Cộng Hòa Dân Chủ Congo – Wikipedia Tiếng Việt

Đừng nhầm lẫn với Cộng hòa Congo.
Cộng hòa Dân chủ Congo
Tên bản ngữ
  • République démocratique du Congo (tiếng Pháp)Repubilika ya Kôngo ya Dimokalasi (tiếng Kongo)Bản mẫu:RẹcryggsizeJamhuri ya Kidemokrasia ya Kongo (tiếng Swahili)Ditunga dia Kongu wa Mungalaata (tiếng Luba-Katanga)
Quốc kỳ Cộng hòa Dân chủ Congo Quốc kỳ Huy hiệu Cộng hòa Dân chủ Congo Huy hiệu
Tiêu ngữ: "Justice – Paix – Travail" (tiếng Pháp)"Công lý – Hòa bình – Lao động"
Quốc ca: Debout Congolais (tiếng Pháp)"Vùng lên, người Congo"Tập tin:Democratic Republic of the Congo's national anthem.ogg
Vị trí của Cộng hòa Dân chủ Congo (xanh)Vị trí của Cộng hòa Dân chủ Congo (xanh)
Tổng quan
Thủ đôvà thành phố lớn nhấtKinshasa4°19′N 15°19′Đ / 4,317°N 15,317°Đ / -4.317; 15.317
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Pháp
• Ngôn ngữ quốc gia được công nhận
  • Tiếng Lingala
  • Kikongo
  • Tiếng Swahili
  • Tiếng Tshiluba
Sắc tộcXem Sắc tộc ở mục bên dưới
Tên dân cưNgười Congo
Chính trị
Chính phủCộng hòa bán tổng thống chế đơn nhất[1]
• Tổng thống Félix Tshisekedi
• Thủ tướng Judith Suminwa
Lập phápNghị viện
• Thượng việnThượng viện
• Hạ việnQuốc hội
Lịch sử
Thành lập
• Thuộc địa 17 tháng 11 năm 1879
• Nhà nước Tự do Congo 1 tháng 7 năm 1885
• Congo thuộc Bỉ 15 tháng 11 năm 1908
• Độc lập từ Bỉ 30 tháng 6 năm 1960[2]
• Thành viên của Liên Hợp Quốc 20 tháng 9 năm 1960
• Đổi tên thành Cộng hòa Dân chủ Congo 1 tháng 8 năm 1964
• Cộng hòa Zaire 29 tháng 10 năm 1971
• Mùa thu Mobutu 17 tháng 5 năm 1997
• Hiến pháp hiện hành 18 tháng 2 năm 2006
Địa lý
Diện tích 
• Tổng cộng2.345.409 km2 (hạng 11)905.355 mi2
• Mặt nước (%)3,32
Dân số 
• Ước lượng 2025Tăng 112,832,473[3] (hạng 15)
• Mật độ48/km2 (hạng 168)104/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2025
• Tổng sốTăng 200.76 tỷ đô la Mỹ[4] (hạng 79)
• Bình quân đầu ngườiTăng 1,881 đô la Mỹ[4] (hạng 180)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2025
• Tổng sốTăng 79.120 tỷ đô la Mỹ[4] (hạng 83)
• Bình quân đầu ngườiTăng 742 đô la Mỹ[4] (hạng 182)
Đơn vị tiền tệFranc Congo (CDF)
Thông tin khác
Gini? (2012)Giảm theo hướng tích cực 42.1[5]trung bình
HDI? (2023)Tăng 0.522[6]thấp · hạng 171
Múi giờUTC+1 đến +2 (WAT và CAT)
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+243
Mã ISO 3166CD
Tên miền Internet.cd
Cộng hòa dân chủ Congo

Cộng hòa Dân chủ Congo (tiếng Pháp: République démocratique du Congo, RDC, phát âm [ʁepyblikdemɔkʁatikdykɔŋɡo]) là một quốc gia ở Trung Phi. Cộng hòa Dân chủ Congo còn được gọi là Congo-Leopoldville, hay Congo-Kinshasa vì thủ đô là Kinshasa, hay Zaire (tên chính thức từ năm 1971 đến năm 1997).

CHDC Congo là quốc gia lớn thứ hai ở châu Phi và lớn thứ 11 trên thế giới. Với dân số khoảng 112 triệu người, CHDC Congo là quốc gia đông dân thứ hai ở châu Phi và là quốc gia nói tiếng Pháp trên danh nghĩa đông dân nhất trên thế giới. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức và được sử dụng rộng rãi nhất, mặc dù có hơn 200 ngôn ngữ bản địa. Thủ đô và thành phố lớn nhất là Kinshasa. CHDC Congo giáp giới với Cộng hòa Congo, vùng đất tách rời Cabinda của Angola và Nam Đại Tây Dương ở phía tây; Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan ở phía bắc; Uganda, Rwanda, Burundi và Tanzania (qua Hồ Tanganyika) ở phía đông; và Zambia và Angola ở phía nam. Tập trung ở lưu vực sông Congo, phần lớn địa hình của đất nước được bao phủ bởi rừng mưa rậm rạp và có nhiều con sông chảy qua, trong khi phía đông và đông nam là địa hình đồi núi.

Lãnh thổ Congo lần đầu tiên có người sinh sống ở Trung Phi vào khoảng 90.000 năm trước và được định cư trong vùng mở rộng Bantu vào khoảng 2.000 đến 3.000 năm trước.[7] Ở phía tây, Vương quốc Kongo cai trị quanh cửa sông Congo từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 19. Ở trung tâm và phía đông, các đế chế Mwene Muji, Luba và Lunda cai trị từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Những vương quốc này đã bị người châu Âu phá vỡ trong quá trình thực dân hóa lưu vực Congo. Vua Leopold II của Bỉ đã giành được quyền đối với lãnh thổ Congo vào năm 1885 và gọi nó là Nhà nước Tự do Congo. Năm 1908, Leopold nhượng lại lãnh thổ này sau áp lực quốc tế để đáp trả lại những hành động tàn bạo lan rộng và nó đã trở thành thuộc địa của Bỉ. Congo giành được độc lập từ Bỉ vào năm 1960 và ngay lập tức phải đối mặt với một loạt các phong trào ly khai, vụ ám sát Thủ tướng Patrice Lumumba và việc Mobutu Sese Seko lên nắm quyền vào năm 1965. Mobutu đổi tên đất nước thành Zaire vào năm 1971 và áp đặt chế độ độc tài cá nhân.[8]

Sự bất ổn do dòng người tị nạn từ Nội chiến Rwanda tràn vào miền đông đất nước đã dẫn đến Chiến tranh Congo lần thứ nhất từ năm 1996 đến năm 1997, kết thúc bằng việc lật đổ Mobutu.[9] Tên của nó đã được đổi lại thành Cộng hòa Dân chủ Congo và nó đã phải đối mặt với Chiến tranh Congo lần thứ hai từ năm 1998 đến năm 2003, dẫn đến cái chết của 5,4 triệu người và vụ ám sát Tổng thống Laurent-Désiré Kabila.[10][11][12][13] Cuộc chiến, được mô tả rộng rãi là cuộc xung đột chết chóc nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai,[14] kết thúc dưới thời Tổng thống Joseph Kabila, người đã khôi phục lại sự ổn định tương đối cho phần lớn đất nước, mặc dù giao tranh vẫn tiếp tục ở mức độ thấp hơn, chủ yếu ở phía đông. Nhân quyền vẫn còn kém và thường xuyên xảy ra các vụ lạm dụng, chẳng hạn như mất tích cưỡng bức, tra tấn, giam giữ tùy tiện và hạn chế các quyền tự do dân sự.[15] Kabila từ chức vào năm 2019, đánh dấu cuộc chuyển giao quyền lực hòa bình đầu tiên của đất nước kể từ khi giành độc lập, sau khi Félix Tshisekedi giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử đầy tranh cãi năm 2018.[16] Kể từ đầu những năm 2000, đã có hơn 100 nhóm vũ trang hoạt động tại CHDC Congo, chủ yếu tập trung ở vùng Kivu. Một trong những thành phố lớn nhất của nước này, Goma, đã bị phiến quân Phong trào 23 tháng 3 (M23) chiếm đóng trong thời gian ngắn vào năm 2012 và một lần nữa vào năm 2025. Cuộc nổi dậy của M23 leo thang vào đầu năm 2025 sau khi chiếm được nhiều thành phố ở phía đông, với sự hỗ trợ quân sự từ Rwanda, gây ra xung đột giữa hai nước.[17][18][19] Một thỏa thuận hòa bình do Mỹ làm trung gian đã được Rwanda và CHDC Congo ký kết vào ngày 27 tháng 6 năm 2025.[20]

Mặc dù cực kỳ giàu tài nguyên thiên nhiên, CHDC Congo vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, chịu ảnh hưởng của bất ổn chính trị, thiếu cơ sở hạ tầng, tham nhũng tràn lan, hàng thế kỷ khai thác và bóc lột thương mại lẫn thuộc địa, tiếp theo là hơn 60 năm độc lập, với rất ít sự phát triển rộng rãi.[21][22] Quốc gia này là một ví dụ điển hình của "lời nguyền tài nguyên".[23] Bên cạnh thủ đô Kinshasa, hai thành phố lớn tiếp theo, Lubumbashi và Mbuji-Mayi, đều là các cộng đồng khai thác mỏ. Các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của CHDC Congo là khoáng sản thô và kim loại, chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu năm 2023, với Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất.[24][25] Năm 2023, mức độ phát triển con người của CHDC Congo được xếp hạng 171/193 quốc gia theo Chỉ số phát triển con người. Liên Hợp Quốc xếp hạng quốc gia này là một trong những nước kém phát triển nhất.[26] Tính đến năm 2022[cập nhật], sau hai thập kỷ nội chiến và xung đột nội bộ liên tục, khoảng một triệu người tị nạn Congo vẫn đang sống ở các nước láng giềng.[27] Hai triệu trẻ em có nguy cơ chết đói và giao tranh khiến 7,3 triệu người phải di dời.[28][29] CHDC Congo là thành viên của Liên Hợp Quốc, Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi, COMESA, Cộng đồng Phát triển Nam Phi, Cộng đồng Pháp ngữ và Cộng đồng Kinh tế các Quốc gia Trung Phi.

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Lịch sử Cộng hòa Dân chủ Congo

Vùng lãnh thổ thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo là nơi định cư của hai nhóm sắc tộc Bantu và Pygmy, bị phân chia thành những địa hạt tù trưởng và các vương quốc. Lịch sử vùng này được đánh dấu bởi sự ra đời của ba vương quốc lớn. Vương quốc Kongo được thành lập trên phần lãnh thổ phía Bắc Angola hiện nay, bên vùng cửa sông Congo từ thế kỷ 14. Vương quốc của người Luba (hoặc Baluba) được thành lập từ thế kỷ 16 trong vùng cao nguyên Katanga. Vương quốc Lunda gồm một phần của vùng Kasai, được thành lập vào thế kỷ 7. Các vương quốc này xâu xé nhau bởi các cuộc tranh chấp trong vùng và bị tàn phá do chế độ buôn bán nô lệ.

Nhà nước Congo tự do (1870 – 1908)

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Nhà nước Tự do Congo

Sau các cuộc thám hiểm của Henry Stanley tiến sâu vào lãnh thổ bên trong bằng đường sông Congo (1874-1884), Nhà nước Tự do Congo được thành lập (Hội nghị Berlin, 1885) và thuộc quyền sở hữu cá nhân của vua Bỉ, Léopold II, ông ta đã thâu tóm một gia tài khổng lồ từ ngà voi và cao su do bóc lột sức lao động của nô lệ. Khoảng 10 triệu người đã chết do lao động cưỡng bức, đói khát và bị giết chết trong suốt thời kì cai trị thuộc địa của Leopold.

Thuộc Bỉ (1908 – 1960)

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Congo thuộc Bỉ

Từ năm 1908, Congo trở thành thuộc địa của Bỉ. Bỉ đã xây dựng và phát triển mạng lưới đường bộ và đường sắt tại thuộc địa này để chuyên chở các sản phẩm khai thác từ hầm mỏ và các đồn điền về chính quốc. Cư dân thành thị và công nhân phát triển mạnh làm xuất hiện các phong trào dân tộc chủ nghĩa.

Chính trị khủng hoảng (1960 – 1965)

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1960, Congo giành được độc lập. Vùng Katanga, dưới sự lãnh đạo của Moise Tschombé, tuyên bố li khai. Đồng thời, chính quyền trung ương lại chia thành những người ủng hộ thể chế liên bang của Tổng thống Kasanubu và những người ủng hộ chế độ hợp nhất của Thủ tướng Lumumba. Năm 1961, Thủ tướng Lumumba bị ám sát, nội chiến vẫn tiếp tục kéo dài. Liên Hợp Quốc gởi quân đội đến can thiệp (1961-1963) và lực lượng lính dù của Bỉ được phái đến để tiêu diệt quân phiến loạn ủng hộ Thủ tướng Lumumba (1964).

Năm 1965, Tướng Mobutu lên nắm quyền sau cuộc đảo chính, mở ra một thời kì tương đối ổn định. Cộng hòa Congo, còn gọi Congo-Kinshasa được đổi tên thành Zaire năm 1971.

Thời kỳ Zaire (1971 – 1997)

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Zaire

Năm 1977, Tổng thống Mobutu kêu gọi sự giúp đỡ của Pháp khi phải đối mặt với những nguy cơ đòi li khai ngày càng phát triển mạnh.

Từ năm 1990, làn sóng phản đối ngày càng tăng cao buộc Tổng thống Mobutu phải nhượng bộ. Năm 1994, khoảng một triệu người Hutu và Rwanda sang tị nạn ở miền đông Congo, làm cho cuộc khủng hoảng chính trị thêm trầm trọng. Năm 1997, cuộc đấu tranh chống lại sự kiểm soát của quyền lực trung ương đã dẫn dến việc ra đi của Tổng thống Mobutu.

Xung đột và sự chuyển tiếp (1996 – nay)

[sửa | sửa mã nguồn]

Laurent-Désiré Kabila lên cầm quyền và tuyên bố đổi tên nước thành Cộng hòa Dân chủ Congo. Năm 1998, các lực lượng liên minh cũ của Tổng thống L. D. Kabila nhờ sự ủng hộ của Rwanda và Uganda, đã nổi dậy chống lại chính quyền trung ương, đẩy đất nước vào cuộc chiến tranh mới. Tháng 1 năm 2001. Tổng thống Kabila bị ám sát và con trai là Joseph Kabila lãnh đạo đất nước.

Tổng thống Kevin tiến hành các cuộc đàm phán nhằm - chấm dứt cuộc nội chiến. Tháng 4 năm 2002, chính phủ đồng ý một thỏa thuận chia sẻ quyền lực với quân nổi dậy do Uganda hậu thuẫn. Tháng 7 năm 2002, Tổng thống Cộng hòa Dân chủ Congo và Tổng thống Rwanda cùng ký hiệp ước: Rwanda hứa rút 35.000 quân khỏi biên giới phía Đông Cộng hòa Dân chủ Congo, còn Cộng hòa Dân chủ Congo sẽ giải trừ vũ khí của hàng ngàn dân quân Hutu đang đóng trên lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Congo và đe doạ đến an ninh Rwanda - nhiều người trong số họ đã ủng hộ hoặc tham gia cuộc diệt chủng người Tutsi Rwanda năm 1994. Tháng 9 năm 2002, Uganda và Cộng hòa Dân chủ Congo ký hiệp định hòa bình.

Một Chính phủ chuyển tiếp đã ra đời vào tháng 7 năm 2003, đứng đầu là Tổng thống Joseph Kabila và 4 phó Tổng thống là các đại diện của Chính phủ trước đây, lực lượng nổi dậy và phe đối lập. Chính phủ chuyển tiếp đã tổ chức thành công cuộc trưng cầu dân ý về Hiến pháp tháng 12 năm 2005. Trong cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 8 năm 2006, ông Kabila đã tái đắc cử và tiếp tục điều hành đất nước. Theo hiến pháp nước này, Thủ tướng do Tổng thống chỉ định. Cuộc bầu cử tiếp theo sẽ được dự kiến tổ chức vào tháng 11 năm 2011.

Từ tháng 3 năm 2012, nhóm phiến quân nổi loạn, được gọi là M23, đã nổi dậy buộc 470.000 người ở Bắc Kivu, tỉnh giàu khoáng sản ở miền Đông Cộng hoà Dân chủ Congo và nằm sát biên giới chung với Uganda và Rwanda, phải đi lánh nạn. Đầu tháng bảy vừa qua, M23 tuyên bố đã giành quyền kiểm soát nhiều thị trấn, trong đó có vị trí chiến lược Rutshuru tại tỉnh Bắc Kivu. M23, nhóm nổi loạn nguyên là quân đội người Tutsi sáp nhập vào quân đội Cộng hoà dân chủ Congo từ năm 2009 nhưng đầu năm nay đã đào ngũ với lý do bất đồng về lương bổng và các điều kiện sinh hoạt. Nhóm nổi loạn cũng đã đặt ra các điều kiện với Chính phủ Cộng hoà Dân chủ Congo như người tị nạn Congo ở Rwanda được hồi hương, thúc đẩy dân chủ cũng như xác nhận vị trí cấp bậc mà các thành viên M23 từng giữ trong quân đội Cộng hoà Dân chủ Congo.

Liên Hợp Quốc đã gửi quân đến để hỗ trợ lực lượng chính phủ trấn áp phe nổi loạn. Cho đến tháng 8 năm 2012, tình hình an ninh tại CHDC Congo tại một số vùng vẫn chưa ổn định.

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Địa lý Cộng hòa Dân chủ Congo

Cộng hòa Dân chủ Congo nằm ở Trung Phi, đường xích đạo đi ngang qua, nằm chếch về phía trên. Cộng hòa dân chủ Congo có diện tích lớn hàng thứ ba ở châu Phi, sau Sudan và Algérie, Bắc giáp Cộng hòa Trung Phi và Sudan; Tây Nam giáp Angola và Nam giáp Zambia; Đông giáp Uganda, Rwanda, Burundi và Tanzania; Tây giáp Đại Tây Dương và Cộng hòa Congo Quốc gia này chỉ có một hành lang hẹp thông ra Đại Tây Dương. Lãnh thổ cả nước trải rộng trên vùng chậu được bao phủ bởi rừng rậm xích đạo ẩm và nóng, tương ứng với khoảng 2/3 diện tích vùng lưu vực sông Congo. Ở phía Đông, Cộng hòa Dân chủ Congo tựa lưng vào những vùng đất cao của Đông Phi, tiếp đó là dãy lũng hẹp dài có các hồ Albert (Mobutu), Edward, Kivu, Tanganyika đặt mốc cho biên giới chung với các nước ở phía Đông. Cư dân tập trung ở các vùng cao thuộc rìa phía Đông có khí hậu trong lành, nhất là ở một phần ba lãnh thổ phía Nam, tại đó rừng thưa và các đồng cỏ xen nhau (Kinshasa và Kangtaga). Nhìn chung, nhân dân Congo gồm chừng 60 tộc người gia tăng mạnh ở các thành phố (44,3% số dân).

Các sông chính có Sông Congo (4.700 km, lưu lượng lớn nhất châu Phi), sông Lualaba (1.770 km), sông Lomami (1.500 km), sông Aruwimba, sông Uélé, sông Tahuapa, sông Lukénie, sông Kasai.

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ phân loại khí hậu Köppen của Cộng hòa Dân chủ Congo

Khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm ở các khu vực trũng hai bên bờ sông thuộc vùng xích đạo; mát và khô hơn ở các vùng cao nguyên phía Nam; mát và ẩm hơn các vùng cao nguyên phía Đông. Vùng phía Bắc xích đạo: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 2; vùng phía Nam xích đạo: mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 4, mùa khô từ tháng 4 đến tháng 10.

Môi trường

[sửa | sửa mã nguồn]

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước; nạn phá rừng; đất bị xói mòn; nạn săn bắt trái phép và nguy cơ thú rừng bị tuyệt chủng.

Sinh vật

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Động và thực vật ở Cộng hòa Dân chủ Congo

Rừng nhiệt đới ở CHDC Congo có độ đa dạng sinh học rất cao,[30] sở hữu nhiều loài đặc hữu và quý hiếm như tinh tinh thông thường và tinh tinh lùn, voi rừng, khỉ đột núi, hươu đùi vằn và tê giác trắng. Năm trong số các vườn quốc gia của đất nước này được xếp vào danh sách các di sản thế giới gồm: Garumba, Kahuzi-Biega, Salonga và vườn quốc gia Virunga, và Khu dự trữ động vật hoang dã Okapi. Cuộc nội chiến và các điều kiện kinh tế yếu kém đã đe dọa sự đa dạng sinh học ở đây. Tất cả các vườn quốc gia được liệt kê ở trên đều trong diện Di sản bị đe dọa.[31][32][33]

  • Cảnh quan Bas-Congo Cảnh quan Bas-Congo
  • Khỉ đột lưng bạc đực Khỉ đột lưng bạc đực
  • Hà mã Hà mã
  • Voi rừng châu Phi Voi rừng châu Phi

Chính trị

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Chính trị Cộng hòa Dân chủ CongoFélix TshisekediFélix Tshisekedi,tổng thống từ năm 2019Judith SuminwaJudith Suminwa,thủ tướng từ năm 2024

Cộng hòa Dân chủ Congo là một nước cộng hòa bán tổng thống chế.[34] Tổng thống là nguyên thủ quốc gia,[35] được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ năm năm.[36] Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ,[37] do tổng thống bổ nhiệm với sự ủng hộ của đảng hoặc liên minh chiếm đa số trong Nghị viện.[38] Thủ tướng và Nội các chịu trách nhiệm trước Nghị viện.[37] Nghị viện là cơ quan lập pháp lưỡng viện, gồm Thượng viện và Quốc hội.[37] Đại biểu Quốc hội được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ năm năm,[39] thượng nghị sĩ được các nghị viện tỉnh bầu gián tiếp với nhiệm kỳ năm năm.[40] Tổng thống là tổng tư lệnh lực lượng vũ trang[41] và bổ nhiệm các chức danh dân sự, quân sự.[42] Hệ thống tòa án thực hiện quyền tư pháp độc lập.[43] Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của luật và giải quyết tranh chấp bầu cử, tranh chấp giữa các cơ quan chính phủ;[44] Tòa Phá án là cơ quan xét xử cao nhất về hình sự, dân sự và quân sự;[45] Tham chính viện là tòa án hành chính cao nhất.[46]

Phân cấp hành chính

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Phân chia hành chính Cộng hòa Dân chủ Congo

Hiện tại, Cộng hòa Dân chủ Congo được chia thành 26 tỉnh.[2] Các tỉnh được chia thành 145 lãnh thổ và 33 thành phố. Trước năm 2015, CHDC Congo được chia thành 11 tỉnh.[47]

1. Kinshasa 14. Ituri
2. Kongo Central 15. Haut-Uele
3. Kwango 16. Tshopo
4. Kwilu 17. Bas-Uele
5. Mai-Ndombe 18. Nord-Ubangi
6. Kasaï 19. Mongala
7. Kasaï-Central 20. Sud-Ubangi
8. Kasaï-Oriental 21. Équateur
9. Lomami 22. Tshuapa
10. Sankuru 23. Tanganyika
11. Maniema 24. Haut-Lomami
12. Nam Kivu 25. Lualaba
13. Bắc Kivu 26. Haut-Katanga

Nhân quyền

[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân cùng giới bị cấm từ năm 2006[48] và quyền LGBT không được ủng hộ rộng rãi.[49] Bạo lực đối với phụ nữ được đại bộ phận dân số coi là bình thường.[50]

Kinh tế

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Kinh tế tại Cộng hòa Dân chủ Congo
GDP bình quân đầu người của CHDC Congo, 1950–2018.

Nền kinh tế CHDC Congo đã tăng trưởng từ 29,23 tỷ đô la Mỹ sau Nội chiến Congo thứ hai vào năm 2003 lên 190,13 tỷ đô la Mỹ vào năm 2024 theo sức mua tương đương.[51] Năm 2023, 80% xuất khẩu của CHDC Congo là khoáng sản và kim loại, đặc biệt là cobalt và đồng.[52][53] Năm 2024, Trung Quốc là đối tác xuất khẩu lớn nhất của CHDC Congo, sau đó là Zambia, Cộng hòa Nam Phi, Singapore và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.[54] Nền kinh tế CHDC Congo, đặc biệt là ngành khai thác mỏ, thu hút đầu tư nước ngoài đáng kể, và tăng trưởng nhanh hơn trung bình của châu Phi Hạ Sahara sau đầu thập niên 2000,[55] dẫn đến cải thiện cơ sở hạ tầng.[55] 65% dân số tham gia nông nghiệp tự cung tự cấp[53] và nông nghiệp là một ngành lớn.[25] Tuy nhiên, sản lượng lương thực đã suy giảm trong vài thập kỷ qua[56] và CHDC Congo phụ thuộc vào nhập khẩu lương thực.[53] Năm 2023, tỷ lệ lạm phát giá thực phẩm đạt 173%.[57] Nền kinh tế ngầm cung cấp hầu hết việc làm và tỷ lệ thanh niên thất nghiệp rất cao.[53] Ước tính 73,5% dân số CHDC Congo có thu nhập dưới chuẩn nghèo quốc tế là 2,15 đô la Mỹ mỗi ngày vào năm 2024.[58]

Biến động GDP

Tuy nhiên, nền kinh tế của CHDC Congo đã bị suy thoái từ giữa những năm 80 của thế kỷ 20. Vào thời điểm độc lập năm 1960, CHDC Congo là một nước công nghiệp hóa thứ 2 ở châu Phi sau Nam Phi, dựa chủ yếu vào ngành công nghiệp khai thác mỏ[59] và nền nông nghiệp tương đối có hiệu quả.[60] Hai cuộc chiến trong thời gian sau đó, bắt đầu từ năm 1996, đã làm sản xuất và nguồn thu ngân sách giảm sút nghiêm trọng, trong khi đó nợ nước ngoài lại tăng. Cuộc chiến còn cướp đi sinh mạng của 3,5 triệu người do bạo lực, nạn đói và bệnh tật. Những nhà kinh doanh cắt giảm các hoạt động đầu tư do lo ngại các cuộc xung đột, thiếu cơ sở hạ tầng, và môi trường kinh doanh khó khăn. Tình hình đã được cải thiện vào cuối năm 2002 khi mà lực lượng chiếm đóng bắt đầu rút quân khỏi Congo. Chính phủ chuyển tiếp đã nối lại quan hệ với các thiết chế tài chính và các nhà tài trợ quốc tế. Tổng thống Kabila bắt đầu tiến hành cải cách. Nhiều các dự án được tiến hành thúc đẩy tăng trưởng GDP. Kinh tế CHDC Congo bắt đầu tăng trưởng ổn định trong giai đoạn 2003 – 2005 bất chấp những khó khăn do khuôn khổ pháp lý chưa rõ ràng, nạn tham nhũng, và các chính sách mở cửa chưa thông thoáng. Suy thoái kinh tế toàn cầu đã khiến cho tốc độ tăng trưởng của nước này năm 2009 giảm 1 nửa so với năm 2008, tuy nhiên chỉ số này đã hồi phục và tăng trưởng 6% năm 2010.

Nông nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Congo là một nước nông nghiệp. Phần đông dân cư sống bằng nghề nông. Hàng năm, nông nghiệp đóng góp khoảng 37,4% GDP cho đất nước này. Các loại nông sản chính của Congo là: cà phê, đường, dầu cọ, chè, miến, chuối, ngô, hoa quả và các sản phẩm gỗ, cao su...

Công nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

CHDC Congo là nước có nguồn dự trữ về tài nguyên và khoáng sản vô cùng phong phú. Công nghiệp của Congo chủ yếu là khai khoáng, là nhà sản xuất cobalt lớn nhất thế giới.[61] Congo có 70% trữ lượng coltan của thế giới, và hơn 30% kim cương.[62] chủ yếu là dạng kim cương nhỏ, công nghiệp. Năm 2002, thiếc đã được phát hiện ở phía đông của quốc gia này nhưng cho đến nay việc khai thác chỉ ở quy mô nhỏ.[63] Buôn lậu liên quan đến khoáng sản, coltan và cassiterit như đã đổ thêm dầu vào lửa cho các cuộc chiến tranh[64] ở miền đông Congo. Katanga Mining Limited, một công ty của Thụy Sĩ, sở hữu nhà máy luyện kim Luilu, có công suất 175.000 tấn đồng và 8.000 tấn cobalt mỗi năm, là nhà sản tinh chế cobalt lớn nhất thế giới. Sau một chương trình phục hồi lớn, công ty này đã khởi động lại vào tháng 12 năm 2007 và sản xuất cobalt vào tháng 5 năm 2008.[65] CHDC Congo cũng sở hữu 50% diện tích rừng ở châu Phi và hệ thống sông suối cung cấp nhiều thuận lợi cho khai thác thủy điện, theo báo cáo của UN về ý nghĩa chiến lược và vai trò tiềm năng của quốc gia này thì đây được xem là một động lực kinh tế ở Trung Phi.[66] Ngoài ra còn có các ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng (dệt may, giày dép, sản xuất đồ ăn và đồ uống), sửa chữa tàu.. Hàng năm, công nghiệp đóng góp vào khoảng 11% GDP của nước này.

Dịch vụ

[sửa | sửa mã nguồn]

Dịch vụ hàng năm đóng góp khoảng 1/3 GDP cho đất nước. Tuy nhiên ngành dịch vụ du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc nội chiến liên miên trước đây và đại dịch COVID-19.

Ngoại thương

[sửa | sửa mã nguồn]

Về ngoại thương, năm 2009, CHDC Congo xuất khẩu 3,8 tỷ USD hàng hoá các loại. Trong đó các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt là kim cương, đồng, cà phê, dầu thô và côban. Các bạn hàng xuất khẩu chính của nước này là: Bỉ, Phần Lan, Mỹ, Trung Quốc.

Kim ngạch nhập khẩu năm 2009 của Congo đạt 3,8 tỷ USD. Các mặt hàng mà Congo thường nhập khẩu là lương thực, xăng dầu và các thiết bị vận tải. Các đối tác nhập khẩu hàng từ CHDC Congo là Nam Phi, Bỉ, Pháp, Zambia, Kenya, Mỹ, Đức.

Giao thông

[sửa | sửa mã nguồn]
Tàu từ Lubumbashi đến Kindu trên đường ray mới được nâng cấp
Bài chi tiết: Giao thông ở Cộng hòa Dân chủ Congo

Giao thông đường bộ ở CHDC Congo rất khó khăn do nhiều yếu tố địa hình và khí hậu cản trở, và khoảng cách đi lại giữa những khu vực trên đất nước này rất lớn. Hơn nữa, quản lý kinh tế yếu kém kéo dài và xung đột nội bộ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đầu tư trong nhiều năm qua. Ngoài ra, đất nước này có hàng ngàn km đường thủy, và vận tải đường thủy truyền thống có thể di chuyển trong khoảng 2/3 chiều dài đất nước này.

Tất cả các nhà vận tải đường không được CHDC Congo cấp phép đều bị cấm khai thác ở các sân bay của Liên minh châu Âu do không đủ tiêu chuẩn an toàn.[67]

Nhân khẩu

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Nhân khẩu Cộng hòa Dân chủ Congo
Dân số CHDC Congo từ năm 1960 đến năm 2017

Dân số của Cộng hòa Dân chủ Congo ước tính là 115 triệu người tính đến năm 2024.[68] Từ năm 1950 đến năm 2000, dân số của Cộng hòa Dân chủ Congo tăng gấp bốn lần từ 12,2 triệu người lên 46,9 triệu người.[69] Từ năm 2000, tốc độ tăng trưởng dân số của Cộng hòa Dân chủ Congo đạt 3–3.5% mỗi năm.

   20 thành phố hoặc thị xã lớn nhất tại Cộng hòa Dân chủ Congo[70][71]
Hạng Tên Tỉnh Dân số
1 Kinshasa Kinshasa 15,628,000
2 Mbuji-Mayi Kasai-Oriental 2,765,000
3 Lubumbashi Haut-Katanga 2,695,000
4 Kisangani Tshopo 1,640,000
5 Kananga Kasaï-Central 1,593,000
6 Mbandaka Équateur 1,188,000
7 Bukavu South Kivu 1,190,000
8 Tshikapa Kasaï 1,024,000
9 Bunia Ituri 768,000
10 Goma North Kivu 707,000

Dân tộc

[sửa | sửa mã nguồn]

Hơn 250 dân tộc và 450 bộ lạc sinh sống tại Cộng hòa Dân chủ Congo, thuộc năm nhóm ngôn ngữ Bantu, Sudanic, Nilotic, Ubangian và Pygmy. Những dân tộc sau chiếm 51,5% dân số:[72]

Thành phần dân tộc tại Cộng hòa Dân chủ Congo
  • Luba-Kasaï
  • Kongo
  • Mongo
  • Lubakat
  • Lulua
  • Tetela
  • Nande
  • Ngbandi
  • Ngombe
  • Yaka
  • Ngbaka

Ngôn ngữ

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức[73] và được coi là lingua franca của Cộng hòa Dân chủ Congo. Năm 2018, 49 triệu người Congo (51% dân số) có thể đọc và viết tiếng Pháp.[74] Một cuộc khảo sát năm 2021 cho thấy 74% dân số có thể nói tiếng Pháp.[75]

Tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn] Tôn giáo tại CHDC Congo (2013)[76]
  1. Công giáo Roma (36,8%)
  2. Tin Lành (32,0%)
  3. Phi Cơ Đốc giáo (11,2%)
  4. Hồi giáo Sunni (6,00%)
  5. Hồi giáo Shia (1,20%)
  6. Hồi giáo Ahmadiyya (0,70%)
  7. Phi Hồi giáo (4,10%)
  8. Tín ngưỡng (3,00%)
  9. Khác (1,00%)
  10. Vô thần (4,00%)

Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất tại Cộng hòa Dân chủ Congo. Ước tính từ 95,8%[77] đến 95,9% dân số theo Kitô giáo.[68] Tỷ lệ dân số theo Hồi giáo ước tính từ 1%[78] đến 12%.[79]

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn] Bài chi tiết: Giáo dục tại Cộng hòa Dân chủ Congo

Năm 2014, tỷ lệ biết chữ của người từ 15 tuổi đến 49 tuổi ước tính là 75,9% (88,1% đối với nam và 63,8% đối với nữ).[80] Hệ thống giáo dục của CHDC Congo thuộc quản lý của ba bộ: Bộ Giáo dục tiểu học, trung học và chuyên nghiệp; Bộ Giáo dục đại học và sau đại học và Bộ Xã hội. Hệ thống giáo dục của CHDC Congo giống của Bỉ. Năm 2002, có hơn 19.000 trường tiểu học với 160.000 học sinh; và 8.000 trường trung học với 110.000 học sinh. Giáo dục tiểu học là miễn phí và bắt buộc (điều 43 của Hiến pháp Congo 2005).[81]

Tỉ lệ nhập học thô được tính dựa trên số học sinh đăng ký chính thức ở các trường tiểu học và sau đó không cần thiết phản ảnh qua số học sinh thực tế theo học.[82] Năm 2000, 65% trẻ ở độ tuổi 10-14 đã đi học.[82] Do ảnh hưởng của cuộc nội chiến 6 năm, hơn 5,2 triệu trẻ em ở quốc gia này phải thất học.[82]

Văn hóa

[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Zaire

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Freedom in the World 2018 – Congo, Democratic Republic of (Kinshasa)". Freedomhouse. Freedomhouse. ngày 4 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018.
  2. ^ a b Central Intelligence Agency (2014). "Democratic Republic of Congo". The World Factbook. Langley, Virginia: Central Intelligence Agency. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014.
  3. ^ "DR Congo Population (2025)". Worldometer.
  4. ^ a b c d "World Economic Outlook Database, April 2025 Edition". www.imf.org. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. ngày 22 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2025.
  5. ^ "GINI index coefficient". CIA Factbook. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2021.
  6. ^ "Human Development Report 2025" (PDF). Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc. ngày 6 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  7. ^ Van Reybrouck, David (2015). Congo: the epic history of a people. New York, NY: HarperCollins. tr. Chapter 1 and 2. ISBN 978-0-06-220012-9.
  8. ^ CIA World Factbook I, "Introduction".Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCIA_World_Factbook_I (trợ giúp)
  9. ^ "'I Will Not Leave This Place'". Global Press Journal (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2025.
  10. ^ Coghlan, Benjamin; và đồng nghiệp (2007). Mortality in the Democratic Republic of Congo: An ongoing crisis: Full 26-page report (PDF) (Báo cáo). tr. 26. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013.
  11. ^ Robinson, Simon (ngày 28 tháng 5 năm 2006). "The deadliest war in the world". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010.
  12. ^ Bavier, Joe (ngày 22 tháng 1 năm 2008). "Congo War driven crisis kills 45,000 a month". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010.
  13. ^ "Measuring Mortality in the Democratic Republic of Congo" (PDF). International Rescue Committee. 2007. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011.
  14. ^ "Conflict in the Democratic Republic of Congo". Council on Foreign Relations. ngày 11 tháng 2 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2025.
  15. ^ "Democratic Republic of Congo in Crisis | Human Rights Watch". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
  16. ^ Mwanamilongo, Saleh; Anna, Cara (ngày 24 tháng 1 năm 2019). "Congo's surprise new leader in 1st peaceful power transfer". Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2021.
  17. ^ "Congo rebels reach centre of eastern city in major escalation". Reuters. ngày 27 tháng 1 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
  18. ^ "Congo's M23 rebels reach Goma: what is behind the insurgency?". Reuters. ngày 27 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
  19. ^ Rolley, Sonia (ngày 4 tháng 7 năm 2024). "Army disarray hobbles Congo's fight with Rwanda-backed rebels, officers say". Reuters. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
  20. ^ "Rwanda and DR Congo sign US-brokered peace agreement in Washington, DC". France 24. ngày 27 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2025.
  21. ^ BBC. (9 October 2013). "DR Congo: Cursed by its natural wealth". BBC News website Lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2018 tại Wayback Machine Retrieved 9 December 2017.
  22. ^ Tshinu, G. M. (2022). Unpacking the resource curse and realism challenges on economic development in the Democratic Republic of Congo (DRC): Case of gecamines Lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2025 tại Wayback Machine. In Handbook of research on resource management and the struggle for water sustainability in Africa (pp. 318–336). IGI Global Scientific Publishing.
  23. ^ O'Neil, Patrick (2004). Essentials of Comparative Politics. New York, London: Norton. tr. 147. ISBN 978-0-393-97654-0.
  24. ^ "General Profile: Dem. Rep. of the Congo" (PDF). UN Trade and Development. 2023.
  25. ^ a b CIA World Factbook I, "Economy".Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCIA_World_Factbook_I (trợ giúp)
  26. ^ "UN list of least developed countries". UN Trade and Development. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2025.
  27. ^ CIA World Factbook I, People and Society.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCIA_World_Factbook_I (trợ giúp)
  28. ^ Robyn Dixon (ngày 12 tháng 4 năm 2018). "Violence is roiling the Democratic Republic of Congo. Some say it's a strategy to keep the president in power". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2018.
  29. ^ "Democratic Republic of the Congo: Internally displaced persons and returnees, April 2024 | OCHA". www.unocha.org (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2025.
  30. ^ "Lambertini, A Naturalist's Guide to the Tropics, excerpt". Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2008.
  31. ^ Clark, Jerome (1993) "Unexplained! 347 Strange Sightings, Incredible Occurrences, and Puzzling Physical Phenomena." Visible Ink Press, ISBN 0-8103-9436-7
  32. ^ Mackal, R. P. (1987) A Living Dinosaur? In Search of Mokele-Mbembe. E.J. Brill, ISBN 90-04-08543-2
  33. ^ Congo, episode 2 of 4 ("Spirits of the Forest")
  34. ^ CIA World Factbook I, "Government".Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCIA_World_Factbook_I (trợ giúp)
  35. ^ Constitution of the DRC, Article 69.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  36. ^ Constitution of the DRC, Article 70.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  37. ^ a b c Constitution of the DRC, Article 90.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  38. ^ Constitution of the DRC, Article 78.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  39. ^ Constitution of the DRC, Articles 101, 103.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  40. ^ Constitution of the DRC, Articles 104, 105.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  41. ^ Constitution of the DRC, Article 83.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  42. ^ Constitution of the DRC, Article 81.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  43. ^ Constitution of the DRC, Article 149.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  44. ^ Constitution of the DRC, Articles 160, 161.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  45. ^ Constitution of the DRC, Article 153.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  46. ^ Constitution of the DRC, Article 155.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFConstitution_of_the_DRC (trợ giúp)
  47. ^ "The National Assembly adopts the laws regarding the limits of the provinces in the Democratic Republic of the Congo (in French)". National Assembly of the Democratic Republic of the Congo. ngày 10 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2024.
  48. ^ "Constitution de la République Démocratique du Congo". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2006.
  49. ^ "Foreign travel advice – Democratic Republic of the Congo". Gov.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2023.
  50. ^ "UN expert on violence against women expresses serious concerns following visit to Democratic Republic of the Congo". UNOG.ch. ngày 30 tháng 7 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2008.
  51. ^ "GDP, current prices (PPP)". International Monetary Fund. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2025.
  52. ^ "General Profile: Dem. Rep. of the Congo" (PDF). UN Trade and Development. 2023.
  53. ^ a b c d "Democratic Rep. of Congo" (PDF). World Bank. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2025.
  54. ^ "Democratic Republic of the Congo – Market Overview". International Trade Administration. ngày 14 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2025.
  55. ^ a b Kuwonu, Franck (August–November 2016). "DRC economy: The giant awakens". Africa Renewal. United Nations. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2017.
  56. ^ Damania và đồng nghiệp 2016, tr. 17.Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFDamaniaBarraBurnoufRuss2016 (trợ giúp)
  57. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :1
  58. ^ "The World Bank in DRC". World Bank Group. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2025.
  59. ^ "Dublin". Research and Markets. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010.
  60. ^ Elle "pouvait se prévaloir Lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2009 tại Wayback Machine
  61. ^ "Cobalt: World Mine Production, By Country". Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2008.
  62. ^ "DR Congo poll crucial for Africa" BBC News. ngày 16 tháng 11 năm 2006.
  63. ^ Polgreen, Lydia (ngày 16 tháng 11 năm 2008). "Congo's Riches, Looted by Renegade Troops, New York Times, 11/15/08". The New York Times. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2010.
  64. ^ What is happening in the Congo? Lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2011 tại Wayback Machine Unwatchable - documentary film
  65. ^ "Katanga Project Update and 2Q 2008 Financials, Katanga Mining Limited, 8/12/08". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012.
  66. ^ John Vandiver. "DR Congo economic and strategic significance". Stripes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010.
  67. ^ List of airlines banned within the EU – Official EC list, updated 2011-04-20. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2011
  68. ^ a b CIA World Factbook I, "People and Society".Lỗi sfn: không có mục tiêu: CITEREFCIA_World_Factbook_I (trợ giúp)
  69. ^ "Democratic Republic of the Congo Demographic Trends". Open Data for Africa. UN, Department of Economic and Social Affairs, Population Division. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2023.
  70. ^ "The World Factbook: Africa – Congo, Democratic Republic of the". The World Factbook. CIA. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2016.
  71. ^ "Africa Population (2022)". populationstat.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2022.
  72. ^ "Democratic Republic of the Congo in Crisis | Human Rights Watch". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
  73. ^ "Evidence from the Democratic Republic of Congo" (PDF). IDRC CRDI. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2024.
  74. ^ La langue française dans le monde Lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, Éditions Gallimard, Organisation internationale de la Francophonie
  75. ^ "Target Survey: French, the most spoken language in DRC, far ahead of Lingala". ngày 10 tháng 7 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2022.
  76. ^ "Pew Forum on Religion & Public Life / Islam and Christianity in Sub-Saharan Africa" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2018.
  77. ^ "Global Religious Landscape". Pew Forum. ngày 18 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  78. ^ "Democratic Republic of the Congo Demographic Trends". Open Data for Africa. UN, Department of Economic and Social Affairs, Population Division. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2023.
  79. ^ "Pew Forum on Religion & Public Life / Islam and Christianity in Sub-Saharan Africa" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015.
  80. ^ Ministère du Plan et Suivi de la Mise en oeuvre de la Révolution de la Modernité (MPSMRM); Ministère de la Santé Publique (MSP); ICF International. Enquête Démographique et de Santé en République Démocratique du Congo 2013–2014 (PDF). tr. 41–3. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2015.
  81. ^ Constitution de la République démocratique du Congo - Wikisource
  82. ^ a b c "Congo, Democratic Republic of the." 2005 Findings on the Worst Forms of Child Labor Lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine. Bureau of International Labor Affairs, Hoa Kỳ Department of Labor (2006). This article incorporates text from this source, which is in the public domain.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn] Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và phương tiện về Cộng hòa Dân chủ Congo.
  • CIA World Factbook - Democratic Republic of the Congo Lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2000 tại Wayback Machine
  • Hướng dẫn du lịch Cộng hòa Dân chủ Congo từ Wikivoyage
  • Wikimedia Atlas của the Democratic Republic of the Congo (bằng tiếng Anh)
  • Dữ liệu địa lý liên quan đến Cộng hòa Dân chủ Congo tại OpenStreetMap
  • x
  • t
  • s
Các quốc gia và lãnh thổ tại Châu Phi
Quốc gia có chủ quyền
  • Ai Cập
  • Algérie
  • Angola
  • Bénin
  • Botswana
  • Bờ Biển Ngà
  • Burkina Faso
  • Burundi
  • Cameroon
  • Cabo Verde
  • Comoros
  • Cộng hòa Dân chủ Congo
  • Cộng hòa Congo
  • Djibouti
  • Guinea Xích Đạo
  • Eritrea
  • Eswatini
  • Ethiopia
  • Gabon
  • Gambia
  • Ghana
  • Guinée
  • Guiné-Bissau
  • Kenya
  • Lesotho
  • Liberia
  • Libya
  • Madagascar
  • Malawi
  • Mali
  • Mauritanie
  • Mauritius
  • Maroc
  • Mozambique
  • Namibia
  • Cộng hòa Nam Phi
  • Nam Sudan
  • Niger
  • Nigeria
  • Rwanda
  • São Tomé và Príncipe
  • Sénégal
  • Seychelles
  • Sierra Leone
  • Somalia
  • Sudan
  • Tanzania
  • Tchad
  • Togo
  • Cộng hòa Trung Phi
  • Tunisia
  • Uganda
  • Zambia
  • Zimbabwe
Bộ phận củaquốc gia có chủ quyền
  • Bồ Đào Nha
    • Madeira
  • Pháp
    • Mayotte
    • Réunion
  • Tây Ban Nha
    • Quần đảo Canaria
    • Ceuta
    • Melilla
    • Plazas de soberanía
  • Yemen
    • Socotra
  • Ý
    • Pantelleria
Quốc gia được công nhận hạn chế
  • Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Sahrawi
  • Somaliland
Lãnh thổ phụ thuộc
  • Các đảo rải rác tại Ấn Độ Dương (Pháp)
  • Saint Helena, Ascension và Tristan da Cunha (Anh Quốc)
Chủ quyền không rõ
  • Tây Sahara
Cơ sở dữ liệu tiêu đề chuẩn Sửa dữ liệu tại Wikidata
Quốc tế
  • ISNI
  • VIAF
  • GND
  • FAST
  • WorldCat
Quốc gia
  • Hoa Kỳ
  • Pháp
  • BnF data
  • Nhật Bản
  • Cộng hòa Séc
  • Latvia
  • Thụy Điển
  • Israel
Địa lý
  • MusicBrainz area
Nghệ sĩ
  • KulturNav
Nhân vật
  • UK Parliament
Khác
  • IdRef
    • 2
  • Từ điển lịch sử Thụy Sĩ
  • NARA
  • Encyclopedia of Modern Ukraine
  • İslâm Ansiklopedisi
  • Yale LUX

Từ khóa » Công Gô