 - 220 CN), thời Đường (618 - 907) xa xưa, tơ lụa được truyền lại đến nay vẫn còn giữ được màu sắc tươi đẹp đến như thế.
Số hiện vật đem triển lãm ấy một mặt phản ánh tình hình buôn bán tơ lụa thịnh vượng diễn ra trên con đường tơ lụa, mặt khác còn cho thấy trình độ nghề dệt, nhuộm và in hoa của người Trung Quốc cổ đại thật là cao siêu. Qua nghiên cứu của các nhà chuyên môn, người ta còn phát hiện ra bóng dáng của sự giao lưu văn hóa đông tây qua cách dệt và cách trình bày hoa văn:
Ông Lý Ngẫu Xuân nhắc tôi chú ý là vào năm 1959, tại huyện Dân Phong nam Tân Cương, ông đã phát hiện một chiếc áo gấm hoàn chỉnh, thời Đông Hán, cách nay hơn 1700 năm. Chiếc áo gấm đã dùng chỉ tơ năm màu là hồng thắm, trắng sáng, xanh ngọc, nâu nhạt, cam nhạt, dệt nên và may ra, màu sắc lóng lánh, tao nhã. Trên mặt gấm có hàng chữ “diên niên ích thọ đại nghi tử tôn” (tuổi thọ kéo dài, con cháu tốt lành). Theo nghiên cứu của nhà khảo cổ học Hạ Nãi thì loại gấm này phải cần 75 tấm thêu hoa kết lại mới có được, đúng là một kiểu vải công phu, phức tạp nhất thời bấy giờ.
Đồng thời, người ta còn đào được loại gấm có hàng chữ “vạn thế như ý” dệt bằng tơ năm màu và loại gấm có chữ “dương” (mặt trời) có hoa văn hình thoi dệt bằng tơ ba màu. Ngoài ra, người xưa còn đã ra loại lụa rất tinh tế và loại lụa có màu nhuộm đều đặn. Tôi nghĩ nếu các thứ lụa mềm, lụa mỏng này khoác trên mình một người đẹp thời cổ đại ắt hẳn tha thướt yêu kiều quyến rũ biết bao!
Hàng loạt các thứ tơ lụa quý báu ấy đều do những người làm công tác khảo cổ như Lý Ngẫu Xuân phát hiện tại di chỉ nước Tinh Tuyệt đời Hán. Di chỉ này nằm bên bờ sông Nê Nhã cho nên gọi là di chỉ Nê Nhã (ruins of Niya). Đến nay, mỗi khi nhắc đến các phát hiện ấy, Lý Ngẫu Xuân vẫn còn thấy hứng thú.
Khi đào ngôi mộ thời Đông Hán này, họ nhận thấy nam nữ chủ nhân (của ngôi mộ) đều nằm, mình mặc áo gấm, hài cốt nguyên vẹn, dáng mặt là người Tây Vực, mắt sâu, mũi cao. Tay người nữ khoác trên mình người nam. Đồ chôn theo phần lớn là tơ lụa và đồ thêu. Căn cứ vào các chữ Hán dệt trên tơ lụa thì rõ chúng có xuất xứ từ Trung Nguyên, còn những đồ chôn theo khác như cung tên, nhẫn, dây chuyền và thiết đao thì rõ là mang sắc thái của Tây Vực. Những người làm công tác khảo cổ có được những di vật ấy tất nhiên họ rất hứng thú. Họ làm một giá gỗ đặc biệt giống như một cái kiệu đặt hai hài cốt cùng các đồ chôn theo lên trên đó và cho lạc dà đưa ra khỏi sa mạc, ngày nay dang bày tại Viện Bảo tàng tân Cương để mọi người chiêm ngưỡng nghiên cứu.
Trong phòng triển lãm còn trưng bày rất nhiều tơ lụa đào được ở Tolophan, niên đại từ thế kỷ V đến thế kỷ thứ VIII, tức tương đương thời Nam Bắc triều và đời nhà Đường. Trong đó cũng có khá nhiều hàng tơ lụa có hoa văn liên chu, một phong cách nghệ thuật của xứ Ba Tư.
Gọi là hoa văn theo phong cách Ba Tư tức là dệt một vòng tròn hình viên ngọc ở giữa, các bên dệt chim hay thú đói xứng nhau. Hoa văn lioên chu trên tơ lụa đào được ở Tolophan gồm rất nhiều loại như: đôi chim, đôi gà, đôi vịt, đôi ngựa, đôi sói, đôi khổng tước ... có một số tơ lụa không chỉ có hoa văn theo phong cách Ba Tư mà còn dùng cả cách dệt theo kỹ thuật Ba Tư nữa.
Ba Tư dưới triều đại Tashan (thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VII CN) đã học cách nuôi tằm dệt tơ từ Trung Quốc, đồng thời có thể dệt gấm và sáng tạo hoa văn, có cách dệt riêng của mình. Trong lịch sử Trung Quốc cũng có nói đến gấm Ba Tư. Theo ghi chép của Lương thư (sách sử của nước Lương) thì năm 520 CN, nước Hoạt Quốc (tức Yalta ngày nay) sai sứ sang Trung Quốc đem tặng lễ vật trong đó có loại “gấm Ba Tư”.
Tơ lụa có phong cách Ba Tư đào được ở Tân Cương có thể có một số từ Ba Tư đem tới. Sản phẩm vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc do người nước ngoài học hỏi chế tạo rồi trở lại nguyên xứ. Hiện tượng lịch sử hoàn toàn không thể loại trừ và cũng không có gì lạ, nhưng có điều tơ lụa Trung Quốc chuyển vận đến các nước phương Tây là điều chủ yếu như lịch sử đã từng ghi chép. So số lượng gấm theo phong các Ba Tư đào được trong các ngôi mộ ở Tolophan với tơ lụa theo phong cách Trung Nguyên cùng thời kỳ thì xem ra loại sau có vẻ nhiều hơn. Các nhà chuyên môn suy đoán loại sản phẩm ấy có thể người Trung Quốc vì nhu cầu thị trường Trung Á thích dùng mà đặc biệt chú trọng dệt nhiều hơn để cung ứng thị trường ngoại dịch.
Nhà khảo cổ học Hạ Nãi phát hiện nhiều loại gấm có hoa văn liên chu đào được ở Tolophan thì thấy cách dệt vẫn duy trì cách dệt truyền thống của gấm Trung Quốc. Ông cho rằng số lụa gấm ấy dùng hoa văn dạng Tashan có lẽ là để bán ta nước ngoài.
Ông còn chỉ cho thấy một tấm gấm dệt hình dắt lạc đà, bộ phận chân của người dắt và chân lạc đà nối nhau, chu vi tấm gấm cũng có một vòng liên chu bao quanh, nhưng ở giữa có dệt hai chữ Hán “Hồ Vương”. Điều này chỉ rõ hàng do Trung Quốc chế tạo.
Hoa văn liên chu trên các hàng dệt của Trung quốc đã từng xuất hiện. Công nghệ mỹ thuật Ba Tư thông qua con đường tơ lụa mà truyền đến phương đông và được người Trung Quốc cổ đại tiếp thu. Đây cũng là một hiện tượng lịch sử giao lưu văn hóa đáng ca tụng.
----o0o---
Mục Lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05
06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15
16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25
----o0o---
Vi tính: Minh Trí Cao Thân
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 4-2007