Công Chúa Alexia Của Hy Lạp Và Đan Mạch – Wikipedia Tiếng Việt

Alexia của Hy Lạp và Đan MạchΑλεξία της Ελλάδας και Δανία
Công chúa Alexia tại đám cưới của Công chúa Victoria của Thụy Điển, ngày 19 tháng 6 năm 2010
Thông tin chung
Sinh10 tháng 7, 1965 (60 tuổi)Mon Repos, Corfu, Quần đảo Ionia, Hy Lạp
Phối ngẫuCarlos Morales Quintana
Hậu duệArrietta Morales y de Grecia Ana María Morales y de GreciaCarlos Morales y de GreciaAmelia Morales y de Grecia
Tước hiệuHRH Princess Alexia, Mrs Morales HRH Princess Alexia of Greece and Denmark
Hoàng tộcNhà Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg
Thân phụKonstantinos II của Hy Lạp
Thân mẫuAnne-Marie của Hy Lạp
Tôn giáoChính thống giáo Hy Lạp

Vương nữ Alexia của Hy Lạp và Đan Mạch (tiếng Hy Lạp: Πριγκίπισσα Αλεξία της Ελλάδας και Δανίας; sinh ngày 10 tháng 7 năm 1965) là con gái cả của cựu vương Konstantinos II của Hy Lạp và cựu Vương hậu Anne-Marie của Hy Lạp (con gái út của Vua Frederik IX của Đan Mạch và Hoàng hậu Ingrid của Thụy Điển).

Thời trẻ

[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Alexia được sinh ra tại Mon Repos, Corfu, quần đảo Ionia, Hy Lạp, cùng nhà với Vương phu Philippos, Công tước xứ Edinburgh. Giữa ngày sinh của chính mình và ngày sinh của em trai Pavlos vào ngày 20 tháng 5 năm 1967, bà được coi là người thừa kế ngai vàng của Hy Lạp, khi mà chế độ quân chủ còn tồn tại, do thứ tự kế vị ngai vàng của Hy Lạp được xác định bởi quyền ưu tiên nam giới, tương tự như luật kế vị của Tây Ban Nha, chứ không phải luật Salic. Alexia xếp thứ 2 sau em trai Pavlos trong hàng kế vị.

Công chúa Alexia lớn lên trong cuộc sống lưu vong và lớn lên ở giữa Roma và Luân Đôn. Trước khi theo học tại Đại học Hellenic của Luân Đôn, bà đã theo học trường Miss Surtee’s School dành cho nam và nữ ở Roma. Sau trường Đại học Hellenic, bà theo học Cao đẳng Froebel của Viện Roehampton, một phân hiệu của Đại học Surrey, vào năm 1985 và lấy bằng Cử nhân Lịch sử và Giáo dục vào năm 1988. Năm 1989, bà đạt được chứng chỉ giáo dục sau đại học và trở thành một giáo viên tiểu học ở khu vực nội thành Southwark ở Luân Đôn từ năm 1989 đến năm 1992 trước khi chuyển đến Barcelona, nơi bà trở thành giáo viên dạy trẻ khuyết tật phát triển.

Hôn nhân và con cái

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 7 năm 1999, Công chúa Alexia kết hôn với Carlos Javier Morales Quintana, một kiến trúc sư và là nhà vô địch du thuyền, tại Nhà thờ St Sophia, Luân Đôn, Vương quốc Anh. Cô dâu mặc váy của nhà thiết kế người Áo Inge Sprawson. Những người tham dự đám cưới bao gồm chị gái bà Công chúa Theodora, cháu gái bà Công chúa Maria-Olympia, và Công chúa Mafalda, con gái của Kyril, Hoàng tử của Preslav (con trai của cựu Quốc vương Simeon của Bulgaria). Công chúa Alexia và Carlos Morales có với nhau bốn người con:

  • Arrietta Morales y de Grecia, sinh ngày 24 tháng 2 năm 2002 tại Barcelona, Tây Ban Nha.
  • Ana María Morales y de Grecia, sinh 15 tháng 5 năm 2003 tại Barcelona, Tây Ban Nha
  • Carlos Morales y de Grecia, sinh ngày 30 tháng 7 năm 2005 tại Barcelona, Tây Ban Nha.
  • Amelia Morales y de Grecia, sinh ngày 26 Tháng 10 năm 2007 tại Tây Ban Nha.

Alexia là mẹ đỡ đầu cho Công chúa Maria-Olympia của Hy Lạp, Pablo Nicolas Urdangarin y de Borbon, Bá tước Ingrid von Pfeil und Klein-Ellguth, Công chúa Isabella của Đan Mạch và Emma Tallulah Behn.

Alexia cùng gia đình sống ở quê hương của chồng tại bến thuyền Puerto Calero, Yaiza, Lanzarote, quần đảo Canary trong một ngôi nhà được thiết kế bởi chồng bà.[1]

Tước hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
  • 10 tháng 7 năm 1965 - 20 tháng 5 năm 1967: Công chúa của Hy Lạp, Công chúa của Đan Mạch.
  • 20 tháng 5 năm 1967 - 9 tháng 7 năm 1999: Công chúa Alexia của Hy Lạp và Đan Mạch.
  • 9 tháng 7 năm 1999 - nay: Công chúa Alexia của Hy Lạp và Đan Mạch, quý bà Morales.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Miroslav Marek. "Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg". Genealogy.Eu. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2005.[nguồn tự xuất bản][cần nguồn tốt hơn]
  1. ^ "Exilio de las Infantas en Lanzarote provocado por Zapatero". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2013.
  • x
  • t
  • s
Vương nữ Hy Lạp
Thế hệ thứ 1
  • Alexandra, Đại vương công phu nhân Aleksandra Georgievna của Nga
  • Maria, Đại vương công phu nhân Mariya Georgievna của Nga
Thế hệ thứ 2
  • Eleni, Vương mẫu Romania
  • Eirini, Vương hậu Croatia và Công tước phu nhân xứ Aosta
  • Aikaterini, Phu nhân Katherine Brandram
  • Evgenia, Công tước phu nhân xứ Castel Duino
  • Olga, Vương tức Pavle của Nam Tư
  • Elisavet, Bá tước phu nhân xứ Toerring-Jettenbach
  • Marina, Công tước phu nhân xứ Kent
  • Margarita, Công tước phu nhân xứ Hohenlohe-Langenburg
  • Theodora, Phiên hầu tước phu nhân xứ Baden
  • Kaikilia, Đại Công thế tử phi xứ Hessen và Rhein
  • Sofia, Vương tức Hannover
Thế hệ thứ 3
  • Alexandra, Vương hậu Nam Tư
  • Sophia, Vương hậu nước Tây Ban Nha
  • Eirini, Vương nữ Hy Lạp
  • Alexandra, Bà Mirzayantz
  • Olga, Công tước phu nhân xứ Apulia
Thế hệ thứ 4
  • Alexia, Vương nữ Hy Lạp và Đan Mạch
  • Theodora, Vương nữ Hy Lạp và Đan Mạch
Thế hệ thứ 5
  • Maria-Olympia, Vương nữ Hy Lạp và Đan Mạch
Xem thêm Vương tộc Glücksburg
  • x
  • t
  • s
Vương nữ Đan Mạch
Thế hệ được tính từ hậu duệ của Frederik III của Đan Mạch.
Thế hệ thứ 1
  • Anna Sophie, Tuyển hầu phu nhân xứ Sachsen1
  • Frederikke Amalie, Công tước phu nhân xứ Holstein-Gottorp1
  • Vilhelmine Ernestine, Tuyển hầu phu nhân xứ Pfalz1
  • Ulrikke Eleonore, Vương hậu Thụy Điển1
Thế hệ thứ 2
  • Sophie Hedevig, Vương nữ Đan Mạch và Na Uy1
Thế hệ thứ 3
  • Charlotte Amalie, Vương nữ Đan Mạch và Na Uy1
Thế hệ thứ 4
  • Louise, Công tước phu nhân xứ Sachsen-Hildburghausen1
Thế hệ thứ 5
  • Sophie Magdalene, Vương hậu nước Thụy Điển1
  • Vilhelmine Caroline, Tuyển hầu phu nhân xứ Hessen1
  • Louise, Công tử phu nhân xứ Hessen-Kassel1
Thế hệ thứ 6
  • Louise, Công tước phu nhân xứ Schleswig-Holstein-Sonderburg-Augustenburg1
  • Juliane, Công tử phu nhân xứ Hessen-Philippsthal-Barchfeld1
  • Charlotte, Công tôn phu nhân xứ Hessen-Kassel1
Thế hệ thứ 7
  • Caroline, Thế tử phi Đan Mạch1
  • Vilhelmine, Công tước phu nhân xứ Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg1
Thế hệ thứ 8
  • Alexandra, Vương hậu Vương quốc Liên hiệp Anh và Hoàng hậu Ấn Độ4
  • Dagmar, Hoàng hậu Mariya Fyodorovna của Nga4
  • Thyra, Thái tử phi của Hannover và Công tước phu nhân xứ Cumberland
Thế hệ thứ 9
  • Louise, Thân vương phi xứ Schaumburg-Lippe
  • Ingeborg, Công tước phu nhân xứ Västergötland
  • Thyra
  • Dagmar
  • Alexandra, Đại vương công phu nhân Aleksandra Georgievna của Nga2
  • Maria, Đại vương công phu nhân Mariya Georgievna của Nga2
  • Margrethe, Công tử phu nhân xứ Borbone-Parma
Thế hệ thứ 10
  • Feodora, Thân vương phi xứ Schaumburg-Lippe
  • Caroline-Mathilde, Thế tử phi Đan Mạch
  • Alexandrine, Bá tước phu nhân xứ Castell-Castell
  • Helena, Vương mẫu Romania2
  • Irene, Vương hậu Croatia và Công tước phu nhân xứ Aosta2
  • Katharina, Phu nhân Katherine Brandram2
  • Eugénie, Công tước phu nhân xứ Castel Duino2
  • Olga, Vương tức Pavle của Nam Tư2
  • Elisabeth, Bá tước phu nhân xứ Toerring-Jettenbach2
  • Marina, Công tước phu nhân xứ Kent2
  • Margarita, Thân vương phi xứ Hohenlohe-Langenburg2
  • Theodora, Phiên hầu tước phu nhân xứ Baden2
  • Cecilie, Đại công thế tử phi xứ Hessen và Rhein2
  • Sophie, Vương tức Hannover2
Thế hệ thứ 11
  • Nữ vương Margrethe II3
  • Benedikte, Thân vương phi xứ Sayn-Wittgenstein-Berleburg3
  • Anne-Marie, Vương hậu nước Hy Lạp
  • Elisabeth, Vương tôn nữ Đan Mạch3
  • Alexandra, Vương hậu Nam Tư2
  • Sofia, Vương hậu Tây Ban Nha2
  • Irene, Vương nữ Hy Lạp và Đan Mạch2
Thế hệ thứ 12
  • Alexia, Vương nữ Hy Lạp và Đan Mạch2
  • Theodora, Vương nữ Hy Lạp và Đan Mạch2
Thế hệ thứ 13
  • Isabella, Vương nữ Đan Mạch
  • Josephine, Vương nữ Đan Mạch
  • Athena, Nữ bá tước của Monpezat 5
  • Maria-Olympia của Hy Lạp và Đan Mạch2
1 Cũng là Vương nữ Na Uy

2 Cũng là Vương nữ Hy Lạp 3 Cũng là Vương nữ Iceland 4 Không phải Vương nữ Đan Mạch khi sinh ra, nhưng trở thành Vương nữ Đan Mạch

5 Mang tước vị Vương nữ Đan Mạch khi sinh ra, nhưng bị mất tước vị

Từ khóa » Công Chúa Sophie Của Hy Lạp Và đan Mạch